Tiểu luận: Tư duy mới của Đảng về Kinh tế thị trường trong 20 năm đổi mới ở nước
ta
MỤC LỤC
I. Mở đầu
II. Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kì đổi mới
a. Tư duy của Đảng về Kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến Đại hội VIII
b. Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội IX đến Đại hội X
III. Những thay đổi về tư duy của Đảng ta
IV. Những thành tựu của Đảng sau 20 năm đổi mới
V. Phương hướng và giải pháp của Đảng về tư duy kinh tế thị trường
trong những năm tiếp
a. Các yếu tố cơ bản thay đổi tư duy kinh tế của Đảng ta:\
b. Những khó khăn và phương hướng trong thời gian tới về đổi mới tư duy kinh tế
của Đảng ta
VI. Kết luận
I. Mở đầu:
Tiểu luận: Tư duy mới của Đảng về Kinh tế thị trường trong 20 năm đổi mới ở nước
ta
Đất nước ta sau 20 năm đổi mới đã có những bước phát triển rực rỡ. Nền kinh tế chuyển đổi
từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn. Tốc độ phát triển bình quân 7,5%. Tổng
kim ngạch xuất nhập khẩu 2005 trên 80 tỷ USD. Các thành phần kinh tế phát triển nhanh
chóng, đa dạng. Đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt về nhiều mặt: kinh tế, y tế, văn
hoá, xã hội…
Việt Nam đang dần khẳng định vai trò của mình trên trường quốc tế. Tuy nhiên nước ta vẫn
còn là một nước nghèo, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tệ nạn xã hội tham ô tham nhũng vẫn tồn tại và phát
triển. Đảng và Nhà nước đã khẳng định quyết tâm dẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần, định hướng XHCN, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo
nàn, lạc hậu, kém phát triển để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công
trước đổi mới, nhận thức về kinh tế thị trường có sự thay đổi căn bản và sâu sắc.
Kinh tế thị trường không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển
chung của nhân loại. Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho thấy sản xuất và trao đổi hàng
hoá là tiền đề quan trọng cho sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường
đã có mầm mống từ trong xã hội nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến và phát triển cao
trong chủ nghĩa Tư bản. Chủ nghĩa Tư bản không sản sinh ra kinh tế hàng hoá. Do đó, kinh tế
thị trường với tư cách là kinh tế hàng hoá ở trình độ cao không phải là sản phẩm riêng của chủ
nghĩa Tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại. Kinh tế thị trường lấy khoa học,
công nghệ hiện đại làm cơ sở và nền sản xuất hoá cao.
Kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa Xã hội. Kinh tế thị
trường xét dưới góc độ “một kiểu tổ chức kinh tế” là phương thức tổ chức, vận hành nền kinh
tế, là phương tiện điều tiết nền kinh tế lấy cơ chế thị trường làm cơ sở để phân bổ các nguồn
nhân lực kinh tế và điều tiết mối quan hệ giữa người với người. Kinh tế thị trường chỉ đối lập
với kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc chứ không đối lập với các chế độ xã hội. Bản thân kinh tế thị
trường không phải là đặc trưng bản chất cho chế độ kinh tế cơ bản của xã hội. Kinh tế thị
trường tồn tại và phát triển ở nhiều phương thức sản xuất khác nhau. Kinh tế thị trường vừa có
thể liên hệ với chế độ công hữu và phục vụ cho chúng.
Có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Các
chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, lỗ, lãi tự chịu. Giá cả cơ
bản do cung cầu điều tiết, hệ thống thị trường phát triển đồng bộ và hoàn hảo. Nền kinh tế có
tính mở cao và vận hành theo qui luật vốn có của kinh tế thị trường: qui luật giá trị, cung cầu,
cạnh tranh, qui luật lưu thông tiền thị trường. Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ
mô của Nhà nước.
b. Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội IX đến Đại hội X:
Đảng xác định: Nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế
tổng quát của nước ta trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là “một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo qui luật của kinh tế thị
trường vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất cùa chủ
nghĩa xã hội”. Nội dung cơ bản của định hướng Xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị
trường ở nước ta thể hiện ở 4 tiêu chí:
động theo các quy luật của chủ nghĩa xã hội, còn kinh tế tư bản chủ nghĩa thì vận động theo
các quy luật của chủ nghĩa tư bản (tất nhiên trong khi nói đến kinh tế kế hoạch chúng ta cũng
đã từng nói đến hạch toán và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, vận dụng quan hệ hàng hóa - tiền
tệ, coi lợi ích vật chất và khuyến khích vật chất là một động lực của sự phát triển).
Sau đổi mới, tư duy của chúng ta về kinh tế có nhiều sự phát triển so với trước. Nhìn khái
quát đã có những sự thay đổi lớn như sau:
- Từ quan niệm chủ nghĩa xã hội chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất là chế độ công hữu về
tất cả các tư liệu sản xuất (bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) đã đi đến quan niệm
nền kinh tế của ta hiện nay và sau này có ba chế độ sở hữu cơ bản là toàn dân, tập thể, tư
nhân, trên cơ sở đó, hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế khác nhau
như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế
tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Từ quan niệm cho rằng để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải nhanh
chóng hoàn thành việc cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ là những thành
phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã đến quan niệm rằng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội,
Tiểu luận: Tư duy mới của Đảng về Kinh tế thị trường trong 20 năm đổi mới ở nước
ta
phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, còn cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ
sản xuất mới nhất thiết phải phù hợp với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất.
- Từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, với việc xóa bỏ nhanh
chóng các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu đã là nền tảng của nền kinh tế
quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốn cho hai thành phần kinh tế ấy ngày càng trở thành
nền tảng vững chắc thì phải trải qua một quá trình dài xây dựng, đổi mới và phát triển với
những bước thích hợp; trong khi đó, vẫn khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế tư
nhân, coi như thành phần này là động lực quan trọng của phát triển kinh tế và phát triển lực
lượng sản xuất.
- Từ quan niệm nhà nước phải chỉ huy toàn bộ nền kinh tế theo một kế hoạch tập trung, thống
nhất với những chỉ tiêu có tính pháp lệnh áp đặt từ trên xuống, đã đi đến phân biệt rõ chức
năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh; chức năng quản lý nhà
nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản công là thuộc nhà nước, còn chức năng quản lý kinh
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang trở thành cơ chế vận hành của nền kinh tế.
Có nghĩa là nền kinh tế của ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, còn có chế vận hành của nền kinh tế đó là cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước.
Gần cuối nhiệm kỳ Đại hội VII, tại một nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác lý luận đã nhận
định: “Thị trường và kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là
thành tựu chung của văn minh nhân loại”. Theo nhận định này, thị trường, kinh tế thị trường đã
từng tồn tại và phát triển qua những phương thức sản xuất khác nhau. Nó có trước chủ nghĩa
tư bản, trong chủ nghĩa tư bản và cả sau chủ nghĩa tư bản. Nếu trước chủ nghĩa tư bản nó vận
động và phát triển ở mức khởi phát, manh nha, còn ở trình độ thấp thì trong xã hội tư bản chủ
nghĩa, nó đạt tới đỉnh cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó,
làm cho người ta nghĩa rằng nó chính là chủ nghĩa tư bản. Như vậy, trong thời kỳ quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu. Vấn đề ở đây là liệu
kinh tế thị trường có đối lập với chủ nghĩa xã hội không, và liệu việc xây dựng chủ nghĩa xã hội
có đi đến phủ định kinh tế thị trường để rồi tạo nên một nền kinh tế hoàn toàn khác về chất là
kinh tế xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế vận động theo các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội
hay không? Câu trả lời là không. Quan điểm này cũng chính là quan điểm của Đại hội VIII
(1996) khi Đại hội chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng, xã
hội chủ nghĩa”.
Bước III: Coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của
nước ta trong thời kỳ quá độ. Đại hội IX của Đảng (2001) ghi rõ: Đảng và Nhà nước ta chủ
trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh
tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.
Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp
trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,
45,7% GDP. Hợp tác và hợp tác xã chiếm 6,8% GDP. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm
15,9% GDP
Về tốc độ tăng trưởng, trong những năm khởi đầu công cuộc đổi mới (1986-1991) tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng tương đối chậm. Nhưng khi quá trình đổi mới diễn ra rộng
khắp và đi vào thực chất thì tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt mức cao và ổn định kéo dài, mặc
dù có lúc bị giảm sút do dự báo chủ quan và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn
cầu.
Do tốc độ tăng GDP cao nên GDP/người/năm cũng tăng lên đáng kể, từ 289 USD (năm
1995) lên 1.024 USD (năm 2008), cho thấy Việt Nam đang từng bước vượt qua ranh giới của
quốc gia đang phát triển có thu nhập thấp và đang vươn lên nước đang phát triển có thu nhập
trung bình thấp (theo quy ước chung của quốc tế và xếp loại các nước theo trình độ phát triển
thì nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp là những nước có GDP/người từ 765 đến
3.385USD).
Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành
phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu. Khu vực kinh tế nhà nước được tổ chức lại,
đổi mới và chiếm 38,4% GDP vào năm 2005. Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt
động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, chiếm 45,7% GDP, đóng góp quan trọng cho phát triển
kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhân dân; kinh tế hợp tác và hợp tác
Tiểu luận: Tư duy mới của Đảng về Kinh tế thị trường trong 20 năm đổi mới ở nước
ta
xã phát triển khá đa dạng (đóng góp 6,8% GDP). Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ
tăng trưởng tương đối cao, chiếm 15,9% GDP, là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển
giao công nghệ, giao thông quốc tế .
Thành tựu đổi mới trong nước kết hợp với thực hiện chính sách mở cửa, tích vực và chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam và
mang lại cho Việt Nam một vị thế quốc tế mới. Từ một quốc gia bị phong toả, cấm vận; từ một
nền kinh tế kém phát triển và “đóng cửa”, sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn mạnh ra
thế giới. Đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với gần 170 nước và vùng lãnh thổ; mở
rộng quan hệ kinh tế thương mại với 221 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngoài ra, Việt Nam còn là
thành viên chính thức của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, và điều đáng nói nhất là
thị và nông thôn, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi, cải thiện đời
sống nhân dân. Sự phá bỏ độc quyền, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện cho
các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp phát huy tính năng động, sáng tạo trong hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Quá trình đổi mới tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế thật sự bắt đầu cùng với sự nghiệp đổi
mới được Đại hội VI của Đảng khởi xướng. Đến Đại hội VII, chủ trương hội nhập kinh tế quốc
tế được khẳng định là chủ trương lớn, chủ đạo của đường lối đổi mới của nước ta. Đại đội IX
của Đảng đã khẳng định chủ trương: Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực
bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững.
Đổi mới tư duy kinh tế của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại thành tựu to lớn cho đất
nước. Đến nay Việt Nam đã có quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức kinh tế, tiền tệ thế giới như
Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB); gia
nhập Hiệp hội các nước Đông - Nam Á (ASEAN) năm 1995 và Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA) năm 1996; tham gia sáng lập diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996; gia nhập Diễn
đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 1998 và đặc biệt năm 2007 trở
thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Việt Nam đã đẩy lùi được
chính sách bao vây, cô lập về chính trị, cấm vận về kinh tế của các thế lực thù địch. Hiện chúng
ta đã có quan hệ thương mại với hơn 170 nước và vùng lãnh thổ, đã ký hiệp định thương mại
với gần 100 quốc gia và có thỏa thuận về đối xử tối huệ quốc với 81 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả những nước đã từng là thù địch chống nước ta, đều coi
Việt Nam là đối tác tin cậy, là thị trường giàu tiềm năng và ổn định, là nơi đầu tư hết sức lý
tưởng cho các nhà đầu tư nước ngoài, không ít quốc gia lớn, có tiềm lực kinh tế xem Việt Nam
là đối tác kinh tế chiến lược. Những thành tựu đạt được trong đổi mới tư duy kinh tế của Đảng
trong thời gian qua là hết sức to lớn, có thể ví như một cuộc cách mạng thật sự về kinh tế đối
với nước ta. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những thành tựu bước đầu, để đạt được mục tiêu “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy
lý luận về kinh tế của Đảng đang là đòi hỏi khách quan với các yếu tố cơ bản sau:
Một là, sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Đặc trưng của nền kinh tế tri thức là sử dụng có
hiệu quả tri thức và những sáng tạo mới của con người để đẩy nhanh tốc độ đổi mới sản phẩm
và công nghệ. Dưới quan điểm về kinh tế phát triển, kinh tế tri thức là kinh tế trong đó sản sinh
Ngân hàng thế giới và Công ty tài chính quốc tế về năng lực cạnh tranh toàn cầu thì năm 2006,
2007 Việt Nam xếp hạng 77/125 quốc gia, tụt 3 bậc so với năm 2005. Nguyên nhân của tình
trạng này là do chúng ta chậm đổi mới về tư duy kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế. Sự đổi mới không theo kịp với xu hướng phát triển của thời đại đã làm kìm hãm phát triển
của doanh nghiệp và quốc gia. Thời gian qua, chúng ta chỉ tập trung vào các nhân tố bên trong,
dựa vào nội lực là chính, chưa thật sự đánh giá đúng vai trò, cũng như sức ép từ các nhân tố
bên ngoài trong phát triển kinh tế. Doanh nghiệp chưa thật sự quan tâm đến hội nhập, chưa
thật sự chủ động thay đổi tư duy, cách thức tổ chức cho phù hợp với điều kiện mới của môi
trường cạnh tranh quốc tế. Trong hơn 20 năm đổi mới, mặc dù chúng ta đã đạt được những
thành tựu kinh tế hết sức ấn tượng, song khách quan mà nói nền kinh tế nước ta vẫn đang
trong tình trạng lạc hậu, đổi mới tư duy về kinh tế chưa theo kịp với sự biến đổi nhanh chóng
của thời đại, nhất là những thay đổi của nhân loại mang tính đột phá như công nghệ thông tin,
kinh tế tri thức, công nghệ sinh học, mô hình phát triển kinh tế. Việt Nam cũng đã có những thứ
hạng đáng kể về xuất khẩu một số mặt hàng và thu hút đầu tư, song nếu phân tích, đánh giá
một cách khách quan thì chưa thật sự tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của đất nước. Vì
vậy, chúng ta cần phải tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế để tiếp tục cải thiện vị thế của mình trong
cộng đồng kinh tế quốc tế.
Bốn là, những bất cập của thực tiễn cuộc sống. Sự phát triển kinh tế trong thời gian qua, đặc
biệt là sự tăng lên mạnh mẽ số lượng các doanh nghiệp và huy động vốn đầu tư đang gặp
những rào cản. Đó là tình trạng ban hành chính sách kinh tế chưa phù hợp với thực tế, còn có
những bất cập trong việc ban hành và thực thi chính sách, nhất là chính sách đất đai và tín
dụng. Môi trường kinh doanh chưa thật sự thuận lợi. Hiện nay, tiềm lực nội tại của nền kinh tế
nước ta vẫn còn rất lớn, nguồn vốn trong dân còn nhiều nhưng chưa được sử dụng vào đầu tư
phát triển kinh tế. Trong một số khu vực kinh tế đã có dấu hiệu chững lại. Sự phát triển kinh tế
đang kéo theo nhiều vấn đề cần phải giải quyết như khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, tài
Tiểu luận: Tư duy mới của Đảng về Kinh tế thị trường trong 20 năm đổi mới ở nước
ta
nguyên và môi trường bị ảnh hưởng nặng nề, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế còn thấp,
chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao
b. Những khó khăn và phương hướng trong thời gian tới về đổi mới tư duy
giới. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay cần phải đổi mới tư duy trong xây dựng
các chính sách kinh tế theo hướng một mặt phải bảo đảm được lợi ích quốc gia, lợi ích dân
tộc, mặt khác phải bảo đảm tính mềm dẻo, thích ứng với xu hướng phát triển của thời đại.
Trong hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta vừa phải theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa và
lại vừa có tính chọn lọc cao. Chỉ có như vậy chúng ta mới tranh thủ tốt cơ hội do hội nhập mang
lại, đồng thời giảm bớt những rủi ro từ hội nhập.
Tiểu luận: Tư duy mới của Đảng về Kinh tế thị trường trong 20 năm đổi mới ở nước
ta
Thứ ba, phát huy tối ưu các lợi thế so sánh của đất nước trong phân công lao động và hợp
tác quốc tế, trên cơ sở đó tạo ra những đột phá mới về kinh tế. Bên cạnh việc đưa ra các chính
sách thu hút mạnh mẽ và sử dụng có hiệu quả từ nguồn lực bên ngoài để phát triển sản xuất,
cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, kết hợp có hiệu quả nội lực và
ngoại lực để tăng tốc phát triển kinh tế. Cần chọn những ngành, những khu vực, những mặt
hàng mũi nhọn để làm khâu đột phá.
Thứ tư, phát triển nền kinh tế theo hướng hiện đại, có sức cạnh tranh cao. Cần tranh thủ
những điều kiện thuận lợi do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, tập trung thu hút đầu tư để xây
dựng một nền kinh tế hiện đại, trên cơ sở đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực
cạnh tranh quốc gia. Theo đó, việc thu hút đầu tư cần ưu tiên cho các lĩnh vực, các ngành có
trình độ khoa học công nghệ cao, nhất là những dịch vụ chất lượng cao nhằm tạo những điều
kiện cần thiết cho việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, đồng thời đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ năm, lấy con người làm trung tâm phát triển. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế,
sức cạnh tranh của các quốc gia đều do chất lượng nguồn nhân lực quyết định. Vì vậy cần đẩy
mạnh giáo dục - đào tạo, phát triển văn hóa để nâng cao dân trí, làm thay đổi chất lượng nguồn
nhân lực. Tăng trưởng và phát triển kinh tế phải gắn với các chính sách xã hội, nâng cao chất
lượng cuộc sống, trình độ phát triển của con người.
Thứ sáu, nâng cao hiệu lực, hiệu quả và năng lực quản lý của nhà nước trong kinh tế. Thời
gian qua, chúng ta đã có những đổi mới căn bản trong tư duy quản lý kinh tế của nhà nước, đã
phân định rõ vai trò của nhà nước và vai trò của doanh nghiệp trong quản lý kinh tế. Tuy nhiên,
trong điều kiện mới, cần phải đổi mới hơn nữa trong quản lý kinh tế. Theo đó, quản lý kinh tế
Hoàn thành bài tiểu luận về “ Tư duy đổi mới của Đảng về Kinh tế thị trường trong 20 năm
đổi mới ở nước ta”- một vấn đề quan trọng và xuyên suốt luôn được Đảng và Nhà nước quan
tâm hàng đầu nên chắc chắn em không tránh khỏi những thiếu sót do trình độ còn hạn chế, thời
gian không cho phép nghiên cứu sâu rộng, điều kiện để thu thập thông tin còn khó khăn Kính
mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài tiểu luận của em được
hoàn chỉnh hơn.