thực trạng và hiệu quả can thiệp nâng cao năng lực điều dưỡng trưởng từ năm 2010 - 2013 tại tỉnh nghệ an - Pdf 24


1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Điều dưỡng là một nghề vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật.
Người điều dưỡng dựa vào kiến thức, thái độ, kỹ năng của mình để giúp đỡ cá nhân, gia
đình, cộng đồng trong việc duy trì, nâng cao sức khoẻ, phòng ngừa bệnh tật, giảm đau
đớn về thể chất, tinh thần và biết cách tự chăm sóc nhằm đáp ứng nhu cầu sức khoẻ [79].
Nghị quyết số 46/NQ-TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về "Bảo vệ, chăm
sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới" đã chỉ ra rằng: Nhu cầu chăm
sóc sức khoẻ của nhân dân ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng và toàn diện [4].
Để không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh, đặc biệt thực
hiện quy chế chăm sóc người bệnh toàn diện của Bộ Y tế, cần thiết phải có hệ thống
Điều dưỡng trưởng có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý điều dưỡng [13], [87].
Bên cạnh đó Sanders, Davidson and Price (1996) chỉ ra rằng, Điều dưỡng
trưởng khoa là người chuyển tải các mục tiêu, sự định hướng, các tiêu chí của tổ
chức y tế (bệnh viện, khoa, phòng, trung tâm điều dưỡng) từ góc độ quản lý sang
thực hành lâm sàng; họ là người kết nối sự định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của tổ
chức với người cung cấp dịch vụ chăm sóc hàng ngày cho người bệnh. Điều dưỡng
trưởng khoa không chỉ là người chịu trách nhiệm quản lý mà họ còn là người chịu
trách nhiệm cho các hoạt động chăm sóc người bệnh tại khoa phòng trong suốt 24h
[16], [33].
Ở nước ta, hệ thống Điều dưỡng trưởng là cấp quản lý đầu tiên của bệnh
viện. Điều dưỡng trưởng khoa chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các y lệnh của
thầy thuốc, công tác quản lý nguồn lực và hành chính khoa. Vì vậy chất lượng chăm
sóc, phục vụ người bệnh, sử dụng nguồn lực có hiệu quả phụ thuộc đáng kể của hệ
thống Điều dưỡng trưởng. Theo điều tra của Hội Điều dưỡng Việt Nam (2007),
Điều dưỡng trưởng nói chung có trình độ chuyên môn trung cấp chiếm 84,8 %, Cao
đẳng 7,2 %, Đại học 7,8% và sau đại học là 0,2 %. Về quản lý điều dưỡng, được
đào tạo chiếm tỷ lệ 37,8 %, hiệu quả công tác lãnh đạo điều hành, tham gia hoạt

1.1 Một số khái niệm và định nghĩa liên quan:
1.1.1 Khái niệm chung về năng lực:
- Theo quan điểm của những nhà tâm lý học Năng lực là tổng hợp các đặc
điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt
động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực
hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân, năng lực của con người
không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có.
Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng
lực chuyên môn.
+ Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau
như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực tưởng
tượng
+ Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của
xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán
học Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau,
năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng phát triển thì
càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn. Ngược lại sự phát triển của năng lực
chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển
của năng lực chung.
+ Trí thức là những hiểu biết thu nhận được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh
nghiệm cuộc sống của mình.
+ Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm vào thực tế để
tiến hành một hoạt động nào đó.
+ Kỹ xảo là những kỹ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục
cho phép con người không phải tập trung nhiều ý thức và việc mình đang làm. Còn
năng lực là một tổ hợp phẩm chất tương đối ổn định, tương đối cơ bản của cá nhân,
cho phép nó thực hiện có kết quả một hoạt động.

4


5

+ Hoàn thành từ ≥ 90% nhiệm vụ: 4 điểm
+ Hoàn thành từ 70 - 89 % nhiệm vụ: 3 điểm
+ Hoàn thành từ 50 - 69% nhiệm vụ: 2 điểm
+ Hoàn thành từ < 50% nhiệm vụ: 1 điểm
+ Không làm: 0 điểm
Dựa vào cách cho điểm trên, lượng giá được khả năng hoàn thành từng
nhiệm vụ của điều dưỡng trưởng (ĐDT), từ đó tính được tổng điểm ĐDT đạt được
khi thực hiện tất cả các nhiệm vụ được giao.
1.3.1.2 Đánh giá về năng lực quản lý Điều dưỡng trưởng:
Căn cứ xếp loại kết quả học tập kết thúc năm học của qui chế đào tạo ban
hành kèm theo Quyết định số 25/2006/QĐ-BGDĐT ngày 26/06/2006 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đào tạo CĐ, ĐH hệ chính quy [5].
Đánh giá xếp loại thực trạng năng lực quản lý (mục tiêu 1): Tính tổng số
điểm của từng phần đánh giá kiến thức (KT) và thực hành (TH), tổng điểm và xếp
loại năng lực quản lý:
Xếp
loại
Tiêu chuẩn
Điểm KT
(phụ lục 1)
Điểm TH
(phụ lục 2)
Điểm Năng lực
(PL1+2)
Tốt ≥ 80% tổng điểm ≥ 68 đ ≥ 112 đ ≥ 180
Khá ≥ 70 - 79% tổng điểm ≥ 59 – 67 đ ≥ 98 – 111 đ ≥ 157 – 179 đ
TB ≥ 50 - 69% tổng điểm ≥ 42 – 58 đ ≥ 70 - 97 đ ≥ 112 – 156 đ
Kém < 50% tổng điểm < 42 đ < 70 đ < 112

Mặc dù ĐD có một lịch sử lâu dài, ĐD hiện đại nhanh chóng phát triển từ y
học Trung Quốc chuyển qua truyền thống y học phương Tây sau khi khôi phục Đế
chế Nhật Hoàng. Sự bắt đầu của hệ thống giáo dục ĐD tại Nhật Bản cung cấp giáo
dục nữ hộ sinh, cấp phép và đào tạo phù hợp với Quy chế y tế được ban hành vào
năm 1874. Giáo dục điều dưỡng hiện đại bắt đầu vào năm 1885. ĐD chuyên nghiệp
đã được thành lập do dự luật Nữ hộ sinh (NHS) năm 1899, dự luật ĐD 1915, tương
ứng nội qui ĐD sức khoẻ công cộng năm 1941. Đạo luật Y tế Quốc gia được ban
hành năm 1942 quy định ĐD sức khoẻ công cộng, NHS và y tá như các chuyên gia
y tế cùng với các bác sĩ và nha sĩ [16], [137].
Sau khi Chiến tranh thế giới II, theo các GHQ (General Headquarters of the
Supreme Commander for the Allied Powers: Trụ sở chính của Tổng Tư Lệnh tối
cao cho các nước đồng minh), được đặt trong nghề nghiệp của các cường quốc đồng
minh", ba quy định hiện hành cho các chuyên gia ĐD đã được thống nhất vào Đạo
luật về ĐD sức khoẻ công cộng, nữ hộ sinh và y tá năm 1948, dựa trên triết lý của
điều dưỡng tích hợp. Mục đích của luật này được định nghĩa là "nâng cao chất
lượng Điều dưỡng sức khoẻ công cộng, nữ hộ sinh và y tá; do đó thúc đẩy và cải
thiện chăm sóc sức khỏe và y tế công cộng" [16], [137].
Ngày nay, nhân viên ĐD tại Nhật Bản có thể được chia thành Điều dưỡng
sức khỏe công cộng, NHS, ĐD và Trợ lý ĐD. Đạo luật trên quy định cụ thể trình độ
và thực hành tại Điều 2 - 6.

7

Hệ thống ĐD Nhật Bản được tổ chức lại dưới sự chỉ huy của GHQ, một bộ
phận ĐD đã được đặt trong Bộ Y tế và Phúc lợi, năm 1948 bắt đầu Quản lý điều
dưỡng (QLĐD) bởi các nhân viên ĐD. Tuy nhiên, với những thay đổi tiếp theo
trong hệ thống cung cấp chăm sóc y tế và sự gia tăng tình trạng thiếu ĐD đã trở
thành nghiêm trọng, các vấn đề về điều kiện làm việc của ĐD bao gồm cả khối
lượng công việc và giờ làm việc nổi lên. Để giải quyết vấn đề này, Bộ Y tế và Phúc
lợi đưa ra các biện pháp để cải thiện hệ thống ĐD, thiết lập một nền giáo dục ĐD

dài cho phần còn lại cuộc sống của họ. Tuy nhiên, khuynh hướng bao gồm hủy bỏ
giấy phép có thể được trả lại như là căn cứ để truất quyền hành nghề được quy định
bởi luật pháp hoặc trong trường hợp hành vi đó vi phạm nhân phẩm. Về tổ chức:
- Có 01 ĐDT viện; 02 phó viện;
- Điều dưỡng trưởng khoa và phó khoa
- Điều dưỡng viên: ĐD chính; ĐD thực hành và Trợ lý ĐD.
1.2.1.2 Hoa kỳ: Có 4 chức danh liên quan đến ĐD:
Phụ tá bác sỹ: Physian assistan (PA) tương tự như y sỹ trước đây. Trình độ
cử nhân, sau đó phải học thêm 2 năm chuyên ngành. Sau khi hoàn thành chương
trình, phụ tá bác sỹ phải vượt qua kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề cấp quốc gia. Phụ
tá bác sỹ ở một số bang được phép kê đơn thuốc, tuy nhiên không làm việc độc lập
mà dưới sự giám sát của thầy thuốc.
Điều dưỡng viên (ĐDV) chuyên ngành: Nurse practitioner (NP), để trở
thành NP trước hết phải là RN, cá nhân phải học tiếp để có bằng thạc sỹ điều dưỡng
chuyên khoa, qua kỳ thi quốc gia để được cấp bằng hành nghề NP.
ĐDV: Registered Nurse (RN) là điều dưỡng có trình độ đại học (ĐH), được
cấp chứng chỉ hành nghề sau khi vượt qua kỳ thi do Hội đồng Điều dưỡng quốc gia
tổ chức. ĐDV có nhiệm vụ ghi chép tiền sử, diễn biến bệnh, thăm khám, cung cấp
dịch vụ chữa bệnh, thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán, vận hành máy móc y tế,
thực hiện các y lệnh thuốc cho người bệnh.
Phụ tá ĐD: Licened Practical Nurse (LPN), chương trình đào tạo 1 - 2 năm,
sau khi ra trường, để được hành nghề Phụ tá ĐD phải vượt qua kỳ thi cấp quốc gia
để cấp bằng hành nghề. Khi hành nghề dưới sự chỉ dẫn và ĐD của ĐDV. Nhiệm vụ
là thực hiện chăm sóc người bệnh (CSNB) tại giường, lấy dấu hiệu sinh tồn, thu

9

thập bệnh phẩm, cho bệnh nhân ăn, theo dõi và ghi chép lượng dịch nhập xuất vào
cơ thể bệnh nhân, thay băng, chuẩn bị thuốc và tiêm thuốc (trừ tiêm tĩnh mạch,
truyền dịch và truyền máu) [16], [83], [100], [111], [121], [129].

- Tại các bệnh viện hạng I, II và III: Các bệnh viện có Phòng Y tá - ĐD
hoạt động theo quy chế bệnh viện 1997. Vị trí, tổ chức, nhiệm vụ của Phòng,
nhiệm vụ và quyền hạn của Trưởng phòng Y tá - ĐD bệnh viện và Y tá - ĐDTK
đã được xác định rõ và hoạt động ngày càng có hiệu quả.
Hệ thống Điều dưỡng Việt Nam phân chia theo cấp từ Trung ương (TW) đến
Địa phương theo 3 hệ thống: Hội, trường giảng dạy và chính quyền. Ngoài ra còn
rất nhiều nhóm, hội điều dưỡng hoạt động tự phát như hội sinh viên [7], [16], [18],
[36], [61], [70], [83], [98], [100].
1.2.2.2. Vai trò hệ thống điều dưỡng:
* Trưởng phòng điều dưỡng (Điều dưỡng trưởng bệnh viện):
Nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của phòng ĐD. Xây dựng kế
hoạch hoạt động của phòng ĐD, Điều dưỡng trưởng khoa (ĐDTK), hộ sinh trưởng
khoa, Kỷ thuật viên (KTV) trưởng khoa trong bệnh viện. Kiểm tra đôn đốc ĐD, hộ
sinh, KTV, hộ lý thực hiện quy chế bệnh viện, quy định kỹ thuật bệnh viện các
nhiệm vụ thường quy. Báo cáo kịp thời giám đốc bệnh viện các việc đột xuất xảy ra
ở các khoa. Hướng dẫn ĐDTK xây dựng bảng mô tả công việc cho ĐD, hộ sinh,
KTV và hộ lý trong bệnh viện. Tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH), huấn luyện
và chỉ đạo tuyến trong lĩnh vực CSNB. Dự trù, phân bổ vật tư tiêu hao và dụng cụ y
tế cho công tác chăm sóc phục vụ người bệnh và giám sát sử dụng vật tư tiêu hao
đảm bảo tiết kiệm và chống lãng phí. Hướng dẫn và kiểm tra việc ghi sổ sách, phiếu
theo dõi, phiếu chăm sóc cho ĐD, HS, KTV và hộ lý trong bệnh viện. Chỉ đạo và
giám sát công tác vệ sinh buồng bệnh, buồng thủ thuật. Uỷ viên thường trực kiêm
thư ký hội đồng người bệnh cấp bệnh viện. Định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo công
tác ĐD lên giám đốc bệnh viện [8].
Quyền hạn: Chủ trì giao ban phòng hàng ngày và dự giao ban bệnh viện. Chủ trì các
cuộc họp của ĐDTK, bệnh viện. Đề xuất ý kiến với giám đốc về vấn đề tuyển dụng,
thuyên chuyển, khen thưởng, kỷ luật, tăng lương và học tập đối với ĐD, HS, KTV

11
và hộ lý. Đề nghị với giám đốc bệnh viện về việc bổ nhiệm hoặc thôi chức vụ

lệnh của thầy thuốc, thực hiện CSNB bệnh theo đúng quy định thủ thuật, các kỹ
thuật cơ bản như lập kế hoạch CSNB, cho người bệnh uống thuốc, thực hiện kỹ
thuật tiêm thuốc, truyền dịch, thay băng, đặt thông tiểu, kỹ thuật cấp cứu theo quy
định và vận hành bảo quản các thiết bị y tế trong khoa theo sự phân công. Ghi chép,
bàn giao người bệnh cho ĐD trực theo quy đinh. Bảo quản tài sản, thuốc, dụng cụ y
tế, trật tự và vệ sinh buồng bệnh, buồng thủ thuật trong phạm vi được phân công.
Tham gia NCKH, thường trực theo sự phân công của ĐDTK, thực hiện tốt quy định
về y đức, thường xuyên tự học tập, cập nhật kiến thức [15].
Năm 2005, Nhà nước ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức
điều dưỡng [6] gồm:
- Điều dưỡng sơ cấp (tốt nghiệp sơ cấp điều dưỡng)
- Điều dưỡng trung cấp (tốt nghiệp trung cấp điều dưỡng)
- Điều dưỡng cao đẳng (tốt nghiệp cao đẳng điều dưỡng)
- Điều dưỡng (tốt nghiệp cử nhân điều dưỡng)
- Điều dưỡng chính (thạc sỹ điều dưỡng hoặc chuyên khoa 1 điều dưỡng).
1.3 Mô hình quản lý Điều dưỡng:
- Mô hình QLĐD là khuôn khổ công việc trừu tượng, liên kết các sự kiện và
hiện tượng, hỗ trợ người ĐD lên kế hoạch CSĐD, điều tra các vấn đề liên quan đến
thực hành lâm sàng, nghiên cứu các kết quả của hành động và can thiệp ĐD [136].
- Mô hình phân công chăm sóc là phương pháp phân công công việc mà việc
chăm sóc được phân phối tới người bệnh nhằm cá biệt hoá và thoả mãn nhu cầu cơ
bản của họ thông qua sự chăm sóc thích hợp của người ĐD [16], [83], [100].
- Chăm sóc người bệnh toàn diện (CSTD):
+ Là sự theo dõi chăm sóc, điều trị của Bác sĩ, ĐD nhằm đáp ứng nhu cầu cơ
bản của người bệnh cả về thân thể và tinh thần trong thời gian nằm điều trị tại bệnh
viện, không áp dụng hình thức phân công theo công việc [13], [16].
+ Là nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức và nhân viên trong toàn bệnh
viện nhằm đảm bảo chất lượng chẩn đoán, điều trị và CSNB [13].

13

14
1.3.2 Tình hình áp dụng Mô hình quản lý điều dưỡng:
1.3.2.1 Trên Thế giới:
Mô hình phân công chăm sóc đã và đang được thực hiện tại cơ sở y tế của
nhiều nước, mỗi nước có thể áp dụng một hay nhiều mô hình, thậm chí trong một
bệnh viện, mỗi khoa có thể áp dụng một trong 4 loại mô hình. Tuỳ theo từng giai
đoạn, điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tính chất chức năng,
nhiệm vụ của từng khoa, bệnh viện mà mô hình chăm sóc khác nhau [133]:
Theo Marquys và Huston (Mỹ, 1992) Chăm sóc người bệnh toàn diện (Total
patient care) là mô hình phân công chăm sóc cổ nhất, nó xuất hiện từ thế kỷ XIX và
được áp dụng CSNB tại cả bệnh viện và gia đình. Trong mô hình này, một ĐDV
chịu trách nhiệm chăm sóc hoàn toàn cho một vài người bệnh trong suốt cả ca làm
việc của họ. Điều cơ bản nhất là người ĐD phải có đủ năng lực để độc lập CSNB.
Mô hình này hiện vẫn còn đang được áp dụng khá phổ biến ở một số khoa như
khoa Hồi sức tích cực và các nước đang phát triển [121].
Mô hình phân công chăm sóc theo chức năng nhiệm vụ hay công việc
(Functional nursing) được áp dụng trong suốt thời gian chiến tranh thế giới thứ II để
đáp ứng nhu cầu phục vụ tại thời điểm đó. Việc chăm sóc được chia thành những
nhiệm vụ nhỏ, mỗi ĐD được giao thực hiện một hoặc hai nhiệm vụ cố định trên một
nhóm người bệnh hoặc trên toàn bộ bệnh nhân trong khoa dưới sự chỉ đạo của
ĐDTK. Hiện nay mô hình chăm sóc này bị phê phán nhiều vì có nhiều sơ suất do
những diễn biến bất thường hoặc do những nhu cầu chăm sóc của người bệnh xuất
hiện nhưng không được phát hiện kịp thời. Vai trò người ĐDT ở đây là người tổ
chức thực hiện và giám sát công tác chăm sóc. Người ĐDT phải có trình độ chuyên
môn và công bằng [145].
Mô hình ĐD ban đầu (Primary nursing) được sử dụng từ những năm 1970,
trong mô hình ĐD ban đầu, một ĐD chịu trách nhiệm chăm sóc cho một số bệnh
nhân trong suốt 24 giờ. Mô hình chăm sóc này lấy người bệnh làm trung tâm,
hướng tới cá thể và đảm bảo liên tục trong chăm sóc. Sự thông tin giữa người ĐD
với thầy thuốc, người bệnh, thân nhân người bệnh và với nhân viên y tế khác được

thể có ít kinh nghiệm hơn hoặc trình độ thấp hơn. Trưởng nhóm có trách nhiệm lập

16
kế hoạch chăm sóc cho tất cả bệnh nhân trong nhóm và hướng dẫn ĐDV trong
nhóm thực hiện các hoạt động CSNB. Mô hình chăm sóc này đảm bảo người bệnh
được một nhóm nhỏ ĐDV chăm sóc, duy trì được liên tục trong chăm sóc và giải
quyết được những vấn đề khó khăn như đã nêu ở những mô hình chăm sóc đề cập
trên đây.
Hơn nửa thế kỷ qua, nhiều nhà quản lý điều dưỡng đã tranh luận nhiều về mô
hình phân công chăm sóc, song họ chưa phân định mô hình nào là tốt nhất với lý
luận rằng mỗi người bệnh có nhu cầu chăm sóc riêng nhau, mỗi cơ sở y tế có đặc
thù riêng nên mô hình chăm sóc này phù hợp với bệnh nhân hoặc cơ sở y tế này
nhưng chưa chắc đã phù hợp với nhu cầu hoặc đặc điểm của bệnh nhân hoặc cơ sở y
tế khác [130], [131].
Hiện nay tại các cơ sở y tế của Mỹ và nhiều nước đang sử dụng mô hình
chăm sóc theo đội (Nursinh care team module). Một đội chăm sóc bao gồm bác sỹ,
dược sỹ, nhân viên vật lý trị liệu, ĐD (RN, PN, PA, LPN) và người nhà bệnh nhân,
trong đó ĐD là đội trưởng, các thành viên làm việc theo trình độ và giấy phép hành
nghề. Thông tin về trình trạng sức khoẻ bệnh nhân, các can thiệp chăm sóc và điều
trị được chia sẻ giữa các thành viên thông qua hệ thống ghi chép ĐD, điều trị và
giao ban đội. ĐDT thực sự có trình độ chuyên môn giỏi, kỹ năng quản lý tốt, điều
hành các hoạt động hiệu quả, chất lượng chăm sóc, điều trị đạt ở mức độ cao [9],
[16], [83], [100], [102], [125], [132], [134], [152].
Tại Thụy Điển [3], Nhật Bản [3], [110] và Thái Lan [3], [16] áp dụng mô
hình CSTD, lấy người bệnh làm trung tâm trong công tác chăm.
1.3.2.2 Tại Việt Nam:
Năm 2003, Chỉ thị 05/2003/BYT-CT của Bộ trưởng Bộ Y tế đã yêu cầu mọi
cán bộ y tế đều có trách nhiệm thực hiện CSNBTD, các bệnh viện phải tăng cường
công tác CSNBTD thông qua 5 hoạt động chính: (1) Kiện toàn mạng lưới điều
dưỡng trưởng từ Sở Y tế đến tận khoa - phòng trong bệnh viện, (2) Thành lập Ban

thần và xã hội theo phân cấp chăm sóc. Hướng dẫn thân nhân cùng chăm sóc [68].
Quy chế CSNBTD do Bộ Y tế ban hành đã quy định rõ " không áp dụng
hình thức phân công theo công việc" và "mỗi người bệnh phải được một bác sỹ và

18
một y tá (điều dưỡng) chịu trách nhiệm cụ thể về điều trị và chăm sóc toàn diện".
Quy chế đã nhấn mạnh vào mô hình phân công chăm sóc và trách nhiệm cụ thể của
các cá nhân trong chăm sóc. Quy chế vừa đề cập tới chuyển đổi phương thức phân
công chăm sóc từ lấy công việc làm trung tâm sang lấy người bệnh làm trung tâm,
vừa mở rộng nội dung chăm sóc không chỉ dịch vụ y tế mà còn đáp ứng những
nhu cầu cơ bản của một con người cả về thể chất, tinh thần và xã hội [25].
CSNBTD được coi là giải pháp cơ bản để nâng cao sự hài lòng của người
bệnh, cũng như nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và uy tín của bệnh viện. Tại
các bệnh viện, công tác này được thực hiện với nhiều mô hình: theo người bệnh,
theo công việc, theo nhóm, theo đội phù hợp điều kiện cụ thể của từng đơn vị.
Mô hình chăm sóc người bệnh toàn diện theo đội mà Bệnh viện Việt Nam -
Thụy Điển Uông Bí đang triển khai được đánh giá có thể áp dụng cho nhiều bệnh
viện ở nước ta. Phòng ĐD của bệnh viện chịu trách nhiệm chỉ đạo hoạt động chuyên
môn, nghiệp vụ, nhân lực ĐD và chịu trách nhiệm trước giám đốc bệnh viện về tổ
chức, điều hành và giám sát công tác chăm sóc để người bệnh được CSTD với chất
lượng, hiệu quả cao nhất khi tới khám và điều trị tại bệnh viện. Rút kinh nghiệm từ
mô hình nhóm chăm sóc toàn diện, từ năm 1998 Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển
Uông Bí bắt đầu nghiên cứu điểm thực hiện mô hình phân công chăm sóc theo đội.
Đến năm 2005 - 2006 mô hình mới này được triển khai toàn bệnh viện. Đội chăm
sóc gồm: bác sĩ, ĐD, KTV phục hồi chức năng, dược lâm sàng, nhân viên y tế khác,
học sinh, sinh viên, người bệnh và người nhà người bệnh. Nguyên tắc làm việc của
đội chăm sóc là phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên, nhằm mục đích phát huy hết
khả năng của từng người; phân công nhiệm vụ công khai, cụ thể và khoa học phù
hợp với phân cấp người bệnh. Theo dõi người bệnh thường xuyên để thay đổi cấp
độ chăm sóc và có những can thiệp kịp thời. Người bệnh là trọng tâm, được chăm

sách cho cán bộ y tế thiếu. Ngoài ra, nhiều lãnh đạo bệnh viện nhận thức chưa đầy
đủ về CSNBTD, chưa quan tâm xây dựng và củng cố hệ thống y tá - ĐD, phương
tiện chăm sóc Các yếu tố bên ngoài là nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân tăng
trong khi đó chi phí của nhà nước cho khám chữa bệnh giảm. Nhiều ý kiến cho
rằng, chăm sóc toàn diện bao hàm cả chăm sóc liên tục, nghĩa là người bệnh được

20
chăm sóc, quản lý tiếp tục sau khi xuất viện. Nhưng hiện tại vấn đề này đang bị bỏ
ngỏ. Theo TS Trần Quý Tường, Phó Cục trưởng Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y
tế), để bảo đảm sự hài lòng của người bệnh, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
và tăng uy tín của đơn vị, các cơ sở khám chữa bệnh phải đẩy mạnh công tác
CSNBTD. Đặc biệt phải thay đổi nhận thức trong toàn thể cán bộ, nhân viên và xác
định đây là công việc của tất cả mọi cán bộ, nhân viên [48].
1.3.2.3 Tại Nghệ An:
Ngành y tế đã và đang chỉ đạo các bệnh viện thực hiện nghiêm qui chế của
Bộ Y tế về CSNBTD. Tuy nhiên ở trong từng bệnh viện, các khoa chưa thống nhất
thực hiện một mô hình chung mà thực tế kết hợp nhiều mô hình khác nhau tùy
theo điều kiện cụ thể của khoa. Các bệnh viện trên toàn tỉnh cũng vậy, chưa có
một mô hình thống nhất chung cho tỉnh, mỗi bệnh viện đều có lý do riêng cho việc
triển khai mô hình chăm sóc phù hợp với điều kiện hiện có.
Kết quả đạt được [45]: Trong những năm qua triển khai mô hình CSNBTD
đã thu được một số kết quả như củng cố hệ thống QLĐD. Tổ chức mô hình phân
công chăm sóc theo đội (gồm cả bác sĩ, ĐD, học sinh, sinh viên, người bệnh hoặc
người nhà người bệnh và cả nhân viên y tế khác) hoặc chăm sóc theo nhóm (bao
gồm 2-3 ĐD trở lên). Nhiều bệnh viện bố trí cho ĐD làm việc theo ca kíp tại các
khoa trọng điểm như hồi sức cấp cứu, chăm sóc sau phẫu thuật, khoa chăm sóc đặc
biệt để đảm bảo chăm sóc người bệnh cả ban ngày và đêm. Quyền lợi của người
bệnh thông qua những nội dung chăm sóc.
Chăm sóc y tế: những hoạt động chuyên môn phục vụ cho chẩn đoán, điều
trị, chăm sóc của thầy thuốc, ĐD được cải thiện.

trên người ĐDT thực sự điều hành toàn bộ công tác CSNB trong khoa, bệnh viện.
1.4.1.2 Chỉ đạo công tác vệ sinh: Hàng ngày, người ĐDT kiểm tra, đôn đốc điều
dưỡng, hộ lý và bệnh nhân thực hiện tốt y lệnh của bác sĩ điều trị, qui chế, qui định
kỹ thuật bệnh viện, trong đó cả công tác vệ sinh phòng chống nhiễm khuẩn, báo cáo
kịp thời với trưởng khoa các việc đột xuất, những diễn biến bất thường của người
bệnh để kịp thời xử lý; kiểm tra việc cọ rửa, khử tiệt khuẩn theo qui định, giám sát

22
việc thu gom phân loại và xử lý chất thải, các biện pháp phòng hộ với nhân viên
trong quá trình làm việc.
1.4.1.3 Quản lý nhân lực: Là thực hiện các khâu tuyển dụng nhân lực theo tiêu
chuẩn và nội dung công việc, sắp xếp và giao nhiệm vụ, theo dõi, kiểm tra, đánh giá
hiệu quả công việc của họ, đồng thời phải thực hiện tốt những yêu cầu của người
lao động theo đúng chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nội dung quản lý
nhân lực: Xác định khối lượng công việc chăm sóc; Xác định biên chế ĐD cần thiết;
Tuyển chọn; Xác định mô hình phân công chăm sóc; Mô tả công việc cho các vị trí
nhân viên; Đào tạo, huấn luyện nhân viên; Xây dựng lịch phân công lao động; Theo
dõi và phân công; Nhận xét và đánh giá nhân viên.
1.4.1.4 Quản lý tài sản - Vật tư: Bao gồm quản lý tài sản, máy móc, hàng vật tư tiêu
hao. Trên thực tế công việc này quản lý chưa khoa học, còn phụ thuộc, không chủ
động dẫn tới tình trạng thiếu thừa, vừa lãng phí, vừa kém hiệu quả.
1.4.1.5 Tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học: Đào tạo lại cho cán bộ trong quá
trình công tác là việc làm không thể thiếu được trong quá trình sử dụng nhân lực,
đặc biệt là công tác CSNB. Trong quá trình điều hành phân công công việc cho
nhân viên, ĐDT sẽ hiểu và đánh giá được thực trạng năng lực công tác, khả năng
hoàn thành nhiệm vụ của ĐDV. ĐDT phải lập kế hoạch, xây dựng nội dung đào tạo,
tham gia hướng dẫn, học sinh, sinh viên điều dưỡng trong quá trình thực tập tại
khoa, tham gia NCKH và tổ chức các buổi sinh hoạt khoa học tại khoa, tổ chức thi
tay nghề cho ĐDV.
1.4.1.6 Lập kế hoạch: Lập kế hoạch là xác định một kế hoạch hoạt động, hoặc xác

1.4.1.11 Ra quyết định: Căn cứ vào việc xác định vấn đề trong quá trình chăm sóc,
nhu cầu nguồn lực, người ĐDTK đưa ra quyết định kịp thời, đúng đắn và hiệu quả.
Đây là một trong những kỹ năng cần thiết giúp cho người quản lý điều dưỡng giải
quyết các vấn đề quản lý nhanh, hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng CSNB.

24
1.4.1.12 Giải quyết vấn đề: Vấn đề là sự khác biệt giữa mong muốn và hiện tại. Chỉ
được coi là vấn đề khi có 3 nội dung cơ bản: nhận thức được sự khác biệt; có áp lực
đòi hỏi giải quyết vấn đề; có nguồn lực cần thiết để giải quyết vấn đề.
Người ĐDTK cần phải có kỹ năng này để xác định các vần đề, lựa chọn ưu
tiên giải quyết hiệu quả.
1.4.1.13 Tổ chức cuộc họp: Trong công tác quản lý người ĐDT phải tổ chức và chủ
trì cuộc họp để điều hành công tác CSNB. Nếu họp không thường xuyên sẽ dẫn đến
thiếu thông tin, làm cho công tác quản lý không hiệu quả hoặc thất bại. Nếu tổ chức
cuộc họp tốt, đều đặn nhưng không chuẩn bị nội dung kỹ lưỡng sẽ làm lãng phí thời
gian của người tham dự. Vì vậy, ĐDT phải rèn luyện kỹ năng tổ chức và điều hành
cuộc họp.
1.4.1.14 Quản lý thời gian: Người ĐDTK phải trực tiếp quản lý nhiều nguồn lực
khác nhau trong đó có cả quản lý thời gian, muốn trở thành người quản lý điều
dưỡng giỏi phải biết quản lý thời gian giỏi. Để đạt được điều đó, người ĐDT phải
biết sử dụng thời gian của bản thân mình một cách có hiệu quả, điều hành, sắp xếp
các công việc một cách hợp lý, khuyên bảo cấp dưới sử dụng thời gian của họ một
cách hữu hiệu. Muốn như vậy phải có kế hoạch làm việc và nghiêm túc thực hiện kế
hoạch đề ra, biết tận dụng, phát huy tiết kiệm thời gian, loại trừ yếu tố làm lãng phí
thời gian.
1.4.1.15 Văn bản hành chính và cách soạn thảo công văn: Trong quá trình hoạt
động lãnh đạo, quản lý, điều hành, để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, các
cơ quan nhà nước ngoài sử dụng các bản quy phạm pháp luật, còn dùng các văn bản
hành chính thông thường để báo cáo, thông báo, chỉ đạo, giao dịch, liên hệ công
việc. ĐDT là một trong số cán bộ quản lý và lãnh đạo điều dưỡng nên phải có kiến

giá cấp dưới có thể sử dụng những kết quả đánh giá của đơn vị và chỉ phúc tra một
số điểm cần thiết hoặc tổ chức đánh giá lại toàn bộ theo tiêu chuẩn đánh giá đã
thông báo trước.
- Đánh giá đột xuất: Là sự đánh giá không được thông báo trước. Hình thức
đánh giá này thường tập trung sâu theo chuyên đề, mang tính khách quan và hiệu
quả, nhưng không bao trùm được hết các nội dung công tác đơn vị, cá nhân. Hình

Trích đoạn Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: 1 Phương pháp thu thập: Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý Điều dưỡng trưởng: Sự hài lòng của người bệnh: Kiến thức, thực hành, năng lực quản lý của Điều dưỡng trưởng: Sự hài lòng của người bệnh, cán bộ quản lý:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status