LỜI NÓI ĐẦU
Thuế không những là nguồn thu ngân sách mà còn là công cụ điều tiết vĩ
mô quan trọng của Nhà nước. Do vậy, cùng với việc thực hiện đường lối đổi
mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có
sự điều tiết của Nhà nước, Đảng và chính phủ đã giành nhiều sự quan tâm chú ý
lớn cho công tác đổi mới và cải cách hệ thống thuế. Chủ trương cải cách hệ
thống thuế của nước ta đã được khởi xướng từ năm 1989. Ngày 1 -10 - 1990,
một hệ thống các luật, pháp lệnh về thuế được áp dụng thống nhất trong cả nước
đã được ban hành. Các sắc thuế cũng được áp dụng chung cho các thành phần
kinh tế, không còn phân biệt khu vực quốc doanh và khu vực ngoài quốc doanh
như trước đây nữa.
Hệ thống thuế mới đã đánh dấu một bước tiến bộ trong công tác quản lý
vĩ mô của Đảng và Nhà nước ta, đóng góp tích cực vào sự quản lý kinh tế vĩ mô
và tăng thu ngân sách. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện hệ thống thuế hiện
hành vẫn còn thể hiện nhiều hạn chế và có những điểm chưa phù hợp với tình
hình thực tế trong nước, cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung.
Trong bối cảnh hiện nay, nhu cầu tăng cường huy động vốn ngân sách nhà
nước cho các mục tiêu phát triển, bảo đảm sự công bằng giữa các thành phần
kinh tế, khuyến khích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngày càng cao,
quá trình khu vực hoá và toàn cầu hoá diễn ra ngày càng rộng rãi đặc biệt là sự
tham gia hiệp định AFTA (khu vực mậu dịch, phi thuế quan) của các nước trong
khu vực đặt ra nhiều thách thức mà chúng ta phải nỗ lực thì mới đạt được những
mục tiêu phát triển mong muốn. Do vậy đòi hỏi chúng ta phải có những cải cách
mới, làm cho hệ thống thuế vừa đáp ứng được nhu cầu quản lý kinh tế trong
nước, vừa phù hợp với những luật lệ và thông lệ quốc tế.
Trong phạm vi đề án “Một số vấn đề của chính sách thuế trong tình hình
hiện nay ở nước ta” em xin trình bày ba phần chính:
Phần I: Tổng quan về thuế
Phần II: Một số vấn đề về chính sách thuế ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay.
Phần III: Một số đề xuất và kiến nghị.
đối tượng đánh thuế của sắc thuế.
2.1. Phân loại theo tính chất: Được chia thành hai loại:
Thuế trực thu và thuế gián thu để phân biệt đối tượng chịu thuế.
* Thuế gián thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là
người chịu thuế, nó là yếu tố cấu thành trong giá mua hàng hoá và dịch vụ nhằm
động viên sự đóng góp của người tiêu dùng (như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu
thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu...). Như vậy, người nộp thuế thực chất là người
nộp hộ cho người mua hàng hoá và dịch vụ.
* Thuế trực thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế đồng thời là
người chịu thuế. Thuế trực thu là loại thuế mà nhà nước thu thuế trực tiếp của
các cơ sở sản xuất kinh doanh và có thu nhập. Thuế trực thu trực tiếp động viên,
điều tiết thu nhập của người nộp thuế như thuế TNDN, thuế TNCN... Do đó
thuế trực thu không được tính vào khoản chi phí để trừ khi xác định thu nhập
chịu thuế.
Do vậy, thuế gián thu là loại thuế mà người tiêu dùng phải chịu, nó làm
cho giá bán hàng hoá tăng lên. Còn thuế trực thu là loại thuế được đánh vào các
tổ chức kinh tế, cá nhân có thu nhập, loại thuế này không làm tăng giá bán sản
phẩm hàng hoá, bởi vậy có thu nhập mới phải chịu thuế thu nhập, thu nhập cao
nộp thuế nhiều, thu nhập thấp nộp thuế ít, thậm chí không thu thuế. Tuy nhiên
thuế gián thu hơi cao có tính chất khác nhau về thu nhập nhưng nếu cùng sử
dụng một loại sản phẩm hàng hoá nào đó, họ phải nộp khoản thuế gián thu như
nhau, như vậy là chưa hợp lý, vì người ta so sánh tỷ lệ giữa tiền thuế mà người
dân phải nộp dưới hình thức thuế gián thu khi người ta sử dụng hàng hoá dịch
vụ với tiền lương mà người ta thu được thì người nghèo có tỉ lệ cao hơn người
giàu, tức là lấy đi của những người có thu nhập cao, đó là sự mất công bằng
không hợp lý. Do đó những người làm công tác quản lý khi đề ra các luật thuế
phải hết sức chú ý tới vấn đề này, các cơ cấu thuế, biểu thuế, thuế suất của các
sắc thuế phải được hợp lý, đảm bảo tính công bằng.
Ở nước ta do giá cả hàng hoá biến động phức tạp, cách hạch toán kế toán
chưa rõ ràng nên khó tách riêng phần thuế gián thu mà người tiêu dùng đã nộp
để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo
đường lối xây dựng XHCN ở nước ta. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, nguồn
thu từ nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại đã chuyển thành quan hệ “có
vay có trả”. Trước mắt, thuế phải là công cụ để góp phần quan trọng vào giảm
bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp phần ổn định trật tự xã hội,
chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu dài. Thuế phải trở thành
nguồn thu chủ yếu, bộ phận cơ bản của một nền tài chính quốc gia lành mạnh.
Với cơ cấu kinh tế có nhiều thành phần, hệ thống thuế mới được áp dụng
thống nhất giữa các thành phần kinh tế. Thuế phải bao quát hầu hết các hoạt
động kinh doanh, các nguồn thu, mọi hoạt động tiêu dùng của xã hội...
Thuế phải khai thác từ thu nhập quốc dân, nguồn tích luỹ cho ngân sách
chỉ có thể tăng nhiều ra nhanh trên cơ sở nền kinh tế được phát triển và đạt hiệu
quả cao, đồng thời với ý thức triệt để tiết kiệm của nhân dân trong cả sản xuất và
tiêu dùng. Thuế phải đóng góp phần tích cực vào việc bồi dưỡng và khai thác
nguồn thu ngày càng tăng.
2. Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Cùng với việc đổi mới công tác kế hoạch, giá cả và các đòn bẩy kinh tế
khác, thuế phải có vị trí quan trọng trong việc kiểm kê, kiểm soát quản lý, hướng
dẫn và phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với các thành phần kinh tế
theo hướng phát triển có kế hoạch của nhà nước, góp phần tích cực vào việc
điều chỉnh các mặt cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, giữa tích luỹ và tiêu
dùng, giữa tiền và hàng, giữa cung và cầu...
Thông qua việc xây dựng đúng đắn và mối quan hệ giữa các loại thuế, qua
việc xác định hợp lý đối tượng nộp thuế, đối tượng tính thuế, thuế suất, biểu
thuế, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thu thuế trên cơ sở hạch toán đầy
đủ, chính xác. Ý nghĩa điều tiết của thuế bao gồm hai mặt khuyến khích, nâng
đỡ những hoạt động kinh doanh cần thiết làm ăn có hiệu quảcao. Đồng thời thu
hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt hàng cần hạn chế sản xuất, hạn chế tiêu
dùng theo hướng tiết kiệm, chống sa hoa, lãng phí.
Thuế được xây dựng trên quan điểm mở rộng thị trường một cách lành
Các chính sách kinh tế - xã hội của nó phải tạo nên một hệ thống các
chính sách đồng bộ và nó phải thoả mãn những yêu cầu cơ bản đó là tính khách
quan, tính chính trị, tính đồng bộ và hệ t hống, tính thưc tiễn và tính hiệu quả
kinh tế - xã hội.
2. Vai trò của chính sách thuế
Chính sách thuế là một nội dung của chính sách tài chính quốc gia, là tổng
thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng đề
ra quyết định về thu nhập và huy động nguồn thu để đảm bảo cho nhu cầu chi
tiêu của mình.
Chính sách thuế là một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống
chính sách tài chính quốc gia, là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan
trọng trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vai
trò của chính sách thuế thể hiện qua chức năng cơ bản tự thân của nó:
- Chức năng định hướng: Chính sách thuế góp phần định hướng cho nhà
quản lý thu và nộp thuế một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời và hợp lý. Chính
sách thuế còn giúp các nhà sản xuất kinh doanh định hướng, xác định ngành
nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh... để mang lại hiệu quả phù hợp với khả năng
và năng lực của mình.
- Chức năng điều tiết: Chính sách thuế giúp phân phối, điều tiết thu nhập
giữa các cá nhân, các tổ chức và góp phần phân phối lại các nguồn của cải xã
hội và năng lực sản xuất của toàn xã hội trong lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân
theo những định hướng phát triển của nhà nước.
Như vậy chính sách thuế góp phần chủ động tích cực trong việc khuyến
khích hay kiềm chế đối với các hoạt động kinh tế - xã hội của tất cả các ngành,
lĩnh vực, lãnh thổ, tổ chức và cá nhân theo những mục tiêu định hướng và hoạch
định của nhà nước.
3. Những nội dung cơ bản của các sắc thuế hiện hành
3.1. Thuế giá trị gia tăng (VAT)
Hiện nay, nhà nước áp dụng thuế VAT để thay cho thuế doanh thu luật
thuế VAT có hiệu lực từ ngày 01/01/1999.
- Thuế suất được áp dụng đối với các loại hàng hoá, dịch vụ: 0%; 5%;
10%; 20%.
+ Phương pháp tính thuế VAT có hai phương pháp:
- Phương pháp khấu trừ được xác định như sau.
Số thuế VAT phải nộp = Thuế VAT đầu ra - Thuế VAT đầu vào.
- Phương pháp tính thuế trực tiếp:
Số thuế phải nộp = Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ x với thuế suất
thuế giá trị gia tăng của hàng hoá , dịch vụ đó.
Giá trị gia tăng = Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra - giá thanh
toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào.
Phương pháp trực tiếp chỉ áp dụng với các đối tượng là cá nhân sản xuất
kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo
luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế
toán, hoá đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ và
chỉ tính với cơ sở kinh doanh mua bán vàng bạc, đá quý.
3.2. Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTTĐB).
Là loại thuế đánh vào một số sản phẩm không cần hoặc không cần thiết
đối với nhu cầu sản xuất và đời sống như thuốc lá, rượu bia, bài lá, vàng mã và
một số dịch vụ vv...
- Thuế suất TTTĐB được quy định từ 15% đến 100% tùy theo từng mặt
hàng và dịch vụ.
- Căn cứ tính TTTĐB là giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và
thuế suất.
- Phương pháp tính thuế TTTĐB:
TTTĐB = x x thuế suất
3.3. Thuế xuất nhập khẩu (TXNK)
Là loại thuế đánh vào hoạt động XNK của tất cả các tổ chức, cá nhân bao
gồm các loại hàng hóa thuộc phạm vi tính thuế được luật quy định.
- Thuế XNK được xây dựng riêng cho hàng hoá XNK và thành hai biểu
thuế. Mỗi biểu thuế có thuế suất thông thường và thuế suất ưu đãi.
thay thế cho thuế nông nghiệp và được quy định bởi luật thuế sử dụng đất nông
nghiệp do Quốc hội ban hành, có hiệu lực ban hành từ năm 1994.
Đối tượng nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp là mọi tổ chức, cá nhân sử
dụng vào mục đích sản xuất đất nông nghiệp các loại đất trồng trọt. đất có mặt
nước nuôi trồng thủy sản, đất rừng. Thuế sử dụng đất nông nghiệp không áp
dụng đối với các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hoạt động theo luật đầu tư
nước ngoài tại Việt nam là đối tượng nộp tiền thuê đất.
Định suất thuế suất sử dụng đất nông nghiệp được tính bằng thóc, thu
bằng tiền căn cứ vào hạng đất. Hạng đất nông nghiệp được xác định căn cứ vào
trị trí, chất đất, điều kiện địa hình, khí hậu, tiêu nước.
Các trường hợp được miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp được luật
quy định bao gồm đồi, núi trọc, đất khai hoang, các hộ nông dân sử dụng đất
nông nghiệp vùng cao, biên giới, hải đảo, các hộ gia đình thương binh liệt sỹ.
3.7. Thuế nhà đất.
Thuế nhà đất được quy định bởi pháp lệnh thuế nhà đất được uỷ Ban
thường vụ Quốc Hội ban hành tháng 9 năm 1992 và được sửa đổi, bổ sug vào
tháng 5 năm 1994.
Đối tượng nộp thuế nhà đất là mọi tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất
ở, đất xây dựng công trình. Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đã nộp tiền thuế đất không thuộc đối tượng
phải nộp thuế đất, tạm thời chưa thu thuế đối với nhà ở.
Thuế đất được áp dụng đối với toàn bộ diện tích đất ở, đất xây dựng công
trình trên lãnh thổ Việt Nam, trừ phần đất sử dụng vào mục đích công cộng,
phúc lợi, từ thiện, sử dụng vào mục đích tôn giáo, các di tích lịch sử, văn hoá
được sử dụng không nhằm mục đích kinh doanh.
Thuế đất được thu hằng năm. Định suất thuế đất được quy định căn cứ
vào hạng đất và lấy định suất thuế sử dụng đất nông nghiệp làm cơ sở.
Việc miễn giảm thuế đất được áp dụng đối với đất dùng để xây dựng trụ
sở của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công trình văn hoá và dùng vào
mục đích quốc phòng, đất vùng núi, vùng định canh, định cư của đồng bào dân