Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
I. Đặt vấn đề
Sau cách mạng tháng mời năm 1917 thắng lợi,V.I Lênin thực hiện kế hoạch
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính quyền XôViết tranh thủ giải quyết những vấn đề
cấp bách, củng cố chính quyền của giai cấp vô sản, đặt nền móng cho việc xây
dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nhng kế hoạch này bị gián đoạn do cuộc nội
chiến năm 1918-1920.Bọn địa chủ, bọn t sản bị lật đổ, cùng với sự giúp đỡ của m-
ời bốn nớc đế quốc, can thiệp vũ trang vào nớc Nga, với mục đích lật đổ chính
quyền Xô viết, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội.Cuộc nội chiến đã làm cho nớc Nga đã
khó khăn càng thêm khó khăn chồng chất.
Trong thời kỳ này Lênin đã áp dụng chính sách Cộng sản thời chiến, để đối
phó với kẻ thù và giải quyết những khó khăn trong nớc. Chính sách Cộng sản thời
chiến với những nội dung cơ bản: Trng thu lơng thực thừa của nhân dân, nhà nớc
độc quyền buôn bán lúa mì để cung cấp cho thành thị và quân đội, nhà nớc kiểm
soát việc sản xuất và phân phối sản phẩm đối với tất cả các ngành công nghiệp
trong xã hội; quốc hữu hoá tất cả các xí nghiệp vừa và nhỏ; cấm trao đổi hàng hoá
trên thị trờng; đề ra chế độ lao động cỡng bức với nguyên tắc không làm không
ăn. Chính sách này cho phép huy động tối đa mọi tiềm năng về vật chất để chiến
thắng thù trong giặc ngoài. Tuy nhiên chính sách này cũng bộc lộ nhiều hạn chế
do xuất phát từ những đặc trng trong hoạt động kinh tế của đọan này là do tập
trung cao độ vào quản lý bằng những phơng pháp hành chính nên không kích thích
đợc tính chủ động, độc lập của các thành phần kinh tế nó dẫn tới sự sụt giảm
nhanh chóng về diện tích và sản lợng lơng thực nạn đói xảy ra khắp nơi gây nên sự
bất bình trong nhân dân. Nớc Nga lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng Lênin đã
ví nền kinh tế nớc Nga lúc này nh một ngời bị đánh thập tử nhất sinh chỉ có thể đi
lại bằng đôi nạng.
Tuy có vai trò quan trọng xong chính sách kinh tế này lại không phù hợp với
tình hình nớc Nga hiện tại năm 1920-1921. Vào cuối năm 1920 đầu năm 1921 sau
ba năm thắng lợi của cuộc đại cách mạng tháng mời Nga và sau cuộc nội chiến kết
thúc nớc Nga lâm vào tình trạng khủng hoảng do đó chính sách kinh tế Cộng sản
thời chiến đã làm xong vai trò lịch sử bất đắc dĩ của nó, giờ đây không cho phép
kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài. Tất cả các thành phần kinh tế này đều vận hành
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở
nớc ta.
Do vốn kiến thức còn hạn chế, lần đầu tiên tiếp cận với một vấn đề khá mới
mẻ và phức tạp. Cho nên bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy em
rất mong đợc sự giúp đỡ của thầy để bài viết của em đợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
3
II. Giải quyết vấn đề
A. Phần lí luận
1. Hoàn cảnh ra đời của chính sách Kinh tế mới.
a. Hoàn cảnh nớc Nga khi áp dụng chính sách cộng sản thời chiến(1917-1920).
Sau cách mạng tháng mời Nga thành công,chính quyền Xô Viết tranh thủ
giải quyết những vấn đề kinh tế cấp bách, củng cố chính quyền của giai cấp vô
sản, đặt nền móng cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đ-
ờng nối kinh tế mà Lênin đã nêu ra trong luận cơng tháng t , chính quyền Xô
Viết đã tiến hành: tịch thu ruộng đất của địa chủ, chúa đất, của tu việnchia cho
nhân dân sử dụng không phải trả tiền nhng nhân dân không có quyền sở hữu, một
phần là để xây dựng các nông trờng quốc doanh. Thực hiện chế độ kiểm soát của
công nhân trong các xí nghiệp công nghiệp lớn và vừa. Cử công nhân vào các xí
nghiệp lớn để kiểm soát hoạt động và chống lại sự phá hoại của bọn t sản.Chính
quyền Xô Viết còn tiến hành quốc hữu hoá các cơ sở kinh tế quan trọng gồm các
hầm mỏ, đờng sắt, ngoại thơng các xí nghiệp công nghiệp nặng và tất cả các xí
nghiệp có từ năm mơi công nhân trở lên. Đề ra kế hoạch khôi phục và triển kinh tế
trong thời gian trớc mắt chuẩn bị cho cuộc cách mạng Xã hội chủ nghĩa. Điều này
đã gây lên sự phản kháng của giai cấp địa chủ, phong kiến, t sản. Cuối năm 1918,
ở nớc Nga có nội chiến, do bọn t sản phản động cấu kết với các nớc đế quốc bên
ngoài để chống lại chính quyền Xô Viết và xoá bỏ chủ nghĩa xã hội.Tình hình đó
lại cho nớc Nga càng có thêm nhiều khó khăn về mọi mặt. Trong bối cảnh của
cuộc nội chiến, Đảng Bônsêvich đã thi hành chính sách cộng sản thời chiến để huy
cuộc khủng hoảng là Đảng và nhà nớc Nga Xô Viết không kịp thời thay đổi chính
sách kinh tế phù hợp với thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh,
trong đó chủ yếu là sai lầm do duy trì chính sách kinh tế Cộng sản thời chiến đã
5
lỗi thời không còn phù hợp với hiện tại. Lênin chỉ ra rằng chính sách Cộng sản
thời chiến là sự vận dụng quan hệ chính trị vào quan hệ kinh tế để giải quyết
nhiệm vụ chính trị- tức mục tiêu giành chính quyền và sau khi mục tiêu giành
chính quyền đã hoàn thành thì cũng có nghĩa là chính sách Cộng sản thời chiến đã
hoàn thành vai trò lịch sử của mình. Nh vậy taị thời điểm đó (nớc Nga sau cuộc
nội chiến) chính sách cộng sản thời chiến đã không còn là động lực thúc đẩy, mà
ngợc lại đã trở thành trở lực kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn
và cả đối với sự phát triển toàn bộ nền kinh tế nớc Nga. Lênin đã chỉ rõ việc trng
thu lơng thực thừa (nội dung chủ yếu của chính sách Cộng sản thời chiến) của
nông dân là một biện pháp mà hoàn cảnh chiến tranh bắt buộc chúng ta nhất thiết
phải thi hành, nhng không phù hợp với những điều kiện ít nhiều của nền kinh tế
nông dân (V. I. Lênin. Toàn tập, t43, Nxb Tiến bộ, M, 1978, trang 32). Một
nguyên nhân nữa dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế ở Nga là t tởng ấu trĩ tả
khuynh của một bộ phận Đảng viên Đảng cộng sản Nga về con đờng đi lên chủ
nghĩa xã hội họ cho rằng ngay sau khi giai cấp vô sản thiết lập đợc chính quyền
Xô viết là nớc Nga có thể đi ngay lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện đầy đủ các
quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Trong báo cáo về chính sách Kinh tế mới tại
hội nghị VII Đảng bộ tỉnh Matxcơva Lênin đã vạch rõ sự thất bại trong ý định
dùng phơng pháp xung phong, nghĩa là dùng con đờng ngắn nhất, nhanh nhất, trực
tiếp nhất để thực hiện sự phân phối theo nguyên tắc chủ nghĩa xã hội. Ngời chỉ rõ
phải thay đổi đờng lối chiến lợc để tiến lên chủ nghĩa xã hội, trong đó trớc hết phải
thực hiện chính sách Kinh tế mới.
c. Sau cuộc nội chiến, yêu cầu đặt ra là phải có một chính sách Kinh tế mới
để thay thế chính sách Cộng sản thời chiến đã không còn phù hợp vơí nớc
Nga.
Không bao lâu sau Cách mạng Tháng Mời năm 1917, việc thực hiện kế
4. thành phần kinh tế Chủ nghĩa t bản nhà nớc.
7
5. thành phần kinh tế Chủ nghĩa xã hội
Trong đó các thành phần kinh tế cơ bản của nền kinh tế là: kinh tế sản xuất
nhỏ, kinh tế t bản t nhân, kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên trong những năm đầu sau cách mạng, các chính sách kinh tế của
nhà nớc lại chủ yếu hớng vào các chính sách nhất thể hoá kinh tế Xã hội chủ
nghĩa, tức là chính sách một thành phần kinh tế.
Do nhận thức sai lầm về thời kì quá độ và tả khuynh về con đờng đi lên
chủ nghĩa xã hội tất yếu dẫn đến một mặt phá vỡ sự đoàn kết thống nhất, trong
Đảng mặt khác kéo theo nhiều sai lầm trong chính sách kinh tế nh:
Chủ trơng quốc doanh hoá ồ ạt, kể cả các cơ sở tiểu công nghiệp.
Xoá bỏ thơng nghiệp t nhân, thi hành chính sách ngăn sông cấm chợ ở cả
thành thị và nông thôn.
Xoá bỏ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu t nhân trên cơ sở nhất
thể hoá kinh tế xã hội chủ nghĩa, dựa trên chế độ sở hữu công cộng về t liệu sản
xuất.
Để khắc phục những sai lầm và cứu nớc Nga thoát khỏi diệt vong Đại hội X
Đảng CộngSản Nga sau khi nghe báo cáo của Lênin đã thông qua nghị quyết về
chính sách kinh tế mới, xoá bỏ chính sách cộng sản thời chiến và ban hành thuế l-
ơng thực và nhiều chính sách kinh tế mới khác.
Trong chính sách kinh tế mới, đối với nông dân, nông nghiệp,công nhiệp th-
ơng nghiệp, tài chính tiền tệ, ngân hàng, các thành phần kinh tế , t tởng bao trùm
của Lênin là vấn đề xây dựng nền kinh tế thị trờng có sự quản lí của nhà nớc
chuyên chính vô sản. T tởng đó đợc cụ thể hoá ở một số chủ trơng sau:
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trên cơ sở đẩy mạnh quan hệ
hàng hoá tiền tệ.
Đổi mới chính sách nông nghiệp theo hớng phát triển nông nghiệp hàng
hoá và tự do lu thông nông phẩm thừa.
Đổi mới chính sách công nghiệp và thơng nghiệp.
mới bằng một vạn Rup cũ. Năm 1922-1923 tiếp tục đổi tiền lần thứ hai. Qua các
lần đổi tiền đã giúp loại bớt tiền ra khỏi lu thông.
Quan hệ hàng hoá- tiền tệ đợc khôi phục. Để khôi phục công nghiệp nhà nớc
bán hoặc cho thuê các xí nghiệp vừa và nhỏ các cho các nhà t bản. Đây là một
biện pháp lợi dụng chủ nghĩa t bản để khôi phục kinh tế. Tự do trao đổi là tự do
buôn bán là việc trao đổi hàng hoá giữa những ngời buôn bán nhỏ, sở hữu nhỏ .Từ
đó đã đẻ ra hai loại hình t bản là t bản t nhân và t bản nhà nớc. T bản t nhân hoạt
động sản xuất kinh doanh để tao lợi nhuận và thu lợi nhuận bằng cách bóc lột ng-
ời lao động còn t bản nhà nớc thì hoạt động sản xuất kinh doanh dới sự điều tiết
của nhà nớc. Lênin coi đây là một bớc lùi để tiến,nhng nhà nớc vẫn nắm mạch
máu kinh tế, kinh tế Nga có năm thành phần kinh tế : Thành phần kinh tế xã hội
chủ nghĩa, thành phần kinh tế gia trởng :là của những ngời nông dân,nguyên thuỷ,
tự cấp tự túc, thành phần kinh tế sản xuất nhỏ, thành phần kinh tế t bản chủ nghĩa,
thành phần kinh tế t bản nhà nớc. Tầng lớp nguy hiểm nhất đẻ ra chủ nghĩa t bản
là tầng lớp sản xuất nhỏ vì họ vừa sản xuất vừa buôn bán. Xét về lâu dài chủ nghĩa
t bản nhà nớc và chủ nghĩa t bản t nhân không ảnh hởng gì tới mục tiêu mà nhà n-
ớc đã đề ra: không phải là quay về chủ nghĩa t bản mà nhà nớc vẫn khống chế đợc
các tầng lớp này bằng chính sách pháp luật.
Đặc biệt ở đây cũng không thể bỏ qua đợc sự tự do trao dổi ở địa phơng, nếu
nền thơng nghiệp ấy có thể làm cho nhà nớc đổi sản phẩm cônng nghiệp lấy một
số lợng tối thiểu sản phẩm lúa mì,đủ để đáp ứng đợc yêu cầu của thành thị, các
công xởng và công nghiệp thì sự trao đổi kinh tế sẽ đợc khôi phục theo con đờng
sao cho chính quyền nhà nớc vẫn nằm trong tay giai cấp vô sản và đợc củng cố.
Nông dân đòi hỏi thực tế phải chứng minh cho họ thấy rằng, công nhân nắm giữ
các công xởng nhà máy, công nghiệp,có thể tổ chức trao đổi với nông dân. Mặt
khác, một nớc nông nghiệp rộng lớn với đờng giao thông kém, đất đai rộng lớn,
khí hậu khác nhau thì không thể đòi hỏi là giữa công nghiệp và nông nghiệp địa
phơng phải có sự tự do trao đổi sản phẩm nhất định nào đó trong phạm vi địa ph-
ơng. Nớc Nga đã mắc nhiều sai lầm trong việc quốc hữu hoá thơng nghiệp và công
10
quá độ nh khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân, thợ thủ
công, khuyếnh khích t bản t nhân, sử dụng chủ nghĩa t bản nhà nớc, củng cố lại
các doanh nghiệp nhà nớc, chuyển sang chế độ hạch toán kinh tế. Đồng thời Lênin
chủ trơng phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác kinh tế với các nớc phơng Tây để
tranh thủ kỹ thuật, vốn và khuyến khích phát triển kinh tế. Mở rộng quan hệ buôn
bán với nớc ngoài theo nguyên tắc nhà nớc độc quyền ngoại thơng, kêu gọi nớc
ngoài đầu t kinh doanh. Thu hút t bản nớc ngoài và sử dụng nó có lợi cho việc xây
dựng chủ nghĩa xã hội dới những hình thức và trình độ khác nhau của chủ nghĩa t
bản nhà nớc
3. Biện pháp thực hiện và kết quả.
a. Trong nông nghiệp.
Để nông nghiệp phát triển, Lênin chủ trơng xoá bỏ Chính sách cộng sản thời
chiến thay vào đó là chính sách thuế lơng thực. Chính sách thuế lơng thực quy
định: sau khi hoàn thành chỉ tiêu thuế nghĩa vụ với nhà nớc, ngời nông dân đợc tự
do lu thông trên thị trờng phần nông phẩm còn lại. Nh vậy, nền nông nghiệp hàng
hoá đợc khuyến khích phát triển với nhiều hình thức và thành phần kinh tế khác
nhau. Do đó, toàn bộ sự vận động phát triển của nền nông nghiệp hàng hoá phải h-
ớng vào các mục tiêu:
Phát triển quan hệ hàng hoá tiền tệ trong nông nghiệp, thực hiện tự do trao
đổi, mua bán nông sản hàng hoá trên thị trờng để phá vỡ nền nông nghịêp gia tr-
ởng, nhỏ hẹp, trì trệ, thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hớng sản xuất hàng hoá,
mở rộng giao lu thị trờng và tăng cờng mối quan hệ chặt chẽ giữa nông nghiệp với
công nghiệp và các ngành khác.
Bằng tự do lu thông nông phẩm hàng hoá trên thị trờng mà thúc đẩy các loại
hình thị trờng phát triển từ nông thôn ra thành thị, làm cho nông nghiệp vừa phát
12
triển theo chiều rộng vừa phát triển theo chiều sâu. Nhờ phát triển nông nghiệp
hàng hoá, thực hiện trao đổi sản phẩm hàng hoá giữa nông nghiệp với công nghiệp
theo quan hệ hàng hoá tiền tệ, nhà nớc có điều kiện xây dựng quỹ lơng thực quốc
gia một cách chủ động vững chắc. Tạo động lực, tác nhân kích thích sự phát triển
Lênin chủ trơng khôi phục, tổ chức lại nền công nghiệp theo hớng nhiều thành
phần trên cơ sở các hình thức khác nhau với cơ cấu công nghiệp phục vụ nông
nghiệp, tiểu công nghiệp. Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong khu vực này
phải hớng vào phục vụ nhu cầu của thị trờng nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Do
đó phát triển cong nghiệp theo Lênin phải đạt mấy yêu cầu sau:
Công nghiệp phải cung ứng hàng hoá đủ nhu cầu của nông nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp, đồng thời nông nghiệp cũng phải đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu
cho công nghiệp trên cơ sở mối quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Công nghiệp còn phải trở thành thị trờng cho lao động nông nghiệp, nông thôn và
tham gia vào quá trình phân công lại lao động trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Quá trình khôi phục và phát triển công nghiệp phải đồng thời là quá trình mở
rộng thị trờng, tăng sự hấp dẫn cho các nguồn vốn đầu t của t bản t nhân trong nớc
và nớc ngoài nhằm phát triển kinh tế t bản nhà nớc.
Kết quả tổng sản lợng công nghiệp năm 1925 so với năm1913 mới đạt đợc
75,5%. Đến năm 1926 khôi phục đợc 100%. Tuy nhiên ngành điện và cơ khí chế
tạo vợt mức trớc chiến tranh, nhiều xí nghiệp công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực
phẩm đã đạt và vợt mức trớc chiến tranh.
c. Đối với thơng nghiệp.
Cùng với chính sách phát triển nông nghiệp và công nghiệp Lênin cũng rất
coi trọng tổ chức mạng lới thơng nghịêp nhiều thành phần nhằm tổ chức, thiết lập
trật tự thị trờng bảo đảm cho quan hệ hàng hoá-tiền tệ diễn ra cân đối nhịp nhàng
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong khi chủ trơng phát triển các loại hình và
thành phần kinh tế trong lĩnh vực thơng nghiệp, Lênin không quên xác định vai trò
mắt xích trọng yếu của thơng nghiệp Xã hội chủ nghĩa. Ngời vạch rõ: thơng
14
nghiệp là cái mắt xích trong cái dây xích những sự biến lịch sử, trong các hình
thức quá độ của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta trong những
năm 1921-1922, đó là mắt xích mà Đảng cộng sản đang nắm quyền lãnh đạo phải
đem toàn lực ra nắm lấy. Ngời cho rằng nếu Đảng cộng sản nắm đợc cái mắt xích
ấy thì sẽ nắm đợc toàn bộ dây xích tức là làm chủ đợc thị trờng lu thông hàng
Chính sách kinh tế mới của Lênin có vai trò cực kỳ quan trọng, nó đã khôi
phục đợc nền kinh tế sau chiến tranh. Chỉ trong một thời gian ngắn đã biến nớc
Nga từ một nớc Nga đói nghèo thành một nớc Nga có nguồn lơng thực dồi dào. Từ
đó đã khắc phục đợc tình trạng khủng hoảng kinh tế chính trị, củng cố lòng tin cho
nhân dân vào sự thắng lợi tất yếu và bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội theo
những nguyên lý mà lênin dã vạch ra. Nó góp phần củng cố khối liên minh công
nông và sự ra đời của nhà nớc công nông nhiều dân tộc là Liên Xô.
Mô hình kinh tế này đã tạo ra những thành tựu quan trọng cả về kinh tế và xã
hội. Đồng Rup, và chế độ tài chính đợc ổn định; thắng đợc nạn đói và bội thu thuế
lơng thực mà hoàn toàn không phải dùng chế độ cỡng bức, nông dân hài lòng,
công nghiệp nhẹ đang trên đà phát triển, đời sống công nhân đợc cải thiện, công
nghiệp nặng tuy còn khó khăn nhng đã có sự cải thiện đáng kể vì đã tạo ra đợc
một số vốn nhất định, chính quyền XôViết ngày càng vững vàng.
Chính sách Kinh tế mới không chỉ có ý nghĩa ngay tại thời điểm đó mà nó
còn tạo điều kiện cho sự phục hồi kinh tế sau này của Liên Xô sau khi bị chiến
tranh thế giới thứ hai tàn phá nặng nề và đã đa Liên Xô trở thành một cờng quốc
lớn trên thế giới.
b. Đối với các nớc Xã hội chủ nghĩa.
Chính sách kinh tế mới không chỉ có ý nghĩa với riêng nớc Nga mà còn có ý
nghĩa quan trọng với nhiều nớc phát triển theo định hớng Xã hội chủ nghĩa. Đó là
việc xách định và sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế. Qua đó đã cho thấy
rằng: trong điều kiện một nền kinh tế có sự tồn tại của nhiều trình độ khác nhau
16
thì việc cho phép tồn tại nhiều loại hình sản xuất kinh doanh (nhiều thành phần
kinh tế) sẽ cho phép huy động mọi khả năng để khôi phục và phát triển kinh tế
Việc kết hợp giữa kế hoạch và thị trờng trong điều tiết kinh tế bằng sự tồn tại
của quan hệ hàng hoá- tiền tệ nh là một tất yếu khách quan trong nền kinh tế. Tại
Liên Xô thì bộ phận sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế t bản chủ nghĩa hoạt động trên
thị trờng đợc nhà nớc điều tiết bằng chính sách và pháp luật.
Vấn đề vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật của sản xuất, quy luật