Tiểu luận
Tư duy mới của Đảng về Kinh tế thị trường
trong 20 năm đổi mới ở nước ta
1
MỤC LỤC
Trang
A.Mở đầu…………………………………………………….…….2
B.Nội dung……………………………………………………… 4
I.Bối cảnh thế giới và trong nước khi Đảng
đổi mới tư duy…………………………………………… …….4
II.Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế
thị trường thời kì đổi mới……………………… ………… ….8
vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Quan điểm về mô
hình nền kinh tế trong thời kỳ quá độ đã thay đổi căn bản và đến nay đã được
xác lập, đó là nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa không chỉ có
hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể mà tồn tại nhiều thành phần kinh tế
khác nhau.
Việt Nam đang dần khẳng định vai trò của mình trên trường quốc tế. Tuy
nhiên nước ta vẫn còn là một nước nghèo, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng
khá lớn trong nền kinh tế quốc dân. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tệ
nạn xã hội tham ô tham nhũng vẫn tồn tại và phát triển. Đảng và Nhà nước đã
khẳng định quyết tâm dẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, định hướng XHCN, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo
3
nàn, lạc hậu, kém phát triển để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp.
Và trong xu thế hội nhập kinh tế, Việt Nam đang trên đường phát triển
công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Bên cạnh việc đặt nhiệm vụ bảo vệ chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước là tiêu chí hàng đầu thì một vấn đề không
kém phần quan trọng và cần thiết đó là phát triển nền kinh tế . Bởi vì khi một đất
nước nghèo nàn, lạc hậu thì cũng đồng nghĩa với đất nước đó sẽ trở thnàh thuộc
địa về kinh tế của những nuớc phát triển. Vì thế, để phát triển kinh tế thì ngoài
việc chúng ta cần phải phát huy và tận dụng rất nhiều nguồn lực như: nguồn lực
tự nhiên, nguồn nhân lực, vốn đầu tư, khoa học thì Đảng ta cần có một đường
lối tư duy đúng đắn để phát triển nền Kinh tế thị trường ở nước ta.
Sự thay đổi tư duy về kinh tế thị trường trong hơn 20 đổi mới ở nước ta-
một sự thay đổi mang tính quyết định của cả nền kinh tế và nó đã góp phần giúp
chúng ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, nghèo nàn, lạc hậu, đưa nước ta trở
Những năm 70 – 80 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế - chính trị trên thế
giới và của các nước khối chủ nghĩa xã hội có ảnh hưởng to lớn đến tình hình
kinh tế Việt Nam ,thể hiện cụ thể:
Xu thế hợp tác và cạnh tranh trên thế giới đang dần thay thế xu thế đối đầu
và xung đột. Trước tình hình đó, các quốc gia đều phải thay đổi về tư duy, chính
sách phát triển kinh tế đặc biệt là đường lối đối ngoại giữa các nước với nhau.
Chính vì vậy, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu bắt buộc, là đòi hỏi
của chính yêu cầu phát triển đối với nền kinh tế Việt Nam.
Tổ chức “các nước công nghiệp mới” ở Đông Nam Á đã đưa ra những gợi ý
5
về cách thức và giải pháp phát triển đối với những nước vốn xuất phát từ nông
nghiệp, có quan hệ xã hội theo kiểu giá trị văn hóa phương Đông. Đó là những
thành công của chiến lược phát triển: phát huy sức mạnh nội lực, thị trường –
mở cửa, hướng vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.
Sự thất bại của công cuộc cải tổ dẫn đến sự sụp đổ của chế độ chủ nghĩa xã
hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu là một bài học đắt giá. Đó là kết quả của
con đường cải tổ theo kiểu “phủ định sạch trơn”, sử dụng “liệu pháp sốc”, giải
quyết không đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình cải tổ.
Công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc – một nước xã hội chủ nghĩa
láng giềng với những đặc điểm tương đồng về kinh tế - xã hội với Việt Nam –
theo định hướng thị trường - mở cửa bắt đầu diễn ra từ năm 1978 đã đạt được
những thành tựu nổi bật. Đó chính là nhưng kinh nghiệm quý báu trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Như vậy, bối cảnh thế giới vào những năm 70 – 80 của thế kỷ XX có những
ảnh hưởng to lớn đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để đáp
ứng được yêu cầu phát triển và phù hợp với xu hướng thời đại, chúng ta buộc
khách quan bị lãng quên.
Cộng thêm xuất phát điểm của nền kinh tế thấp kém lại bị chiến tranh tàn
phá nặng nề, cùng với những vấp váp và sai lầm trong chính sách kinh tế nên
đến năm 1985, kinh tế nước ta đã rơi vào khủng hoảng và vòng xoáy của lạm
phát, thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:
Kinh tế tăng trưởng thấp: Từ năm 1976 đến năm 1985, tổng sản phẩm xã hội
tăng 50%, tức là bình quân mỗi năm trong giai đọan 1976-1985 chỉ tăng 4,6%.
Đã thế, sản xuất kinh doanh lại kém hiệu quả nên chi phí sản xuất cao và không
ngừng tăng lên. Năm 1980, chi phí vật chất chiếm 41,95% tổng sản phẩm xã hội,
năm 1985 tăng lên chiếm 44,1%. Do vậy, thu nhập quốc dân qua hai kế họach 5
năm tăng 38,85%, bình quân mỗi năm tăng 3,7%.
7
Làm không đủ ăn và dựa vào nguồn bên ngoài ngày càng lớn: Năm 1985, dân
số cả nước gần 59,9 triệu người, tăng 25,7% so với năm 1975. Như vậy, trong
10 năm, bình quân mỗi năm dân số tăng 2,3%. Để đảm bảo đủ việc làm và thu
nhập của dân cư không giảm thì ít nhất nền kinh tế phải tăng 7% mỗi năm.
Nhưng thực tế nền kinh tế không đạt được mức tăng đó nên sản xuất trong nước
luôn luôn không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tối thiểu. Thu nhập quốc dân chỉ
bằng 80-90% nhu cầu sử dụng. Tích lũy nhỏ bé nhưng toàn bộ quỹ tích lũy và
một phần quỹ tiêu dùng phải dựa vào nguồn nước ngoài. Trong những năm
1981-1985, thu vay nợ và viện trợ nước ngoài bằng ngân sách và bằng 28,9%
tổng số thu trong nước. Nếu so với tổng số chi ngân sách thì bằng 18,6%. Đến
năm 1985, nợ nước ngoài đã lên tới 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ USD. Tuy nguồn thu từ
nước ngoài lớn như vậy nhưng ngân sách vẫn trong tình trạng thâm hụt và phải
bù đắp bằng phát hành trái phiếu. Bội chi ngân sách năm 1980 là 18,1% và năm
1985 là 36,6%.
trường. So với thời kì trước đổi mới, nhận thức về kinh tế thị trường có sự thay
đổi căn bản và sâu sắc.
Kinh tế thị trường không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành
tựu phát triển chung của nhân loại. Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho
thấy sản xuất và trao đổi hàng hoá là tiền đề quan trọng cho sự ra đời và phát
triển của kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường đã có mầm mống từ trong xã hội
nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến và phát triển cao trong chủ nghĩa Tư
bản. Chủ nghĩa Tư bản không sản sinh ra kinh tế hàng hoá. Do đó, kinh tế thị
trường với tư cách là kinh tế hàng hoá ở trình độ cao không phải là sản phẩm
riêng của chủ nghĩa Tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại. Kinh
tế thị trường lấy khoa học, công nghệ hiện đại làm cơ sở và nền sản xuất hoá
cao.
9
Kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
Xã hội. Kinh tế thị trường xét dưới góc độ “một kiểu tổ chức kinh tế” là phương
thức tổ chức, vận hành nền kinh tế, là phương tiện điều tiết nền kinh tế lấy cơ
chế thị trường làm cơ sở để phân bổ các nguồn nhân lực kinh tế và điều tiết mối
quan hệ giữa người với người. Kinh tế thị trường chỉ đối lập với kinh tế tự
nhiên, tự cấp, tự túc chứ không đối lập với các chế độ xã hội. Bản thân kinh tế
thị trường không phải là đặc trưng bản chất cho chế độ kinh tế cơ bản của xã
hội. Kinh tế thị trường tồn tại và phát triển ở nhiều phương thức sản xuất khác
nhau. Kinh tế thị trường vừa có thể liên hệ với chế độ công hữu và phục vụ cho
chúng.
Có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta. Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ sản xuất, kinh
doanh, lỗ, lãi tự chịu. Giá cả cơ bản do cung cầu điều tiết, hệ thống thị trường
Về định hướng xã hội và phân phối: thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước phát triển và chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế gắn
kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển xã hội, văn hoá, giáo dục và đào tạo, giải
quyết vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Hạn chế tác động tiêu cực
của kinh tế thị trường.
Trong lĩnh vực phân phối, định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua
chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế phúc lợi xã
hội. Đồng thời để huy động mọi nguồn lực kinh tế cho sự phát triển chúng ta còn
thực hiện phân phối theo mức đóng góp và các nguồn lực khác.
Về quản lý: phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân. Bảo đảm vai trò
quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Tiêu chí này thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị
11
trường tư bản chủ nghĩa với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của thị trường, bảo đảm quyền
lợi chính đáng của mọi người.
III.Những thay đổi về tư duy của Đảng ta .
Trước đổi mới, chúng ta coi kinh tế xã hội chủ nghĩa và kinh tế tư bản chủ
nghĩa (hay kinh tế thị trường) là hai phương thức kinh tế khác nhau về bản chất
và đối lập với nhau cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối và
mục đích phát triển. Kinh tế xã hội chủ nghĩa vận động theo các quy luật của
chủ nghĩa xã hội, còn kinh tế tư bản chủ nghĩa thì vận động theo các quy luật
của chủ nghĩa tư bản (tất nhiên trong khi nói đến kinh tế kế hoạch chúng ta cũng
đã từng nói đến hạch toán và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, vận dụng quan hệ
hàng hóa - tiền tệ, coi lợi ích vật chất và khuyến khích vật chất là một động lực
của sự phát triển).
đã đi đến phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng
quản lý kinh doanh; chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản
công là thuộc nhà nước, còn chức năng quản lý kinh doanh thì thuộc về doanh
nghiệp. Từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của kế hoạch, phủ nhận vai trò của thị
trường đã đi đến thừa nhận thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế
hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt trên bình diện vĩ mô,
còn thị trường giữ vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh
vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh.
Từ chỗ chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là phân
phối theo lao động đã đi đều quan niệm thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy
phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân
13
phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và
phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Công bằng xã hội thể hiện không phải ở
chủ nghĩa bình quân trong kinh tế mà là ở chỗ phân phối hợp lý tư liệu sản xuất
và kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đến có cơ hội phát triển
và sử dụng tốt năng lực của mình. Không ngăn cấm mọi sự làm giàu mà trái lại
khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng theo đúng pháp luật, đồng thời
thực hiện xóa đói giảm nghèo, hạn chế phân cực quá đáng hai đầu.
Xét về thời gian, dưới góc độ kinh tế thị trường, tư duy của chúng ta
cũng được đổi mới qua nhiều bước.
Bước I: Thừa nhận cơ chế thị trường nhưng không coi nền kinh tế của ta là
kinh tế thị trường.
Nói cơ chế thị trường là chỉ nói về mặt cơ chế quản lý chứ không phải nói
về toàn bộ đặc điểm, tính chất và nội dung của nền kinh tế. Do đó, trong khi phê
phán nghiêm khắc cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp và đề ra chủ
nghĩa xã hội, kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu. Vấn đề ở đây là liệu kinh
tế thị trường có đối lập với chủ nghĩa xã hội không, và liệu việc xây dựng chủ
nghĩa xã hội có đi đến phủ định kinh tế thị trường để rồi tạo nên một nền kinh tế
hoàn toàn khác về chất là kinh tế xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế vận động theo
các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội hay không? Câu trả lời là không.
Quan điểm này cũng chính là quan điểm của Đại hội VIII (1996) khi Đại hội
chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định
hướng, xã hội chủ nghĩa”.
15
Bước III: Coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình
kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ.
Đại hội IX của Đảng (2001) ghi rõ: Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực
hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản
xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba
mặt: sở hữu, quản lý và phân phối.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội có nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà
nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Theo
Nghị quyết của Đại hội IX, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật
đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã
tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
được đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung Công nghiệp hóa –
Hiện đại hóa trong chặng đường đầu tiên. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ
chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới
đời sống kinh tế xã hội và giải phóng sức sản xuất.
1991-1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, đạt
được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện.GDP bình quân năm
17
tăng 8,2%. Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh
Công nghiệp hóa – Hiên đại hóa đất nước.
Từ năm 1996-2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước. Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế
khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta
trước những thử thách. Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ
tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm.
Năm 2000-2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục,
GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%,
GDP theo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người
đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640 USD/người/năm.
Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu tấn lương
thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005,
nước ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao
su, thứ 2 về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu.
2005-2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%. Mặc dù
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư
nước ngoài vào nước ta đạt cao. Trong 5 năm, tổng vốn FDI thực hiện đạt gần
trọng theo hướng xoá bao cấp, thực hiện chế độ công ty, phát huy quyền tự chủ
và trách nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh.
19
Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực
và tiềm năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp
khoảng 38% GDP của cả nước.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở
thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối
quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp
vào ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho nhiều người dân.
4.Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được
hình thành, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định.
Qua 25 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương
đối đồng bộ. Hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều
thành phần và bộ máy quản lý của Nhà nước được đổi mới một bước quan trọng.
Với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh
tế của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng.
Việt Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, thực hiện các cam
kết về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại Việt
Nam – Hoa Kỳ, gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)…
Đến nay Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200 nước và vùng
lãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, tạo ra một
bước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại.
21
Mọi chủ trương chính sách tiếp tục đổi mới kinh tế phải coi ưu tiên số 1 là
giải phóng lực lượng sản xuất và mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của xã hội nhằm
tất cả vì mục tiêu phát triển. Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay bảo đảm
cho kinh tế tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững là nhiệm vụ chính trị trọng
đại số 1, là nhiệm vụ trung tâm.
Lãnh đạo thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ song song: CNH, HĐH gắn liền
với phát triển kinh tế tri thức và phát triển mạnh nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN. Cần phải nhận thức sâu sắc rằng thành công của sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước trước mắt, cũng như lâu dài không thể tách rời sự phát triển ngày
càng hiện đại của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do đo,á một trong
những vấn đề có tính “hạt nhân” của sự tiếp tục đổi mới lãnh đạo kinh tế của
Đảng là đề ra và thực hiện được những chính sách kinh tế có tác động tích cực
thúc đẩy mạnh nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng XHCN và thực
hiện có hiệu quả các chính sách CNH, HĐH đất nước để từng bước thực hiện
được mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Phải giải quyết tốt mâu thuẫn giữa nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế với yêu
cầu bắt buộc phải tiến lên theo kịp các nước tiên tiến trên thế giới.
Ngăn chặn và đẩy lùi những nguy cơ tiềm ẩn có thể đưa nền kinh tế nước ta đi
chệch định hướng XHCN.
Lãnh đạo phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước đi và từng chính sách phát triển. Vì đây là một đặc trưng
của định hướng XHCN nền kinh tế thị trường ở nước ta, thể hiện tính ưu việt
của chế độ xã hội ta.
Nhanh chóng khắc phục nguy cơ tiềm ẩn suy thoái kinh tế do tác động của
khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới, quyết tâm giảm tỷ lệ lạm phát và tăng giá
xuống ở mức một con số; bảo đảm và nâng cao đời sống dân sinh cả về vật chất 23
kinh tế, xác định động lực phát triển kinh tế, về điểm đột phá để tiến nhanh, tiến
mạnh lên chủ nghĩa xã hội cũng chưa thật sự rõ ràng Do vậy, để giải quyết tốt
những vấn đề từ thực tiễn cuộc sống, cũng như lý luận kinh tế thì trong thời gian
tới cần phải tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế theo những quan điểm sau:
Thứ nhất, phát triển đồng bộ các loại thị trường. Đại hội X của đảng đã xác
định: Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường
cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh. Để mô hình nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thành công thì sự phát triển đồng bộ và
quản lý có hiệu quả cả các loại thị trường có vai trò quan trọng. Do vậy, cần phải
tiếp tục đẩy mạnh quá trình đa dạng hóa sở hữu, phát triển nền kinh tế với nhiều
loại hình sản xuất, kinh doanh, khơi dậy và giải phóng tối đa lực lượng sản suất.
Cần tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được phát huy cao nhất sức sáng tạo và tự do
tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, tự do cạnh tranh, tự do trao đổi
trong khuôn khổ của luật pháp và dựa trên tín hiệu của thị trường, sự điều tiết
của thị trường vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình,
hợp tác và phát triển: Chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng
hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng
thời mở cửa hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Đây là quan điểm đúng đắn,
phù hợp với lợi ích dân tộc và xu hướng phát triển của thế giới. Trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay cần phải đổi mới tư duy trong xây dựng các
chính sách kinh tế theo hướng một mặt phải bảo đảm được lợi ích quốc gia, lợi
ích dân tộc, mặt khác phải bảo đảm tính mềm dẻo, thích ứng với xu hướng phát
triển của thời đại. Trong hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta vừa phải theo hướng
đa phương hóa, đa dạng hóa và lại vừa có tính chọn lọc cao. Chỉ có như vậy