1
ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Ở nước ta, hệ thống ĐDT là cấp quản lý đầu tiên của bệnh viện. ĐDT
chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các y lệnh của thầy thuốc, quản lý
nguồn lực và hành chính khoa. Chất lượng chăm sóc, phục vụ người bệnh,
sử dụng nguồn lực có hiệu quả phụ thuộc đáng kể của hệ thống ĐDT.
Theo điều tra năm 2007 của Hội Điều dưỡng Việt Nam, ĐDT nói chung có
trình độ chuyên môn trung cấp chiếm 84,8 %, Cao đẳng 7,2 %, Đại học
7,8% và sau đại học là 0,2 %. Được đào tạo quản lý điều dưỡng chiếm tỷ
lệ 37,8 %, hiệu quả công tác lãnh đạo điều hành, tham gia hoạt động đào
tạo, hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn chỉ thực hiện tốt 33,7 % [42], [43].
Ở Nghệ An (2008), số lượng Điều dưỡng trưởng có hơn 400 người,
trình độ chuyên môn trung cấp chiếm 91,9%; cao đẳng 8,1%; đã qua đào
tạo về quản lý điều dưỡng chiếm 19,2% [71], [95]. Trong những năm qua,
Nghệ An đã từng bước củng cố và hoàn thiện hệ thống quản lý điều
dưỡng. Tuy nhiên trên thực tế đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, đó là
trình độ chuyên môn thấp, năng lực quản lý chưa hiệu quả, hệ thống quản
lý nhiều bất cập, đã và đang gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng
chăm sóc người bệnh.
Trước những thách thức trong khám chữa bệnh, quá tải bệnh viện
làm tăng tình trạng thiếu nhân lực điều dưỡng, hạn chế về trình độ là rào
cản trong CSNBTD. Điều này thấy vai trò, trách nhiệm của người ĐDT trở
nên rất quan trọng trong việc lập kế hoạch, điều phối công việc. Luận án là
chìa khóa tháo gỡ cho những thách thức trên, càng trở nên cấp thiết và rất
có ý nghĩa thực tiễn.
Xuất phát từ yêu cầu trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
Thực trạng và hiệu quả can thiệp nâng cao năng lực Điều dưỡng
trưởng tại tỉnh Nghệ An với các mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến năng lực Điều dưỡng
- Năng lực quản lý điều dưỡng (QLĐD) được thể hiện trên các mặt
kiến thức, thực hành và thái độ: người điều dưỡng trưởng khoa (ĐDTK)
vừa có trình chuyên môn kỹ thuật giỏi, vừa có trình độ quản lý tốt và thái
độ nghiêm túc, trách nhiệm trước hành động. Tuy nhiên, việc áp dụng
công cụ hệ thống quản lý chất lượng, ưu việt hỗ trợ cho người quản lý sẽ
làm tăng hiệu quả quản lý [46], [47], [74], [91].
1.2. Năng lực quản lý điều dưỡng:
1.2.1 Các kỹ năng đánh giá năng lực quản lý Điều dưỡng:
Dựa vào kiến thức hiểu biết và thực hành các kỹ năng QLĐD, gồm 16
kỹ năng sau [16], [14], [20], [30], [40], [95]: Tổ chức chăm sóc người bệnh
toàn diện; Chỉ đạo công tác vệ sinh; Quản lý nhân lực; Quản lý tài sản - Vật
tư; Tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học; Lập kế hoạch; Tổ chức thực
hiện kế hoạch; Đánh giá; Giám sát hỗ trợ; Ứng dụng công nghệ thông tin;
Ra quyết định; Giải quyết vấn đề; Tổ chức cuộc họp; Quản lý thời gian; Văn
bản hành chính và cách soạn thảo công văn và Quản lý hồ sơ.
1.2.2 Phương thức đánh giá năng lực QLĐD:
- Đánh giá định kỳ, thường xuyên. - Đánh giá đột xuất; - Đánh giá
định kỳ xen kẽ đột xuất [6], [10], [11], [39], [95].
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý Điều dưỡng:
Những yếu tố tác động đến năng lực điều dưỡng, gồm:
- Trình độ chuyên môn ĐD còn thấp [127], [129].
- Công tác hành chính, giấy tờ của điều dưỡng chiếm tỷ lệ thời gian
tương đương với thời gian trực tiếp chăm sóc người bệnh (CSNB) (28%).
Trong khi đó mỗi hoạt động, công tác chưa có bảng hướng dẫn, qui trình
công việc để giúp cho quản lý bài bản, thống nhất [94].
3
- Nhận thức của cán bộ, sự tự ty, an phận của nhân viên y tế về người
ĐD cũng phần nào ảnh hưởng tới hoạt động quản lý và mức độ bao phủ và
mở rộng chăm sóc người bệnh toàn diện (CSNBTD) tại các bệnh viện. Sự
lực ĐDT bệnh viện tuyến TW và tỉnh năm 2007 cho thấy: Đã đào tạo về
QLĐD là 63.3%. Thực hiện chức trách nhiệm vụ: Tổ chức, chỉ đạo thực
hiện CSNBTD: tốt 72,3%; trung bình (TB) 22,1%; kém 4,1%; không làm
1,5%. Đôn đốc, kiểm tra thực hiện đúng qui trình kỹ thuật và qui chế bệnh
viện: tốt 90,0%; TB 3,2%; kém 5,2%; không làm 1,5%. Tổ chức đào tạo và
nâng cao trình độ: tốt 62,4%; TB 22,5%; kém 9,2%; không làm 5,9%.
Tham gia hướng dẫn thực hành cho HS-SV: tốt 35,8%; TB 31,4%; kém
26,6%; không làm 6,3%. Lập kế hoạch mua sắm, kiểm tra sử dụng, bảo
quản: tốt 48,0%; TB 31,4%; kém 26,6%; không làm 6,6%. Kiểm tra công
4
tác vệ sinh, chống nhiễm khuẩn: tốt 88,2%; TB 5,5%; kém 5,2%; không
làm 1,1%. Tham gia công tác tổ chức, tuyển dụng: tốt 60,5%; TB 24,0%;
kém 12,5%; không làm 3,0%. Tham gia NCKH: tốt 38,0%; TB 22,1%;
kém 34,7%; không làm 5,2%. Tham gia chỉ đạo tuyến: tốt 45,8%; TB
20,3%; kém 22,8%; không làm 5,2%. Định kỳ sơ kết, tổng kết: tốt 62,0%;
TB 27,5%; kém 8,0%; không làm 2,5%. Tham gia đề xuất các ý kiến liên
quan CSĐD: tốt 77,9%; TB 17,0%; kém 4,1%; không làm 1,1%.
Theo nghiên cứu của Đỗ Đình Xuân (2007) [107], cho thấy cả nước
có 6.787 ĐDT đang làm việc tại các bệnh viện công lập trong cả nước,
trong đó: ĐD chiếm 78,4%, HS chiếm 7,4%, Kỹ thuật Y học là 8,2%, còn
6,0% ĐDT không có trình độ chuyên ngành là ĐD tham gia QLĐD (y sĩ,
dược sĩ). Về thực trạng năng lực của đội ngũ ĐDTK: 84% ĐDTK tự đánh
giá có khả năng hoàn thành từ mức khá trở lên ở các nội dung: tổ chức
CSNB; chỉ đạo công tác vệ sinh khoa, phòng; quản lý nhân lực; quản lý tài
sản vật tư. Chỉ có 54,5% ĐDTK đã tham dự các khoá học về quản lý.
Tham gia đào tạo, NCKH và chỉ đạo tuyến, có 61,40% đạt từ loại khá trở
lên, đặc biệt, có tới 20,20% ĐDTK yếu trong công tác tham gia NCKH.
Thực hiện yếu hoặc không tổ chức các buổi sinh hoạt khoa học chiếm
24,40%. Vẫn còn 21,10% ĐDTK đạt ở mức trung bình trở xuống trong
[71]. Kết quả khảo sát của Nguyễn Thị Ngọc (năm 2005) tại bệnh viện đa
khoa khu vực Thống Nhất, Đồng Nai, tỷ lệ hài lòng trung bình chiếm
45,3% chủ yếu chưa hài lòng về hướng dẫn, giải thích, giáo dục sức khoẻ
chưa chu đáo [64]. Nghiên cứu Hoàng Thu Nga cho rằng: tỷ lệ hài lòng về
tinh thần thái độ phục vụ 87,8%; hướng dẫn khi nằm viện 87,1%; chế độ vệ
sinh 84,8%; cơ sở vật chất, TTB 80,1%; an ninh trật tự 62,9% và chuyên
môn là 93,7% [63].
1.3.3 Ở Nghệ An:
Nghiên cứu năm 2009, đội ngũ ĐD, HS tại Nghệ An có 1.735 cán bộ,
chủ yếu là nữ chiếm 84,5%. Trong đó trình độ ĐH, CĐ là 11,7%, có trình
độ A ngoại ngữ là 12,3%, tin học văn phòng chiếm 24,8%, được tập huấn
QLĐD là 38,5% [72].
Theo khảo sát năm 2008 trên địa bàn Thành phố Vinh cho thấy: ĐDT
có trình độ TC chiếm 91,9%; độ tuổi TB từ 35 - 55 chiếm 78,8%; chưa
được tập huấn về QLĐD chiếm 76,8%, có khả năng về tin học văn phòng
và trình độ A ngoại ngữ chiếm 54,5 - 62,6% [96].
Trong những năm qua, mặc dầu đã có nhiều chuyển biến tích cực
trong lĩnh vực ĐD, CSNB ở Nghệ An. Tuy nhiên, các NCKH điều dưỡng
còn nhiều hạn chế do lực lượng ĐD, HS và KTV chủ yếu là trình độ TC, sự
hiểu biết về thiết kế nghiên cứu, phương pháp NCKH còn yếu. Các đề tài
chủ yếu sử dụng phương pháp mô tả, mang tính tổng kết, báo cáo, rất ít đề
tài nghiên cứu phân tích, nội dung chủ yếu tập trung vào khảo sát nhân lực,
thực hiện qui trình kỹ thuật điều dưỡng, tìm hiểu thái độ phục vụ người
bệnh. Đặc biệt nghiên cứu can thiệp về năng lực ĐDT chưa có đề tài nào.
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Điều dưỡng trưởng đang công tác tại bệnh viện trên địa bàn Nghệ An.
- Cán bộ lãnh đạo khoa, bệnh viện nghiên cứu.
Tổng số ĐDT cần cho nghiên cứu là 100 (nhóm can thiệp 100 và
nhóm chứng 100).
2.4.4 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu:
2.4.4.1 Nghiên cứu mô tả cắt ngang:
- Đối với Điều dưỡng trưởng:
Chọn toàn bộ ĐDT đang đương chức tại 40 bệnh viện công lập,
ngoài công lập trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Đối với bệnh nhân nội trú: Chọn mẫu 02 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Chia các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện thành 2 vùng
sinh thái (thuận lợi và khó khăn).
- Giai đoạn 2: Mỗi vùng sinh thái chọn ngẫu nhiên theo tỷ lệ, khó
khăn 3/12 bệnh viện và thuận lợi 7/28 bệnh viện để tiến hành điều tra, mỗi
bệnh viện điều tra 40 bệnh nhân.
2.4.4.2 Nghiên cứu định tính:
Chủ định chọn 8 bệnh viện nghiên cứu trên: Phỏng vấn sâu 8 Giám
đốc/phó giám đốc. Tổ chức thảo luận 2 nhóm, mỗi nhóm 8 Trưởng hoặc
Phó khoa [84].
2.4.4.3 Nghiên cứu can thiệp:
Bước 1: Chọn địa điểm nghiên cứu: chọn 21 bệnh viện/32 bệnh viện công
lập phân ngẫu nhiên nhóm can thiệp và nhóm chứng.
7
Bước 2: Đánh giá trước can thiệp: Tiến hành đánh giá Năng lực của ĐDT;
Các chỉ số hiệu quả trước can thiệp:
Bước 3: Triển khai các giải pháp can thiệp nhằm nâng cao năng lực của ĐDT:
* Xây dựng kế hoạch thực hiện, giám sát và đánh giá;
* Tiến hành cung cấp dịch vụ và theo dõi dọc các chỉ tiêu nghiên cứu
trong suốt thời gian can thiệp là 02 năm (24 tháng):
- Triển khai các giải pháp đào tạo về Quản lý Điều dưỡng [17],
[106]: Chương trình đào tạo: do Bộ Y tế ban hành kèm theo văn bản số
p
)/
tct
p
x 100%
+ Chỉ số hiệu quả nhóm chứng = (
sc
p
-
tc
p
)/
tc
p
x 100%
+ Hiệu quả can thiệp = CSHQ nhóm can thiệp – CSHQ nhóm chứng
Trong đó: CSHQ: Chỉ số hiệu quả;
tct
p
: Chỉ số nghiên cứu trước can thiệp
của nhóm can thiệp;
sct
p
: Chỉ số nghiên cứu sau can thiệp của nhóm can
thiệp;
tc
p
: Chỉ số nghiên cứu trước can thiệp của nhóm chứng;
sc
p
Phân loại kiến thức quản lý Điều dưỡng trưởng theo trình độ chuyên
môn: kết quả cho thấy Trong 412 ĐDT, tỷ lệ kiến thức quản lý chung xếp
loại khá, tốt chiếm 72,5%; ở nhóm trình độ từ CĐ trở lên chiếm 26,4%,
nhóm TC là 46,1%. Theo tuyến tỉnh và huyện: tỷ lệ kiến thức quản lý
chung xếp loại khá, tốt ở nhóm tuyến tỉnh là 29,4% (
x
= 65,43), nhóm
tuyến huyện là 43,2% (
x
= 64,32). Theo bệnh viện công lập và ngoài công
lập: tỷ lệ kiến thức quản lý chung xếp loại khá, tốt ở nhóm công lập là
65,1% (
x
= 66,22), nhóm ngoài công lập là 7,5% (
x
= 57,16). Theo vùng
khó khăn, thuận lợi: tỷ lệ kiến thức quản lý chung xếp loại khá, tốt ở vùng
khó khăn là 23,5%, thuận lợi là 49,0%.
Điểm trung bình kiến thức quản lý chung theo trình độ chuyên môn:
của 153 ĐDT có trình độ CĐ trở lên là 65,36 (Độ lệch chuẩn = 15,2), của
259 ĐDT trình độ TC là 64,73 (Độ lệch chuẩn = 15,7). Kết quả cho thấy ở
trình độ CĐ trở lên cao hơn TC là 0.63 với khoảng tin cậy 95% là (- 2.49
đến 3.74). Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,693. Theo
tuyến tỉnh và huyện: Điểm trung bình kiến thức quản lý chung của 173
ĐDT tuyến tỉnh là 64,32 (Độ lệch chuẩn = 15,2), của 239 ĐDT tuyến huyện
là 65,43 (Độ lệch chuẩn = 15,8). Kết quả cho thấy tuyến tỉnh thấp hơn tuyến
huyện là 1,10 với khoảng tin cậy 95% là (- 4.16 đến 1.94). Sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê với p = 0,476. Theo công lập, ngoài công lập:
Điểm TBC kiến thức quản lý của 355 ĐDT công lập là 66,22 (Độ lệch
chuẩn = 14,7), của 57 ĐDT ngoài công lập là 57,16 (Độ lệch chuẩn = 18,3).
quản lý của 355 ĐDT nhóm công lập là 65,39 (Độ lệch chuẩn = 16,9), của
57 ĐDT nhóm ngoài công lập là 58,77 (Độ lệch chuẩn = 13,4). Kết quả
cho thấy nhóm công lập cao hơn nhóm ngoài công lập là 6,62 với khoảng
tin cậy 95% là (2,66 đến 10,58). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với
p = 0,001. Theo vùng khó khăn, thuận lợi: Điểm TBC thực hành quản lý
của 121 ĐDT vùng khó khăn là 63,21 (Độ lệch chuẩn = 17,79), của 291
ĐDT vùng thuận lợi là 65,01 (Độ lệch chuẩn = 16,04). Kết quả cho thấy
vùng khó khăn thấp hơn vùng thuận lợi là 1,80 với khoảng tin cậy 95% là
(- 5.49 đến 1.89). Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p =
0,337. Kết quả về phân loại Năng lực quản lý Điều dưỡng trưởng cho thấy
tỷ lệ khá, tốt kiến thức quản lý chung chiến 72,6%;
x
= 64,97 (Std: 15,5);
Tỷ lệ khá, tốt TH quản lý chung chiến 0%, TB chiếm 36,6%; x = 64,48
(Std: 16,6); Năng lực quản lý khá chiếm 13,8%, chủ yếu là TB (67,7%);
x
= 129,44 (Std: 23,2).
3.1.2.4 Đánh giá sự hài lòng của người bệnh về ĐDT:
Đánh giá người bệnh hài lòng, rất hài lòng với năng lực ĐDT ở mức
độ cao. Tuy nhiên vẫn còn không hài lòng, rất không hài lòng về Thực
hiện chuyên môn có kế hoạch và hiệu quả 25,6%; Lời nói 23,6%; Cử chỉ
23,5%; Thủ tục khám và nhập viện 23,1%.
3.1.2.5 Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực ĐDT:
Các yếu tố có liên quan đến năng lực quản lý của ĐDT trong mô hình đơn
biến: Những ĐDT trả lời có được hỗ trợ các yếu tố thì năng lực quản lý
10
điều dưỡng cao hơn những ĐDT không có sự hỗ trợ này: Bảng hướng dẫn,
phác đồ (1,98 lần); Quy trình công việc (0,28 lần); Thảo luận với đồng
Quy trình công vi
ệc
0,29
0,13
0,63
p = 0,002
Th
ảo luận với đồng nghiệp
1,65
0,80
3,42
p = 0,177
Đào t
ạo lại
1,32
0,67
khái niệm, nội dung các qui trình hoạt động quản lý. Các ý kiến của nhà
quản lý bệnh viện đều nhận xét tích cực hơn.
Nhìn chung, đánh giá về kiến thức quản lý của ĐDT đã được các nhà
quản lý bệnh viện/khoa nhìn nhận tốt, công việc được giao hoàn thành chất
11
lượng hơn. Như vậy, đánh giá hoạt động can thiệp mang lại hiệu quả bước
đầu góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh.
3.2.3 Thực hành các kỹ năng quản lý ĐDT:
Đánh giá Thực hành quản lý Điều dưỡng trưởng: Trước can thiệp
đánh giá thực hành quản lý Điều dưỡng trưởng giữa hai nhóm can thiệp
(tốt, khá 5,7%) và chứng (tốt, khá 7,5%) không có sự khác biệt với p >
0,05. Sau can thiệp Thực hành quản lý ĐDT của nhóm can thiệp (tốt, khá
41,5%) cao hơn nhóm chứng (tốt, khá 4,8%), sự khác biệt có ý nghĩa thông
kê với p < 0,001. CSHQ nhóm can thiệp= 630%; CSHQ nhóm chứng = -
40%; HQ can thiệp = 670%. Như vậy can thiệp có hiệu quả.
Các ý kiến phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cũng xoay quanh nhận
xét về kỹ năng quản lý điều dưỡng của ĐDT được cải thiện rõ rệt. Như
vậy, về kỹ năng quản lý của ĐDT đã được các nhà quản lý bệnh viện/khoa
đánh giá cao, có sự cải thiện rõ rệt về chất lượng và hiệu quả công tác
chăm sóc người bệnh.
3.2.4 Năng lực quản lý Điều dưỡng trưởng:
Bảng 3.16: Đánh giá năng lực quản lý Điều dưỡng trưởng:
Năng lực
quản lý
Trước can thiệp Sau can thiệp
Nhóm
112
Tỷ
lệ
%
Kiến
thức
Tốt 7
3,1
6
2,6
0,765
63
27,5
11
4,8
0,000
Khá 10
4,4
51
22,3
54
23,6
2
0,9
13
5,7
Thực
hành
Tốt 5
2,2
7
3,1
0,060
46
21,8
20
8,7
89
38,9
Kém
68
29,7
45
19,7
2
0,9
12
5,2
Đánh
5,7
45
19,7
11
4,8
TB 48
21,0
37
16,2
8
3,5
84
36,7
Kém
61
nhiệm và lương tâm nghề nghiệp của đội ngũ ĐDV. Như vậy, để nâng cao
năng lực quản lý điều dưỡng việc đào tạo nâng cao, huấn luyện, cập nhật
kiến thức, kỹ năng, tuyên truyền phổ biến về y đức cho đội ngũ ĐDV là
cần thiết.
3.2.5 Hồ sơ, biểu mẫu quản lý Điều dưỡng:
Kết quả nghiên cứu trước can thiệp thực trạng hồ sơ, biểu mẫu
QLĐD của nhóm can thiệp (tốt, khá chiếm 20,5%), nhóm chứng (tốt, khá
là 20,1%), sự khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê với p >
0,05. Sau can thiệp thực trạng hồ sơ, biểu mẫu QLĐD của nhóm can thiệp
(tốt, khá chiếm 44,1%) cao hơn nhóm chứng (tốt, khá là 22,8%), sự khác
biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
CSHQ nhóm can thiệp = 120%; CSHQ nhóm chứng = 10%; HQ can thiệp
= 110% → Can thiệp có hiệu quả.
Về tình trạng lưu trữ, các nhà quản lý bệnh viện cho rằng thực trạng
công tác lưu trữ lộn xộn, không khoa học, việc phân loại danh mục, thời
gian hồ sơ giúp cho việc quản lý, tìm kiếm, tra cứu khi cần đang gặp rất
nhiều khó khăn. Để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng công tác khám
chữa bệnh, cần phải có giải pháp phù hợp, khoa học, an toàn, chất lượng,
hiệu quả trong công tác hồ sơ, biểu mẫu quản lý.
3.2.7 Sự hài lòng của người bệnh:
Trước can thiệp, sự hài lòng của người bệnh đối với ĐDT giữa hai
nhóm can thiệp và chứng: có sự khác biệt (Về cử chỉ; Đáp ứng ngay;
Thăm hỏi, ĐV; Kiến thức CM; Kỹ thuật CM; Thủ tục khám và nhập viên;
Thực hiện CM có KH và hiệu quả với p < 0,05); không có sự khác biệt (Về
lời nói; Tư vấn, GDSK; Cách bố trí công việc CS, điều trị với p > 0,05).
Sau can thiệp, sự hài lòng của người bệnh đối với ĐDT nhóm can thiệp
cao hơn nhóm chứng; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. 13
412 ĐDT (Bảng 3.2), kết quả ở nhóm trình độ từ CĐ trở lên tỷ lệ kiến thức
quản lý xếp loại khá, tốt (26,4%), nhóm TC (46,1%). Điểm TBC kiến thức
quản lý (Biểu đồ 3.1) của 153 ĐDT có trình độ CĐ trở lên là 65,36, của
259 ĐDT trình độ TC là 64,73. Kết quả cho thấy Điểm TBC kiến thức của
ĐDT có trình độ CĐ trở lên cao hơn TC là 0.63 với khoảng tin cậy 95% là
(- 2.49 đến 3.74). Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p =
0,693. Giữa hai nhóm theo trình độ chuyên môn này không có sự khác
nhau về kiến thức là do chưa được tập huấn, làm quen với các kỹ năng
quản lý điều dưỡng. Vì vậy, kiến thức quản lý không phụ thuộc vào trình
độ chuyên môn. Do đó triển khai kế hoạch đào tạo QLĐD là vấn đề hết
sức quan trọng, cần thiết.
Kiến thức quản lý theo Tuyến tỉnh và huyện (Bảng 3.3), tỷ lệ kiến
thức quản lý chung xếp loại khá, tốt ở nhóm tuyến tỉnh là 29,4%, tuyến
14
huyện là 43,2%. Điểm TBC kiến thức quản lý (Biểu đồ 3.2) của 173 ĐDT
tuyến tỉnh là 65,43; của 239 ĐDT tuyến huyện là 64,32. Kết quả cho thấy
Điểm TBC kiến thức quản lý của ĐDT tuyến tỉnh cao hơn tuyến huyện là
1,10 với khoảng tin cậy 95% là (- 4.16 đến 1.94). Sự khác biệt này không
có ý nghĩa thống kê với p = 0,476. So sánh kiến thức giữa hai tuyến tỉnh và
huyện, thoạt nhìn có thể cho rằng tuyến tỉnh sẽ có kiến thức cao hơn tuyến
huyện nhưng trong nghiên cứu của chúng tôi thì không có sự khác biệt
giữa hai nhóm theo tuyến. Lý do giải thích cho vấn đề ngày là chưa được
tập huấn về QLĐD còn cao (74,3%).
Tại Bảng 3.4 kết quả cho thấy tỷ lệ kiến thức quản lý chung xếp loại
khá, tốt ở nhóm công lập là 65,1%, nhóm ngoài công lập là 7,5%. Điểm
TBC kiến thức quản lý chung (Biểu đồ 3.3) của 355 ĐDT công lập là
66,22; của 57 ĐDT ngoài công lập là 57,16. Kết quả cho thấy Điểm TBC
kiến thức quản lý của ĐDT công lập cao hơn ngoài công lập là 9,06 với
chúng tôi là phỏng vấn trực tiếp, các nghiên cứu khác là phát vấn, nên kết
quả nghiên cứu có phần khác nhau. Về vùng thuận lợi điểm trung bình
kiến thức chung thấp hơn so với vùng khó khăn là do phương án chia
vùng. Vì vậy kết quả kiến thức chung phản ảnh thực tế là phù hợp.
Qua kết quả nghiên cứu đã nói lên rằng về kiến thức quản lý đội ngũ
ĐDT tại Nghệ An còn thấp hơn so với mặt bằng chung cả nước. Để nâng
cao chất lượng quản lý nói riêng, chất lượng dịch vụ y tế nói chung, ngành
y tế cần phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về QLĐD. Mặt
khác công tác qui hoạch cán bộ quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm cần xem
xét, căn cứ vào chứng chỉ đào tạo QLĐD.
4.1.2 Thực hành quản lý Điều dưỡng trưởng:
Kết quả nghiên cứu bảng 3.6 cho rằng tỷ lệ xếp loại khá về thực hành
CSNB là 40,3%; CTVS (35,7%); QLTS (33,0%); ĐT-NCKH (2,9%);
QLNL (3,5%); tỷ lệ THC xếp loại TB chiếm 36,7%, kém (63,3%).
Trong 412 ĐDT, tỷ lệ thực hành quản lý chung xếp loại khá, tốt
(0%), TB chiếm 36,7%. Điểm TBC thực hành quản lý (Biểu đồ 3.5) của
nhóm trình độ từ CĐ trở lên là 64,4; nhóm TC là 64,5. Nhóm trình độ CĐ
trở lên và TC là gần tương đương nhau với khoảng tin cậy 95% là (-3.51
đến 3,28). Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,945. Như
vậy, đánh giá thực hành quản lý của ĐDT cũng cho kết quả tương tự như
kiến thức quản lý. Không có sự khác biệt giữa hai nhóm theo trình độ
chuyên môn.
Về phân loại thực hành theo tuyến tỉnh và huyện, nghiên cứu tại bảng
3.7 chỉ ra rằng tỷ lệ thực hành quản lý chung xếp loại TB ở nhóm tuyến
tỉnh là 19,7%, nhóm tuyến huyện là 17,0%. Điểm TBC thực hành quản lý
(Biểu đồ 3.6) của tuyến tỉnh là 69,78, tuyến huyện là 60,64. Tuyến tỉnh cao
hơn tuyến huyện là 9,14 với khoảng tin cậy 95% là (6,01 đến 12,27). Sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,0001. Sự khác biệt này có thể
giải thích là đội ngũ ĐDT ở tuyến tỉnh mặc dù chưa được đào tạo QLĐD
chiếm 19,8%, TB (65,5%), vẫn còn kém (14,6%) với điểm trung bình
chung năng lực là
x
= 129,44 (Std: 23,2).
So với một số nghiên cứu như Phạm Đức Mục (2007) [59], Đỗ Đình
Xuân (2007) [107]; Nguyễn Thị Như Tú [93] và một số nghiên cứu khác,
chúng tôi chưa có cơ sở để so sánh. Bởi vì, các nghiên cứu năng lực
QLĐD chủ yếu dựa trên đánh giá trình độ chuyên ngành đào tạo, tin học,
ngoại ngữ và một số qui trình kỹ thuật ĐD, có đề cập đến kiến thức, kỹ
năng của qui trình quản lý, nhưng chưa đầy đủ so với qui định trong
chương trình đào tạo QLĐD [16] và chức năng, nhiệm vụ của ĐDT [23].
Phương pháp thu thập thông tin cũng khác, chủ yếu dựa vào phát vấn,
phỏng vấn sâu. Trong khi đó nghiên cứu của chúng tôi sử dụng bảng kiểm
đánh giá kết quả thực hành thông qua quan sát trực tiếp hoặc gián tiếp thực
hành quản lý; kết hợp thu thập thông tin qua hồ sơ, sổ sách, biểu mẫu quản
lý lưu trữ. Chúng tôi thấy phân loại thực hành của ĐDT ở mức độ thấp,
không có loại khá, tốt. Điều này có thể hiểu do ĐDT được đào tạo QLĐD
chiếm tỷ lệ thấp (25,7%). Các hoạt động quản lý hàng ngày được thực hiện
theo kinh nghiệm. Vì vậy, đội ngũ ĐDT cần được đào tạo một cách bài
bản về QLĐD, trước khi bổ nhiệm phải có tiêu chuẩn căn cứ là chứng chỉ
QLĐD. Đồng thời tăng cường củng cố, phát triển công tác lưu trữ, hồ sơ,
biểu mẫu quản lý.
4.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý Điều dưỡng trưởng:
Kết quả nghiên cứu cho rằng có mối liên quan khác biệt giữa năng
lực quản lý ĐDT với Bảng hướng dẫn, phác đồ (
2
= 1,98; p = 0,05); Qui
trình công việc (
2
= 0,28; p = 0,01); Thảo luận với đồng nghiệp (
giới, trang thiết bị và điều kiện làm việc, sự phối hợp của gia đình người
bệnh và thầy thuốc cũng như sự quá tải công việc được coi là các yếu tố
có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực quản lý của ĐDTK.
Theo Nguyễn Thị Như Tú (năm 2007) [93], yếu tố làm ảnh hưởng
đến năng lực quản lý ĐDT như lãnh đạo xem nhẹ công tác CSNB, mất cân
đối về số lượng bệnh nhân và nhân lực điều dưỡng; trình độ chuyên môn
yếu, thấp; không được tham gia Hội đồng khen thưởng, kỷ luật, tuyển
dụng, bổ nhiệm, thuyên chuyển.
Tại TP Hồ Chí Minh, nghiên cứu của Trần Thị Châu (2007) cho rằng
trình độ chuyên môn thấp (TC 78,3%); chưa được đào tạo QLĐD (59,4%)
cũng là những yếu tố góp phần ảnh hưởng đến năng lực ĐDT [26].
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho rằng các yếu tố có ảnh hưởng
đến năng lực quản lý ĐDT có phần khác với các nghiên cứu trước đây. Lý
do sự khác biệt này có thể do ảnh hưởng đến phong tục, tập quán, quan
niệm khác nhau giữa các vùng. Bên cạnh đó, do thiết kế nghiên cứu cũng
làm cho kết quả khác nhau. Từ trước đến nay, rất ít đề tài nghiên cứu đến
các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực ĐD, có chăng mới thống kê lại một số
yếu tố liên quan làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chuyên môn, quản
lý thông qua phỏng vấn. Cần có nghiên cứu phân tích sâu để đánh giá các
yếu tố ảnh hưởng nhằm đưa giải pháp can thiệp hiệu quả.
Như vậy, năng lực quản lý ĐDT chịu ảnh hưởng rất nhiều yếu tố, tùy
theo từng địa phương, đối tượng cụ thể mức độ ảnh hưởng của các yếu tố
khác nhau.
18
4.1.4 Sự hài lòng của người bệnh:
Kết quả nghiên cứu (Biểu đồ 3.15) cho thấy: Người bệnh hài lòng,
rất hài lòng về Lời nói chiếm 76,3%; Cử chỉ chiếm 76,4%; Đáp ứng ngay
khi có yêu cầu chiếm 77,8%; Thăm hỏi, động viên: chiếm 79,1%; Tư vấn,
ca, phàn nàn về tinh thần, thái độ phục vụ, ứng xử. Thông qua kết quả
nghiên cứu, giúp cho nhà quản lý biết được yêu cầu, mong muốn, các yếu
tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh.
4.2 Đánh giá hiệu quả can thiệp nâng cao năng lực quản lý của ĐDT:
4.2.1 Kiến thức quản lý Điều dưỡng trưởng:
Kết quả nghiên cứu tại Biểu đồ 3.16 và 3.17 chỉ ra rằng đội ngũ ĐDT
trước tập huấn nhận thức về 16 kỹ năng QLĐD đang còn hạn chế (11/16
kỹ năng không đạt). Sau tập huấn, kiến thức 100% ĐDT đạt yêu cầu. Điểm
19
trung bình chung trước đào tạo là 36,7; sau đào tạo là 77,9. HQ đào tạo =
42,1. Như vậy, can thiệp đào tạo có hiệu quả. Thông qua kết quả này,
chúng ta biết rằng vai trò công tác đào tạo có vị trí quan trọng, nhưng để
kết quả này phát triển bền vững thì cần có kế hoạch tăng cường giám sát
hỗ trợ để kiến thức thực sự trở thành kỹ năng, kỹ xảo.
Bảng 3.14, Trước can thiệp kiến thức quản lý ĐDT nhóm can thiệp
(tốt, khá chiếm 7,5%) và nhóm chứng (tốt, khá là 5,2%), giữa hai nhóm
không có sự khác biệt với p > 0,05. Sau can thiệp Kiến thức quản lý ĐDT
của nhóm can thiệp (tốt, khá chiếm 48,0%) cao hơn nhóm chứng (tốt, khá
là 7,9%), sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thông kê với p < 001. HQ
can thiệp = 490%. Trước can thiệp đánh giá giữa hai nhóm là như nhau,
sau khi can thiệp nhóm can thiệp có kiến thức cao hơn nhóm chứng, như
vậy can thiệp có hiệu quả. Điều này cũng phù hợp được giải thích là do khi
bổ nhiệm ĐDT, hầu hết ĐDT chưa được đào tạo QLĐD nên đánh giá đầu
vào điểm trung bình chung kiến thức trước tập huấn thấp (
x
= 36,7), sau
khi được tập huấn kiến thức được nâng lên rõ rệt (
x
chứng không có sự khác biệt, sau can thiệp thực hành quản lý ĐDT nhóm
can thiệp cao hơn nhóm chứng. Sở dĩ có sự khác biệt này là do nhóm can
thiệp được áp dụng các biện pháp cầm tay chỉ việc, xây dựng và áp dụng
qui trình các kỹ năng quản lý, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hỗ
trợ tại chỗ người ĐDT. Sau 24 tháng can thiệp đánh giá thực hành quản lý
ĐDT nhóm can thiệp cao hơn hẳn 35,8% so với trước. Kết quả này là bằng
chứng đánh dấu sự quan tâm của lãnh đạo khoa/bệnh viện đối với đội ngũ
quản lý điều dưỡng, sự nỗ lực phấn đấu của chính bản thân các ĐDT, sự
hỗ trợ, giúp đỡ của đội ngũ cán bộ giám sát. Vì vậy, để duy trì kết quả can
thiệp một cách bền vững, đòi hỏi người ĐDT tiếp tục học tập trau dồi kiến
thức, kỹ năng quản lý. Mặt khác cần phải tăng cường công tác giám sát hỗ
trợ, trao đổi kinh nghiệm thông qua giao ban, kiểm tra chéo giữa các khoa,
rút kinh nghiệm, khắc phục, sửa chữa nhằm đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu
thực thi nhiệm vụ.
Về thảo luận nhóm, các nhà quản lý cấp khoa cũng đồng quan điểm
như các nhà quản lý bệnh viện: “Người quản lý hiện nay nhìn chung về
mặt chuyên môn thì làm tốt, còn các nghiệp vụ quản lý thì làm theo cảm
tính, kinh nghiệm và bắt chước nên có phần chưa được”. Kiến thức quản
lý của Điều dưỡng trưởng thì thiếu hụt, mơ hồ vì chưa được đào tạo nên
các kỹ năng quản lý càng bộc lộ sự yếu kém “Các kỹ năng quản lý thực
hiện không theo qui trình nào cả, hiểu sao làm vậy”.
Kỹ năng quản lý Điều dưỡng được các nhà quản lý cấp bệnh viện và
khoa nhận định mới chỉ hoàn thành nhiệm vụ, chưa hài lòng với việc đáp
ứng yêu cầu chức năng nhiệm vụ, nên cần phải có giải pháp nâng cao năng
lực quản lý nhằm góp phần cải thiện chất lượng dịch vụ y tế.
Sau khi can thiệp thực hiện các hoạt động quản lý được các ĐDT
triển khai đảm bảo theo các qui trình đã xây dựng. Nội dung, các bước qui
trình cho mỗi hoạt động quản lý rất khoa học, phù hợp thực tế, dễ áp dụng.
Các ý kiến phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cũng xoay quanh nhận xét về
kỹ năng quản lý điều dưỡng của ĐDT được cải thiện rõ rệt.
nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Sau can thiệp thực trạng hồ
sơ, biểu mẫu QLĐD của nhóm can thiệp (tốt, khá chiếm 44,1%) cao hơn
nhóm chứng (tốt, khá là 22,8%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với
p < 0,05. HQ can thiệp = 110%. Điều đó chứng tỏ là can thiệp có hiệu quả.
Có được sự thay đổi về kết quả trên là do nghiên cứu đã sử dụng biện pháp
đào tạo, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, phản hồi kết quả, nhắc
nhở cho người phụ trách nhiệm vụ này giúp cho họ nâng cao nhận thức, kỹ
năng quản lý về hồ sơ, biểu mẫu. Nhờ vậy công tác quản lý mang hiệu quả
góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Thông qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, hầu hết những nhà quản
lý bệnh viện/khoa đều nhận thấy tình trạng lưu trữ hồ sơ, bệnh án của họ
còn nhiều hạn chế, chưa khoa học. Để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất
lượng công tác khám chữa bệnh, cần phải có giải pháp phù hợp, khoa học,
an toàn, chất lượng, hiệu quả trong công tác hồ sơ, biểu mẫu quản lý.
4.2.5 Sự hài lòng của người bệnh:
Kết quả nghiên cứu trên 403 bệnh nhân, Trước can thiệp (Bảng
3.18), sự hài lòng của người bệnh đối với ĐDT ở nhóm can thiệp và nhóm
chứng có sự khác biệt về cử chỉ; Đáp ứng ngay; Thăm hỏi, động viên;
Kiến thức chuyên môn; Kỹ thuật chuyên môn; Thủ tục khám và nhập viên;
Thực hiện chuyên môn có kế hoạch và hiệu quả (sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p < 0,05); không có sự khác biệt về lời nói; Tư vấn, GDSK;
Cách bố trí công việc chăm sóc, điều trị (p > 0,05). Sau khi triển khai một
số biện pháp can thiệp, sự hài lòng của người bệnh đối với ĐDT nhóm can
thiệp cao hơn so với nhóm chứng; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với
p < 0,001. Cải thiện được sự hài lòng của người bệnh ở nhóm can thiệp
cao hơn nhóm chứng là nhờ nâng cao kiến thức, thực hành quản lý của đội
22
ngũ ĐDT, người ĐDT có thái độ, ứng xử với người bệnh được cải thiện;
là 9,14 với p = 0,0001. Công lập (65,39) > nhóm ngoài công lập (58,77) với
p = 0,001. Khó khăn (63,21) < thuận lợi (65,01) với p = 0,337.
- Năng lực quản lý: Đánh giá năng lực quản lý khá chiếm 19,8%,
TB (65,5%), vẫn còn kém (14,6%) với điểm trung bình chung năng lực
quản lý là x = 129,44 (Std: 23,2).
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý Điều dưỡng trưởng:
Phân tích đơn biến các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý ĐDT
cho thấy Bảng hướng dẫn, phác đồ; Qui trình công việc; Thảo luận với
đồng nghiệp; Đào tạo lại (p <0,05). Phân tích hồi qui logisyic đa biến
những ĐDT trả lời có được hỗ trợ về Quy trình công việc có năng lực cao
gấp 0,29 lần những ĐDT không có sự hỗ trợ.
23
1.2 Đánh giá hiệu quả can thiệp nâng cao năng lực quản lý của ĐDT:
1.2.1 Kiến thức, thực hành, năng lực quản lý của Điều dưỡng trưởng:
- Kiến thức quản lý: Trước can thiệp nhóm can thiệp đánh giá tốt,
khá chiếm 7,5%, nhóm chứng 5,2% (p > 0,05). Sau can thiệp nhóm can
thiệp đánh giá tốt, khá chiếm 48,0%, nhóm chứng 7,9% (p < 0,001).
HQCT = 490%, can thiệp có hiệu quả.
- Thực hành quản lý: Trước can thiệp nhóm can thiệp đánh giá tốt,
khá chiếm 5,7%, nhóm chứng 7,5% (p > 0,05). Sau can thiệp nhóm can
thiệp đánh giá tốt, khá chiếm 41,5%, nhóm chứng 4,8% (p < 0,001).
HQCT = 670%, can thiệp có hiệu quả.
- Năng lực quản lý: Trước can thiệp nhóm can thiệp đánh giá tốt, khá
(3,5%), nhóm chứng 6,1% (p < 0,05). Sau can thiệp nhóm can thiệp đánh
giá tốt, khá chiếm 47,2%, nhóm chứng 7,9% (p < 0,001). HQCT = 1220%.
Can thiệp có hiệu quả.
1.2.2 Hồ sơ, biểu mẫu quản lý Điều dưỡng:
Trước can thiệp thực trạng hồ sơ, biểu mẫu QLĐD của nhóm can
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Phan Quốc Hội, Nguyễn Trọng Tài, Trần Quốc Kham, Nguyễn Thị Thu Yến
(2013), “Thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến năng lực Điều dưỡng trưởng
tại tỉnh Nghệ An”. Tạp chí Y học thực hành, số 12/2013, tr. 135 – 140.
2. Phan Quốc Hội, Trần Quốc Kham, Nguyễn Thị Thu Yến (2013), “Hiệu quả
can thiệp nâng cao năng lực Điều dưỡng trưởng tại tỉnh Nghệ An”. Tạp chí Y
học thực hành, số 12/2013, tr. 138 – 141.