1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều dưỡng là một nghề vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật.
Người điều dưỡng dựa vào kiến thức, thái độ, kỹ năng của mình để giúp đỡ cá nhân, gia
đình, cộng đồng trong việc duy trì, nâng cao sức khoẻ, phòng ngừa bệnh tật, giảm đau
đớn về thể chất, tinh thần và biết cách tự chăm sóc nhằm đáp ứng nhu cầu sức khoẻ [79].
Nghị quyết số 46/NQ-TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về "Bảo vệ, chăm
sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới" đã chỉ ra rằng: Nhu cầu chăm
sóc sức khoẻ của nhân dân ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng và toàn diện [4].
Để không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh, đặc biệt thực
hiện quy chế chăm sóc người bệnh toàn diện của Bộ Y tế, cần thiết phải có hệ thống
Điều dưỡng trưởng có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý điều dưỡng [13], [87].
Bên cạnh đó Sanders, Davidson and Price (1996) chỉ ra rằng, Điều dưỡng
trưởng khoa là người chuyển tải các mục tiêu, sự định hướng, các tiêu chí của tổ
chức y tế (bệnh viện, khoa, phòng, trung tâm điều dưỡng) từ góc độ quản lý sang
thực hành lâm sàng; họ là người kết nối sự định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của tổ
chức với người cung cấp dịch vụ chăm sóc hàng ngày cho người bệnh. Điều dưỡng
trưởng khoa không chỉ là người chịu trách nhiệm quản lý mà họ còn là người chịu
trách nhiệm cho các hoạt động chăm sóc người bệnh tại khoa phòng trong suốt 24h
[16], [33].
Ở nước ta, hệ thống Điều dưỡng trưởng là cấp quản lý đầu tiên của bệnh
viện. Điều dưỡng trưởng khoa chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các y lệnh của
thầy thuốc, công tác quản lý nguồn lực và hành chính khoa. Vì vậy chất lượng chăm
sóc, phục vụ người bệnh, sử dụng nguồn lực có hiệu quả phụ thuộc đáng kể của hệ
thống Điều dưỡng trưởng. Theo điều tra của Hội Điều dưỡng Việt Nam (2007),
Điều dưỡng trưởng nói chung có trình độ chuyên môn trung cấp chiếm 84,8 %, Cao
đẳng 7,2 %, Đại học 7,8% và sau đại học là 0,2 %. Về quản lý điều dưỡng, được
đào tạo chiếm tỷ lệ 37,8 %, hiệu quả công tác lãnh đạo điều hành, tham gia hoạt
động đào tạo, hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn chỉ thực hiện tốt 33,7 % [43], [44].
1.1 Một số khái niệm và định nghĩa liên quan:
1.1.1 Khái niệm chung về năng lực:
- Theo quan điểm của những nhà tâm lý học Năng lực là tổng hợp các đặc
điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt
động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực
hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân, năng lực của con người
không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có.
Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng
lực chuyên môn.
+ Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau
như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực tưởng
tượng...
+ Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của
xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán
học... Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau,
năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng phát triển thì
càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn. Ngược lại sự phát triển của năng lực
chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển
của năng lực chung.
+ Trí thức là những hiểu biết thu nhận được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh
nghiệm cuộc sống của mình.
+ Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm vào thực tế để
tiến hành một hoạt động nào đó.
+ Kỹ xảo là những kỹ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục
cho phép con người không phải tập trung nhiều ý thức và việc mình đang làm. Còn
năng lực là một tổ hợp phẩm chất tương đối ổn định, tương đối cơ bản của cá nhân,
cho phép nó thực hiện có kết quả một hoạt động.
4
5
+ Hoàn thành từ ≥ 90% nhiệm vụ:
4 điểm
+ Hoàn thành từ 70 - 89 % nhiệm vụ:
3 điểm
+ Hoàn thành từ 50 - 69% nhiệm vụ:
2 điểm
+ Hoàn thành từ < 50% nhiệm vụ:
1 điểm
+ Không làm:
0 điểm
Dựa vào cách cho điểm trên, lượng giá được khả năng hoàn thành từng
nhiệm vụ của điều dưỡng trưởng (ĐDT), từ đó tính được tổng điểm ĐDT đạt được
khi thực hiện tất cả các nhiệm vụ được giao.
1.3.1.2 Đánh giá về năng lực quản lý Điều dưỡng trưởng:
Căn cứ xếp loại kết quả học tập kết thúc năm học của qui chế đào tạo ban
hành kèm theo Quyết định số 25/2006/QĐ-BGDĐT ngày 26/06/2006 của Bộ Giáo
Khá
≥ 70 - 79% tổng điểm
≥ 59 – 67 đ
≥ 98 – 111 đ
≥ 157 – 179 đ
TB
≥ 50 - 69% tổng điểm
≥ 42 – 58 đ
≥ 70 - 97 đ
≥ 112 – 156 đ
Kém
< 50% tổng điểm
< 42 đ
< 70 đ
< 112
Khá
≥ 70 - 79% tổng điểm
≥ 280 – 319 đ
≥ 280 – 319 đ
≥ 560 – 639 đ
TB
50 - 69% tổng điểm
≥ 200 – 279 đ
≥ 200 – 279 đ
≥ 400 – 559 đ
Kém
< 50% tổng điểm
< 200 đ
< 200 đ
< 400
Để trở thành một ĐD, nền tảng học tập cơ bản cho mười hai năm và giáo dục
ĐD cơ bản ba năm. Để trở thành một ĐD sức khỏe công cộng hoặc NHS, đào tạo
ĐD cộng với một hoặc nhiều năm giáo dục là bắt buộc. Nhân viên điều dưỡng nước
ngoài muốn làm việc tại Nhật Bản được yêu cầu qua bước kiểm tra ĐD quốc gia để
có được một giấy phép hành nghề bởi vì giấy phép ĐD ở nước ngoài không được
chấp nhận tại Nhật Bản.
8
Giấy phép trợ lý ĐD không được ban hành của Bộ trưởng mà thống đốc
quận. Tuy nhiên, trợ lý ĐD cần có giấy phép không chỉ làm việc trong tỉnh, mà còn
bất cứ nơi nào ở Nhật Bản. Thời hạn đào tạo cho trợ lý ĐD là hai năm. Dịch vụ ĐD
của họ yêu cầu các đơn đặt hàng của một nha sĩ, bác sĩ hoặc ĐD [16], [137], [138].
Trình độ chuyên môn ĐD Nhật Bản không có bất kỳ hệ thống đổi mới, kéo
dài cho phần còn lại cuộc sống của họ. Tuy nhiên, khuynh hướng bao gồm hủy bỏ
giấy phép có thể được trả lại như là căn cứ để truất quyền hành nghề được quy định
bởi luật pháp hoặc trong trường hợp hành vi đó vi phạm nhân phẩm. Về tổ chức:
- Có 01 ĐDT viện; 02 phó viện;
- Điều dưỡng trưởng khoa và phó khoa
- Điều dưỡng viên: ĐD chính; ĐD thực hành và Trợ lý ĐD.
1.2.1.2 Hoa kỳ: Có 4 chức danh liên quan đến ĐD:
Phụ tá bác sỹ: Physian assistan (PA) tương tự như y sỹ trước đây. Trình độ
cử nhân, sau đó phải học thêm 2 năm chuyên ngành. Sau khi hoàn thành chương
trình, phụ tá bác sỹ phải vượt qua kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề cấp quốc gia. Phụ
tá bác sỹ ở một số bang được phép kê đơn thuốc, tuy nhiên không làm việc độc lập
mà dưới sự giám sát của thầy thuốc.
Điều dưỡng viên (ĐDV) chuyên ngành: Nurse practitioner (NP), để trở
thành NP trước hết phải là RN, cá nhân phải học tiếp để có bằng thạc sỹ điều dưỡng
chuyên khoa, qua kỳ thi quốc gia để được cấp bằng hành nghề NP.
4 năm
+ Thạc sỹ khoa học điều dưỡng (Master of nursing science): 2 năm
+ Tiến sỹ khoa học điều dưỡng (PhD of nursing Science):
3 năm
1.2.1.4 Hà Lan: Trình độ điều dưỡng có 5 cấp độ:
+ Trình độ 4 và 5 (level 4,5 – Nurse):
4 năm
+ Trình độ 3 (level 3 – Care worker):
3 năm
+ Trình độ 2 (level 2 – Care helper):
2 năm
+ Trình độ 1 (Level 1 – Care assistant):
1 năm
Ở một số quốc gia khác như Úc, Anh, Thụy Điển, Canada các trường thường
đào tạo ĐD chuyên khoa như ĐD hồi sức cấp cứu, ĐD nhi, ĐD sức khỏe tâm thần
[80], [119], [120], [122], [124], [126], [139], [143], [144], [146], [150].
1.2.2 Tại Việt Nam:
1.2.2.1 Hệ thống tổ chức ngành Điều dưỡng:
ở các khoa. Hướng dẫn ĐDTK xây dựng bảng mô tả công việc cho ĐD, hộ sinh,
KTV và hộ lý trong bệnh viện. Tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH), huấn luyện
và chỉ đạo tuyến trong lĩnh vực CSNB. Dự trù, phân bổ vật tư tiêu hao và dụng cụ y
tế cho công tác chăm sóc phục vụ người bệnh và giám sát sử dụng vật tư tiêu hao
đảm bảo tiết kiệm và chống lãng phí. Hướng dẫn và kiểm tra việc ghi sổ sách, phiếu
theo dõi, phiếu chăm sóc cho ĐD, HS, KTV và hộ lý trong bệnh viện. Chỉ đạo và
giám sát công tác vệ sinh buồng bệnh, buồng thủ thuật. Uỷ viên thường trực kiêm
thư ký hội đồng người bệnh cấp bệnh viện. Định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo công
tác ĐD lên giám đốc bệnh viện [8].
Quyền hạn: Chủ trì giao ban phòng hàng ngày và dự giao ban bệnh viện. Chủ trì các
cuộc họp của ĐDTK, bệnh viện. Đề xuất ý kiến với giám đốc về vấn đề tuyển dụng,
thuyên chuyển, khen thưởng, kỷ luật, tăng lương và học tập đối với ĐD, HS, KTV
11
và hộ lý. Đề nghị với giám đốc bệnh viện về việc bổ nhiệm hoặc thôi chức vụ
ĐDTK, NHS trưởng khoa, và KTV trưởng khoa. Điều động tạm thời ĐD và hộ lý
khi cần để kịp thời chăm sóc và phục vụ người bệnh. Đề nghị cấp phát bổ sung vật
tư tiêu hao cho các khoa khi có yêu cầu đột xuất. Được tham gia các hội đồng theo
quy định của Nhà nước và sự phân công của giám đốc [8], [9], [23], [97].
* Điều dưỡng trưởng khoa:
Nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện công tác chăm sóc người bệnh toàn diện. Hàng ngày
đi thăm người bệnh. Nhận các y lệnh về điều trị và chăm sóc của trưởng khoa để tổ
chức thực hiện. Quản lý buồng bệnh và kiểm tra công tác vệ sinh, vô khuẩn chống
nhiễm khuẩn trong khoa. Kiểm tra, đôn đốc ĐD, HS và hộ lý thực hiện y lệnh của
bác sĩ điều trị, quy chế bệnh viện, quy trình kỹ thuật bệnh viện, báo cáo kịp thời
trưởng khoa các việc đột xuất, những diễn biến bất thường của người bệnh để kịp
thời xử lý. Lập kế hoạch và phân công công việc cho ĐD, HS và hộ lý trong khoa.
Tham gia công tác đào tạo cho ĐD, HS, học viên, hộ lý và tham gia công tác chỉ
Điều dưỡng sơ cấp (tốt nghiệp sơ cấp điều dưỡng)
-
Điều dưỡng trung cấp (tốt nghiệp trung cấp điều dưỡng)
-
Điều dưỡng cao đẳng (tốt nghiệp cao đẳng điều dưỡng)
-
Điều dưỡng (tốt nghiệp cử nhân điều dưỡng)
-
Điều dưỡng chính (thạc sỹ điều dưỡng hoặc chuyên khoa 1 điều dưỡng).
1.3 Mô hình quản lý Điều dưỡng:
- Mô hình QLĐD là khuôn khổ công việc trừu tượng, liên kết các sự kiện và
hiện tượng, hỗ trợ người ĐD lên kế hoạch CSĐD, điều tra các vấn đề liên quan đến
thực hành lâm sàng, nghiên cứu các kết quả của hành động và can thiệp ĐD [136].
- Mô hình phân công chăm sóc là phương pháp phân công công việc mà việc
chăm sóc được phân phối tới người bệnh nhằm cá biệt hoá và thoả mãn nhu cầu cơ
bản của họ thông qua sự chăm sóc thích hợp của người ĐD [16], [83], [100].
- Chăm sóc người bệnh toàn diện (CSTD):
+ Là sự theo dõi chăm sóc, điều trị của Bác sĩ, ĐD nhằm đáp ứng nhu cầu cơ
bản của người bệnh cả về thân thể và tinh thần trong thời gian nằm điều trị tại bệnh
viện, không áp dụng hình thức phân công theo công việc [13], [16].
Tuỳ theo quan điểm của từng quốc gia, các chuyên gia đầu ngành ĐD, nhưng
nhìn chung có 4 loại mô hình phân công chăm sóc [9], [16], [83], [100], [102], [108],
[132], [134], [152]: Chăm sóc theo người bệnh/ chăm sóc toàn diện; Điều dưỡng
chức năng hay phân công chăm sóc theo công việc; Chăm sóc theo đội nhóm hay
theo đơn nguyên và Điều dưỡng ban đầu.
14
1.3.2 Tình hình áp dụng Mô hình quản lý điều dưỡng:
1.3.2.1 Trên Thế giới:
Mô hình phân công chăm sóc đã và đang được thực hiện tại cơ sở y tế của
nhiều nước, mỗi nước có thể áp dụng một hay nhiều mô hình, thậm chí trong một
bệnh viện, mỗi khoa có thể áp dụng một trong 4 loại mô hình. Tuỳ theo từng giai
đoạn, điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tính chất chức năng,
nhiệm vụ của từng khoa, bệnh viện mà mô hình chăm sóc khác nhau [133]:
Theo Marquys và Huston (Mỹ, 1992) Chăm sóc người bệnh toàn diện (Total
patient care) là mô hình phân công chăm sóc cổ nhất, nó xuất hiện từ thế kỷ XIX và
được áp dụng CSNB tại cả bệnh viện và gia đình. Trong mô hình này, một ĐDV
chịu trách nhiệm chăm sóc hoàn toàn cho một vài người bệnh trong suốt cả ca làm
việc của họ. Điều cơ bản nhất là người ĐD phải có đủ năng lực để độc lập CSNB.
Mô hình này hiện vẫn còn đang được áp dụng khá phổ biến ở một số khoa như
khoa Hồi sức tích cực và các nước đang phát triển [121].
Mô hình phân công chăm sóc theo chức năng nhiệm vụ hay công việc
(Functional nursing) được áp dụng trong suốt thời gian chiến tranh thế giới thứ II để
đáp ứng nhu cầu phục vụ tại thời điểm đó. Việc chăm sóc được chia thành những
nhiệm vụ nhỏ, mỗi ĐD được giao thực hiện một hoặc hai nhiệm vụ cố định trên một
nhóm người bệnh hoặc trên toàn bộ bệnh nhân trong khoa dưới sự chỉ đạo của
ĐDTK. Hiện nay mô hình chăm sóc này bị phê phán nhiều vì có nhiều sơ suất do
những diễn biến bất thường hoặc do những nhu cầu chăm sóc của người bệnh xuất
trưởng có đủ kinh nghiệm hơn thì người ĐDT có thể uỷ quyền cho họ việc quản lý
với thời gian dài hơn, lĩnh vực quản lý rộng hơn và bản thân người ĐDT sẽ có nhiều
thời gian hơn để thực hiện trách nhiệm khai thác, sử dụng và quản lý kinh phí, tài
sản, thuốc men, nhân lực như tuyển dụng, phân công, tư vấn, đánh giá, khen
thưởng và kỷ luật nhân viên ĐD [151].
Mô hình điều dưỡng theo nhóm (Modular Nursing là mô hình cải tiến của
mô hình chăm sóc theo đội và chăm sóc ban đầu. Sự phân công chăm sóc trong mô
hình này là nhóm chăm sóc người bệnh theo địa dư. Nhóm ở mô hình này nhỏ hơn
mô hình chăm sóc đội, mỗi nhóm gồm 2 - 3 điều dưỡng chăm sóc một số bệnh
nhân. Mỗi nhóm có một trưởng nhóm có trình độ cử nhân và hai hoặc ba ĐDV có
thể có ít kinh nghiệm hơn hoặc trình độ thấp hơn. Trưởng nhóm có trách nhiệm lập
16
kế hoạch chăm sóc cho tất cả bệnh nhân trong nhóm và hướng dẫn ĐDV trong
nhóm thực hiện các hoạt động CSNB. Mô hình chăm sóc này đảm bảo người bệnh
được một nhóm nhỏ ĐDV chăm sóc, duy trì được liên tục trong chăm sóc và giải
quyết được những vấn đề khó khăn như đã nêu ở những mô hình chăm sóc đề cập
trên đây.
Hơn nửa thế kỷ qua, nhiều nhà quản lý điều dưỡng đã tranh luận nhiều về mô
hình phân công chăm sóc, song họ chưa phân định mô hình nào là tốt nhất với lý
luận rằng mỗi người bệnh có nhu cầu chăm sóc riêng nhau, mỗi cơ sở y tế có đặc
thù riêng nên mô hình chăm sóc này phù hợp với bệnh nhân hoặc cơ sở y tế này
nhưng chưa chắc đã phù hợp với nhu cầu hoặc đặc điểm của bệnh nhân hoặc cơ sở y
tế khác [130], [131].
Hiện nay tại các cơ sở y tế của Mỹ và nhiều nước đang sử dụng mô hình
chăm sóc theo đội (Nursinh care team module). Một đội chăm sóc bao gồm bác sỹ,
dược sỹ, nhân viên vật lý trị liệu, ĐD (RN, PN, PA, LPN) và người nhà bệnh nhân,
trong đó ĐD là đội trưởng, các thành viên làm việc theo trình độ và giấy phép hành
Mô hình phân công chăm sóc theo nhóm phù hợp với điều kiện tại Bệnh viện,
tất cả các khoa lâm sàng áp dụng mô hình chăm sóc theo nhóm. Trưởng khoa và
ĐDTK phân chia số lượng nhóm cho phù hợp với giường bệnh và nhân lực của
khoa. Mỗi nhóm chăm sóc bao gồm Bác sỹ, ĐD, Hộ lý:
+ Bác sỹ là người quyết định phương pháp điều trị.
+ Điều dưỡng là người thực hiện các y lệnh điều trị, trực tiếp chăm sóc
người bệnh, hướng dẫn Hộ lý, thân nhân phối hợp cùng chăm sóc người bệnh.
+ Hộ lý: phụ Điều dưỡng cùng chăm sóc người bệnh.
Bác sỹ trưởng khoa phân công Bác sỹ điều trị theo buồng hay giường bệnh.
ĐDTK phân công ĐDT nhóm. ĐD chăm sóc, Hộ lý theo buồng hay giường bệnh
phù hợp với điều kiện thực tế tại khoa. Trong mỗi nhóm ĐDCS do ĐDT nhóm có
trình độ tay nghề vững vàng quản lý, chịu trách nhiệm lập kế hoạch chăm sóc cho
tất cả các bệnh nhân trong nhóm, hướng dẫn ĐD nhóm thực hiện các hoạt động
CSNB. ĐDCS đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người bệnh cả về thể chất, tinh
thần và xã hội theo phân cấp chăm sóc. Hướng dẫn thân nhân cùng chăm sóc [68].
Quy chế CSNBTD do Bộ Y tế ban hành đã quy định rõ "...không áp dụng
hình thức phân công theo công việc" và "mỗi người bệnh phải được một bác sỹ và
18
một y tá (điều dưỡng) chịu trách nhiệm cụ thể về điều trị và chăm sóc toàn diện".
Quy chế đã nhấn mạnh vào mô hình phân công chăm sóc và trách nhiệm cụ thể của
các cá nhân trong chăm sóc. Quy chế vừa đề cập tới chuyển đổi phương thức phân
công chăm sóc từ lấy công việc làm trung tâm sang lấy người bệnh làm trung tâm,
vừa mở rộng nội dung chăm sóc không chỉ dịch vụ y tế mà còn đáp ứng những
nhu cầu cơ bản của một con người cả về thể chất, tinh thần và xã hội [25].
CSNBTD được coi là giải pháp cơ bản để nâng cao sự hài lòng của người
bệnh, cũng như nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và uy tín của bệnh viện. Tại
các bệnh viện, công tác này được thực hiện với nhiều mô hình: theo người bệnh,
liên quan (bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý, dược...). Nội dung chăm sóc toàn diện bao gồm
về chăm sóc y tế (chữa bệnh); thể chất (ăn mặc, ở, vệ sinh); tinh thần (phong cách
giao tiếp, thời gian tiếp xúc người bệnh). Nhờ đó, góp phần áp dụng nhiều tiến bộ
khoa học công nghệ về chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh và từng bước
thực hiện kỹ thuật CSNB chuyên sâu.
Tại Bệnh viện Chợ Rẫy, CSNBTD cũng thực hiện theo mô hình lấy người
bệnh làm trung tâm với sự tham gia tích cực của các bộ phận từ lâm sàng, cận lâm
sàng cũng như vệ sinh, dinh dưỡng... người bệnh và người nhà người bệnh. Trên cơ
sở những nhu cầu chính đáng của người bệnh để tổ chức thực hiện đáp ứng nhu cầu
đó. Cán bộ y tế thường xuyên giao tiếp, giải thích tường tận, động viên an ủi, trao
đổi với người bệnh và người nhà người bệnh với các hình thức "ba không": không
nặng lời, không thờ ơ, không từ chối; "ba công đoạn": xin phép, xin lỗi, cảm ơn.
CSNBTD là dịch vụ hết sức quan trọng, giúp nâng cao chất lượng khám,
chữa bệnh, làm người bệnh hài lòng là xu thế tất yếu đối với các bệnh viện. Nhưng
phần lớn các bệnh viện đang gặp nhiều khó khăn, thách thức trong việc triển khai
loại hình dịch vụ này. Khó khăn đến từ cả trong và ngoài bệnh viện. Các yếu tố bên
trong là bệnh viện thiếu nhân lực, tình trạng quá tải, chi phí y tế tăng cao, chính
sách cho cán bộ y tế thiếu. Ngoài ra, nhiều lãnh đạo bệnh viện nhận thức chưa đầy
đủ về CSNBTD, chưa quan tâm xây dựng và củng cố hệ thống y tá - ĐD, phương
tiện chăm sóc... Các yếu tố bên ngoài là nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân tăng
trong khi đó chi phí của nhà nước cho khám chữa bệnh giảm. Nhiều ý kiến cho
rằng, chăm sóc toàn diện bao hàm cả chăm sóc liên tục, nghĩa là người bệnh được
20
chăm sóc, quản lý tiếp tục sau khi xuất viện. Nhưng hiện tại vấn đề này đang bị bỏ
ngỏ. Theo TS Trần Quý Tường, Phó Cục trưởng Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y
tế), để bảo đảm sự hài lòng của người bệnh, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
và tăng uy tín của đơn vị, các cơ sở khám chữa bệnh phải đẩy mạnh công tác