Mục lục
I.Mở đầu 1
II. Sự hình thành tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường 1
1.Hoàn cảnh kinh tế nước ta những năm 80 thế kỷ 20
2.Hình thành sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
III. Những nét đổi mới tư duy của Đảng về kinh tế thị trường qua các
kỳ Đại hội 3
1.Từ Đại hội VI đến Đại hội VIII
2.Từ Đại hội IX đến Đại hội XI
IV. Những thành tựu đạt được sau 20 năm đổi mới 6
V. Hướng giải quyết và mục tiêu phát triển của Đảng về kinh tế thị
trường trong những năm tới 9
VI. Kết luận 13
Tài liệu tham khảo 14
I.Mở đầu
Nhìn lại chặng đường nước ta sau 20 năm đổi mới có những bước tiến bộ vượt
bậc. Từ một nền kinh tế tập trung bao cấp đã trở thành một nền kinh tế thị trường
(KTTT) định hướng XHCN với rất nhiều thành tựu rực rỡ .Các ngành nghề phát
triển nhanh chóng ,đa dạng ,năng động.Đời sống nhân dân ngày càng được cải
thiện rõ rệt về nhiều mặt như kinh tế , giáo dục ,y tế …
Việt Nam đang trong xu hướng hội nhập quốc tế và dần khẳng định vị thế của
mình trên trường quốc tế. Nước ta trong thời điểm hiện tại vẫn còn là một nước
nghèo, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, nông nghiệp vẫn chiếm vai trò
quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế. Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã
khẳng định quyết tâm đẩy mạnh Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa sớm đưa nước ta
thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu,kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp.
Để đạt được những mục tiêu đó bên cạnh phải tận dụng những ngồn lực vốn có
như tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, khoa học kỹ thuật, vốn đầu tư …thì
Đảng ta cần có tư duy đổi mới đúng đắn nhất là về lĩnh vực phát triển kinh tế. Đó
vừa cho nên việc sử dụng kém hiệu quả, sinh ra cơ chế “xin cho”.Thủ tiêu cạnh
tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học – công nghệ, không kích thích tính năng động
sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh. Tất cả những điều đó làm cho một
số nước XHCN khác lâm vào tính trạng khủng hoảng,trì trệ.
2.Hình thành sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
Dưới thời kỳ bao cấp chúng ta chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị
trường, quá coi trọng việc thực hiện kế hoạch hóa theo phương hướng xã hội chủ
nghĩa, muốn xóa bỏ ngay chế độ sở hữu tư nhân và kinh tế cá thể, trong khi đó
không thừa nhận thực tế sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần rất năng
động phát triển mà lấy kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu. Dưới sức ép nền
kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ khủng hoảng, chúng ta đã có những bước đi đầu
chuyển sang hướng thị trường mặc dù chưa triệt để, ví dụ như: khoán sản phẩm,
bù giá vào lương, Nghị quyết TW khóa V về giá-lương-tiền, thực hiện Nghị định
25-CP và 26-CP của Chính phủ… Đó là những nét mới khi chúng ta bắt đầu cải
cách để đến khi Đại hội VI họp chính thức ,Đảng ta đã đi đến quyết định :” Việc
- 2 -
bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với quản lý kinh tế. Cơ chế quản lý tập trung
quan liêu bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được động lực phát triển, làm suy
yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần
kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây
rối loạn trong phân phối lưu thông, và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã
hội” [3,387]. Như vậy, về cơ bản đất nước đã chính thức đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế theo hướng thị trường.
III. Những nét đổi mới tư duy của Đảng về kinh tế thị trường qua
các kỳ Đại hội
1.Từ Đại hội VI đến Đại hội VIII
Đại hội VI được họp vào ngày 18/12/1986. Trong lúc hoàn cảnh tình hình kinh
tế diễn ra theo chiều hướng xấu, Đại hội đã thông qua những nghị quyết quan
trọng ,đánh giá tình hình, những tồn tại yếu kém “Đại hội chủ trương đổi mới
một cách toàn diện, trong đó đổi mới tư duy lý luận là cơ bản, đổi mới tư duy
nghĩa xã hội.
Ba là, có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta ” [1,146-148-149].
Đánh giá được đúng tầm quan trọng của kinh tế thị trường là bước đi đúng đắn
của Đảng và Nhà nước ta.Tiếp tục kế thừa và phát triển nền kinh tế đất nước theo
con đường đinh hướng xã hội chủ nghĩa lên mức cao nhất.
2.Từ Đại hội IX đến Đại hội XI
Định hướng bước đi của nền kinh tế đất nước ta đã rõ ràng, nhưng việc thực
hiện gặp nhiều khó khăn và thách thức vì đây là mô hình kinh tế mới, phải đảm
bảo theo đúng con đường xã hội chủ nghĩa. Đại hội IX diễn ra từ ngày 19/4 đến
22/4/2001 với mục tiêu thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến
năm 2010. Đại hội đã thảo luận và thông qua các văn kiện như: Báo cáo chính
trị; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010; phương hướng, nhiệm vụ,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005. Đánh giá những thành tựu
đạt được trong 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
(1991-2000). Xác định nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là “mô hình kinh
tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội” ,” một kiểu
tổ chức kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở
- 4 -
và chịu sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”
[4] .Dùng kinh tế thị trường để phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để
xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội nhằm nâng cao đời sống
nhân dân.Tính định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện trên ba mặt của quan
hệ sản xuất: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. “ Tính định hướng xã hội chủ
nghĩa làm cho mô hình kinh tế thị trường ở nước ta khác với kinh tế thị trường tư
bản chủ nghĩa ” [1,152]. “Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam là
Đại hội "Trí tuệ, Dân chủ, Đoàn kết, Đổi mới", thể hiện ý chí kiên cường và
niềm hy vọng lớn lao của cả dân tộc Việt Nam vì sự nghiệp dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.”[4].
Kế thừa và phát huy theo con đường đó, Đại hội X đã diễn ra ngày 18/4 đến
phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, khuyến
khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, tăng cường đồng thuận
xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh.
- Về mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế, chủ thể kinh tế, trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần phát huy quyền tự do kinh doanh
theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã
hội; mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng,
cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh,
trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
- Về mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và độc lập, tự chủ, phải chủ động, tích
cực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế.
- Về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, xã hội, phát triển
kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội. Công bằng trong phân phối các yếu tố sản xuất, tiếp cận các cơ hội kinh
doanh và phân phối kết quả làm ra.
- Phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý nền kinh tế của Nhà nước, chú trọng phát
huy mặt tích cực, khắc phục mặt trái, tiêu cực của cơ chế thị trường; phát huy
quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế.
IV. Những thành tựu đạt được sau 20 năm đổi mới
- 6 -
Với những bước đi đúng đắn về cách thay đổi tư duy, hơn 20 năm qua, kể từ
khi Việt Nam bước vào thực hiện mô hình Kinh tế thị trường định hướng
XHCN, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả và thành tựu đáng kể,
làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước.
Tốc độ tăng trưởng, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thời kỳ 1992-1997 tăng
bình quân 8,75%/năm. Thời kỳ 2000-2007: 7,55%/năm. Năm 2008 do chịu ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng GDP vẫn đạt
6,23%.GDP/người/năm: 1995 là 289 USD, năm 2005 là 639 USD, năm 2007:
835 USD và năm 2008 đạt 1.024 USD. Cơ cấu thành phần kinh tế: Khu vực kinh
Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với gần 170 nước và vùng lãnh thổ; mở rộng
quan hệ kinh tế thương mại với 221 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngoài ra, Việt
Nam còn là thành viên chính thức của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực,
và điều đáng nói nhất là năm 2007 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức
thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Phúc lợi xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của người dân cũng được cải
thiện rõ rệt. Theo đánh giá của Liên hiệp quốc, Việt Nam về đích trước 10 năm
với mục tiêu xoá đói giảm nghèo trong thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ. Trong
20 năm qua, công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt,
vượt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Từ năm 2000 đến năm
2005, tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động. Năm 2005, thất nghiệp ở thành thị
giảm xuống còn 5,3%; thời gian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 80%.
Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh từ 200 USD năm 1990 lên khoảng 640
USD năm 2005. Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm
1992 xuống dưới 7% năm 2005. Theo chuẩn quốc tế (1 USD/người/ngày) thì tỷ
lệ đói nghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 28,9% năm
2002.
Chỉ số phát triển con người được nâng lên, từ mức dưới trung bình (0,498)
năm 1990, tăng lên mức trên trung bình (0,688) năm 2002; năm 2005 Việt
Nam xếp thứ 112 trên 177 nước được điều tra;
Mạng lưới y tế được củng cố và phát triển, y tế chuyên ngành được nâng cấp,
ứng dụng công nghệ tiên tiến; việc phòng chống các bệnh xã hội được đẩy mạnh;
tuổi thọ trung bình từ 68 tuổi năm 1999 nâng lên 71,3 tuổi vào năm 2005.
- 8 -
Đánh giá về thành công của quá trình đổi mới, Đại hội lần thứ X của Đảng đã
khẳng định: “Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là
đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Nhận thức về CNXH và
con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận và
công cuộc đổi mới, về xã hội XHCN và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam đã
hình thành trên những nét cơ bản”
định, là nơi đầu tư hết sức lý tưởng cho các nhà đầu tư nước ngoài, không ít quốc
gia lớn, có tiềm lực kinh tế xem Việt Nam là đối tác kinh tế chiến lược. Những
thành tựu đạt được trong đổi mới tư duy kinh tế của Đảng trong thời gian qua là
hết sức to lớn, có thể ví như một cuộc cách mạng thật sự về kinh tế đối với nước
ta. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những thành tựu bước đầu, để đạt được mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” việc tiếp tục đổi
mới mạnh mẽ tư duy lý luận về kinh tế của Đảng đang là đòi hỏi khách quan với
các yếu tố cơ bản sau:
Một là, sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Đặc trưng của nền kinh tế tri thức
là sử dụng có hiệu quả tri thức và những sáng tạo mới của con người để đẩy
nhanh tốc độ đổi mới sản phẩm và công nghệ. Nền kinh tế tri thức là điều kiện
thuận lợi, là phương tiện để các quốc gia tăng tốc phát triển kinh tế. Sự xuất hiện
của nền kinh tế tri thức, một mặt tạo cơ hội cho chúng ta tiếp cận những thành
tựu của nhân loại, mặt khác nó buộc chúng ta phải đổi mới tư duy trong ban hành
và tổ chức thực hiện chính sách kinh tế.
Hai là, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Toàn cầu hóa, hội nhập kinh
tế quốc tế là điều kiện hết sức thuận lợi để các quốc gia đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế, đồng thời cũng tạo nên những thách thức không nhỏ đối với các
quốc gia. Toàn cầu hóa tạo điều kiện giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia, trên cơ
sở đó các quốc gia có thể tiếp thu những thành tựu của văn minh nhân loại để
phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội. Nó là quá trình vừa hợp tác để phát triển,
vừa đấu tranh rất phức tạp để tồn tại, đặc biệt là đấu tranh giữa các nước đang
phát triển để bảo vệ lợi ích của mình, trong đó có Việt Nam. Toàn cầu hóa tạo
điều kiện thuận lợi cho các quốc gia thực hiện công cuộc cải cách của mình,
đồng thời cũng là yêu cầu, sức ép đối với các quốc gia trong việc đổi mới và
hoàn thiện thể chế kinh tế, đặc biệt là các chính sách và phương thức quản lý vĩ
- 10 -
mô. Toàn cầu hóa tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện mới cho sự phát triển
của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở trình độ phát triển ngày càng
cao của lực lượng sản xuất, là điều kiện để khơi thông các nguồn lực trong và
đổi mới tư duy kinh tế để tiếp tục cải thiện vị thế của mình trong cộng đồng kinh
tế quốc tế.
Bốn là, những bất cập của thực tiễn cuộc sống. Sự phát triển kinh tế trong thời
gian qua, đặc biệt là sự tăng lên mạnh mẽ số lượng các doanh nghiệp và huy
động vốn đầu tư đang gặp những rào cản. Đó là tình trạng ban hành chính sách
kinh tế chưa phù hợp với thực tế, còn có những bất cập trong việc ban hành và
thực thi chính sách, nhất là chính sách đất đai và tín dụng. Môi trường kinh
doanh chưa thật sự thuận lợi. Hiện nay, tiềm lực nội tại của nền kinh tế nước ta
vẫn còn rất lớn, nguồn vốn trong dân còn nhiều nhưng chưa được sử dụng vào
đầu tư phát triển kinh tế. Trong một số khu vực kinh tế đã có dấu hiệu chững lại.
Sự phát triển kinh tế đang kéo theo nhiều vấn đề cần phải giải quyết như khoảng
cách giàu nghèo ngày càng lớn, tài nguyên và môi trường bị ảnh hưởng nặng nề,
năng suất lao động và hiệu quả kinh tế còn thấp, chất lượng tăng trưởng kinh tế
chưa cao Như vậy Đảng ta cần có những hướng đi cụ thể sau :
- Phát triển đồng bộ các loại thị trường
- Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, ḥòa bình, hợp tác và
phát triển. Chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan
hệ quốc tế
- Phát huy tối ưu các lợi thế so sánh của đất nước trong phân công lao động và
hợp tác quốc tế, trên cơ sở đó tạo ra những đột phá mới về kinh tế.
- Phát triển nền kinh tế theo hướng hiện đại, có sức cạnh tranh cao.
- Lấy con người làm trung tâm phát triển.
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả và năng lực quản lý của nhà nước trong kinh tế.
- Thực hiện tốt mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vừa bảo đảm tránh tụt
hậu nền kinh tế và bảo đảm các bước đi vững chắc trên con đường độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội
- Nhận thức lại những luận điểm, mô hình phát triển kinh tế của các nước phát
triển
- 12 -
VI. Kết luận