1
MỤC LỤC
Trang
A.Mở đầu…………………………………………………….…….2
B.Nội dung………………………………………………………....4
I.Bối cảnh thế giới và trong nước khi Đảng
đổi mới tư duy……………………………………………...…….4
II.Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế
thị trường thời kì đổi mới………………………..…………...….8
III.Những thay đổi về tư duy của Đảng ta..…………………….….11
IV.Những thành tựu của đất nước sau
20 năm đổi mới…………………………...………….……….....16
V.Phương hướng và giải pháp của Đảng về tư duy
kinh tế thị trường trong những năm tiếp.......…..………………...20 C.Kết luận…………………...……………………..…………...…….26
2
nàn, lạc hậu, kém phát triển để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp.
Và trong xu thế hội nhập kinh tế, Việt Nam đang trên đường phát triển
công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Bên cạnh việc đặt nhiệm vụ bảo vệ chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước là tiêu chí hàng đầu thì một vấn đề không
kém phần quan trọng và cần thiết đó là phát triển nền kinh tế . Bởi vì khi một đất
nước nghèo nàn, lạc hậu thì cũng đồng nghĩa với đất nước đó sẽ trở thnàh thuộc
địa về kinh tế của những nuớc phát triển. Vì thế, để phát triển kinh tế thì ngoài
việc chúng ta cần phải phát huy và tận dụng rất nhiều nguồn lực như: nguồn lực
tự nhiên, nguồn nhân lực, vốn đầu tư, khoa học... thì Đảng ta cần có một đường
lối tư duy đúng đắn để phát triển nền Kinh tế thị trường ở nước ta.
Sự thay đổi tư duy về kinh tế thị trường trong hơn 20 đổi mới ở nước ta-
một sự thay đổi mang tính quyết định của cả nền kinh tế và nó đã góp phần giúp
chúng ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, nghèo nàn, lạc hậu, đưa nước ta trở
thành một nước có nền kinh tế vững mạnh.
Với mong muốn học hỏi và chia sẻ những hiểu biết nhỏ bé của mình về
đường lối chính sách của Đảng về công cuộc đổi mới tư duy nền kinh tế thị
trường, em đã quyết định chọn đề tài : “Tư duy mới của Đảng về Kinh tế thị
trường trong 20 năm đổi mới ở nước ta”. Đề tài tiểu luận này sẽ đi sâu vào phân
tích bối cảnh đẩt nước trước đổi mới, các giai đoạn phát triển tư duy của Đảng
ta, khẳng định tính đúng đắn và cần thiết của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, đồng thời trình bày những thành tựu và thách thức của nền
kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp
để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
4
B.Nội dung
thành công của chiến lược phát triển: phát huy sức mạnh nội lực, thị trường –
mở cửa, hướng vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.
Sự thất bại của công cuộc cải tổ dẫn đến sự sụp đổ của chế độ chủ nghĩa xã
hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu là một bài học đắt giá. Đó là kết quả của
con đường cải tổ theo kiểu “phủ định sạch trơn”, sử dụng “liệu pháp sốc”, giải
quyết không đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình cải tổ.
Công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc – một nước xã hội chủ nghĩa
láng giềng với những đặc điểm tương đồng về kinh tế - xã hội với Việt Nam –
theo định hướng thị trường - mở cửa bắt đầu diễn ra từ năm 1978 đã đạt được
những thành tựu nổi bật. Đó chính là nhưng kinh nghiệm quý báu trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Như vậy, bối cảnh thế giới vào những năm 70 – 80 của thế kỷ XX có những
ảnh hưởng to lớn đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để đáp
ứng được yêu cầu phát triển và phù hợp với xu hướng thời đại, chúng ta buộc
phải đổi mới về tư duy, tận dụng những cơ hội do thời đại mang lại nhưng đồng
thời, những bài học quan trọng trong sự thành công và thất bại trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa là những kinh nghiệm
quý báu cho việc hoạch định đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam.
2.Bối cảnh trong nước .
Nếu như trước đây nền kinh tế kế hoạch hóa trong thời gian đầu thực
hiện đã tỏ ra phù hợp tạo bước chuyển biến quan trọng về mặt kinh tế - xã
hội, đồng thời nó thích hợp với nền kinh tế thời chiến và đóng vai trò
quan trọng trong việc tạo ra chiến thắng của cả dân tộc. Nó cho phép
Đảng và Nhà nước huy động ở mức cao nhất sức người sức của cho tiền
6
tuyến thì hiện nay việc duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan
Làm không đủ ăn và dựa vào nguồn bên ngoài ngày càng lớn: Năm 1985, dân
số cả nước gần 59,9 triệu người, tăng 25,7% so với năm 1975. Như vậy, trong
10 năm, bình quân mỗi năm dân số tăng 2,3%. Để đảm bảo đủ việc làm và thu
nhập của dân cư không giảm thì ít nhất nền kinh tế phải tăng 7% mỗi năm.
Nhưng thực tế nền kinh tế không đạt được mức tăng đó nên sản xuất trong nước
luôn luôn không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tối thiểu. Thu nhập quốc dân chỉ
bằng 80-90% nhu cầu sử dụng. Tích lũy nhỏ bé nhưng toàn bộ quỹ tích lũy và
một phần quỹ tiêu dùng phải dựa vào nguồn nước ngoài. Trong những năm
1981-1985, thu vay nợ và viện trợ nước ngoài bằng ngân sách và bằng 28,9%
tổng số thu trong nước. Nếu so với tổng số chi ngân sách thì bằng 18,6%. Đến
năm 1985, nợ nước ngoài đã lên tới 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ USD. Tuy nguồn thu từ
nước ngoài lớn như vậy nhưng ngân sách vẫn trong tình trạng thâm hụt và phải
bù đắp bằng phát hành trái phiếu. Bội chi ngân sách năm 1980 là 18,1% và năm
1985 là 36,6%.
Trị giá xuất khẩu hàng năm có tăng lên nhưng vẫn còn thấp so với giá trị
nhập khẩu. Trị giá xuất khẩu chỉ bằng 20-40% nhập khẩu: Năm 1976 bằng
21,7%, năm 1981 bằng 19%, năm 1985 bằng 37,5%. Hầu hết các loại hàng hóa
thiết yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống đều phải nhập khẩu toàn bộ hay một
phần do sản xuất không đảm bảo được tiêu dùng. Kể cả những mặt hàng trong
nước có thế mạnh như sản xuất gạo, vải. Quan hệ kinh tế quốc tế hầu như chỉ
gói gọn với các nước xã hội chủ nghĩa. Sau mười năm thống nhất, việc xây dựng
và phát triển kinh tế cơ bản trong bối cảnh hòa bình mà cái gì cũng thiếu nên cái
gì cũng quý.
Siêu lạm phát hoành hành và giá cả tăng theo cấp số nhân: Từ năm 1976,
tình trạng lạm phát ngày càng trầm trọng vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Nhà
nước ta. Năm 1985, cuộc cải cách giá - lương - tiền theo giải pháp sốc đã thất
8
Kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
Xã hội. Kinh tế thị trường xét dưới góc độ “một kiểu tổ chức kinh tế” là phương
thức tổ chức, vận hành nền kinh tế, là phương tiện điều tiết nền kinh tế lấy cơ
chế thị trường làm cơ sở để phân bổ các nguồn nhân lực kinh tế và điều tiết mối
quan hệ giữa người với người. Kinh tế thị trường chỉ đối lập với kinh tế tự
nhiên, tự cấp, tự túc chứ không đối lập với các chế độ xã hội. Bản thân kinh tế
thị trường không phải là đặc trưng bản chất cho chế độ kinh tế cơ bản của xã
hội. Kinh tế thị trường tồn tại và phát triển ở nhiều phương thức sản xuất khác
nhau. Kinh tế thị trường vừa có thể liên hệ với chế độ công hữu và phục vụ cho
chúng.
Có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta. Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ sản xuất, kinh
doanh, lỗ, lãi tự chịu. Giá cả cơ bản do cung cầu điều tiết, hệ thống thị trường
phát triển đồng bộ và hoàn hảo. Nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo qui
luật vốn có của kinh tế thị trường: qui luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh, qui luật
lưu thông tiền thị trường…….. Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ
mô của Nhà nước.
2.Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội IX đến Đại hội X:
Đảng xác định: Nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa là
mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã
hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “Một kiểu tổ chức kinh tế
vừa tuân theo qui luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn
dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất cùa chủ nghĩa xã hội”. Nội dung cơ
bản của định hướng Xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước
ta thể hiện ở 4 tiêu chí:
10