Những quan điểm của đảng về công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta được đại hội đảng toàn quốc lần VIII (61996) thông qua tải hộ 0984985060 - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại hội Đảng lần thứ III, Đảng ta luôn coi công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(CNH-HĐH) là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, Đảng ta đã xác định
thực chất của CNH xã hội chủ nghĩa là “Quyết tâm thực hiện cách mạng kỹ
thuật, thực hiện phân công mới về lao động xã hội là quá trình tích luỹ xã hội
chủ nghĩa để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng“. Thực tiễn lịch sử đã
chỉ rõ để thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế xã hội, khai thác tối ưu các nguồn
lực và lợi thế, bảo đảm tăng trưởng nhanh ổn định, nước ta phải xác định rõ cơ
cấu kinh tế hợp lý, trang thiết bị ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế. Mặt
khác, nước ta là nước đang phát triển vì vậy quá trình ấy gắn liền với quá trình
công nghiệp hoá để từ đó hiện đại hoá đất nước.
Việc xây dựng đúng đắn những quan điểm CNH-HĐH ở Việt Nam hiện
nay có vị trí rất quan trọng đối với quá trình CNH-HĐH. Bởi xây dựng đầy đủ
các quan điểm CNH-HĐH sẽ là cơ sở đúng đắn cho việc định hướng, định lượng
chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nội dung và các bước đi của CNH-HĐH phù
hợp với bối cảnh xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Nghị quyết đại hội VIII của Đảng đã đưa sự nghiệp đổi mới lên tầm cao
mới, đẩy mạnh CNH-HĐH. Mặt khác, CNH-HĐH đất nước phải chứa đựng
được mục tiêu, chiến lược, nội dung, hình thức, phương hướng cách mạng của
đảng ta trong thời kỳ đổi mới. Để đạt mục tiêu nhất quán và xuyên suốt đó là
dân giầu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh thì Đảng ta phải
trung thành với chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa 15 năm
đổi mới đất nước.
Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ
nghĩa xã hội, đó là nội dung trọng tâm của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII,
qua đề tài "Những quan điểm của Đảng về Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở
nước ta được đại hội Đảng toàn quốc lần VIII (6/1996) thông qua". Để làm
rõ quan điểm cơ bản đó.
NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM CNH - HĐH

Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi và phát triển. Sự
biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của lực lượng
sản xuất mà trước hết là công cụ.
Quan hệ sản xuất vốn là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất (phù
hợp) nhưng do mâu thuẫn của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất thì quan
hệ sản xuất lại trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
(không phù hợp).
Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và biến đổi của
quan hệ sản xuất. Khi không thích ứng với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất, quan hệ sản xuất sẽ kìm hãm thậm chí phá hoại sự phát triển của lực
lượng sản xuất, mâu thuẫn của chúng tất yếu sẽ nảy sinh.
Khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy định hướng và tạo điều kiện cho lực
lượng sản xuất phát triển.
Quan hệ sản xuất phải tạo được điều kiện sản xuất và kết hợp với tối ưu
giữa tư liệu sản xuất và sức lao động, đảm bảo trách nhiệm từ sản xuất mở rộng.
Vậy quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
của người sản xuất là quy luật chung của sự phát triển xã hội.
III. NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA –
HIỆN ĐẠI HÓA ĐƯỢC ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN VIII
THÔNG QUA.
1- ĐÁNH GIÁ 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI VII VÀ
10 NĂM ĐỔI MỚI
Đại hội VIII phải đánh giá đúng đắn kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết
Đại hội VII và 10 năm thực hiện đường lối đổi mới được đề ra từ Đại hội VI của
Đảng, rút ra những bài học lớn, làm cơ sở xác định đúng đắn mục tiêu, nhiệm vụ
cho chặng đường sắp tới.
Mười năm trước, khi Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện, nước ta trong
tình trạng trầm trọng nhất của khủng hoảng kinh tế - xã hội; sản xuất đình đốn,
lạm phát tăng vọt, đất nước bị bao vây về kinh tế, đời sống nhân dân hết sức

trong nước, tạo thuận lợi khai thác nguồn lực bên ngoài. Nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng một cách đồng bộ hơn
và có hiệu quả hơn.
Số việc làm tạo thêm hàng năm gần đây đã xấp xỉ số người mới bổ sung
vào lực lượng lao động. Đời sống vật chất của đại bộ phận nhân dân được cải
thiện. Trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân khá hơn trước.
Các phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo được toàn dân hưởng
ứng. Dân chủ được phát huy. Lòng tin của nhân dân đối với chế độ và tiền đồ
đất nước, với Đảng và Nhà nước được khẳng định.
Ổn định chính trị - xã hội được giữ vững. Quốc phòng an ninh được củng
cố. Quan hệ đối ngoại phát triển mạnh mẽ; phá được thế bị bao vây, cô lập; mở
rộng hợp tác và tham gia tích cực đời sống cộng đồng quốc tế.
Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
tăng cường đại đoàn kết toàn dân có nhiều chuyển biến tích cực.
Trong khi đánh giá đúng thành tựu, chúng ta cần thấy rõ những tồn tại và
yếu kém: nước ta còn nghèo và kém phát triển; chúng ta lại chưa thực hiện tốt
cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, dành vốn cho đầu tư, phát
triển. Tình hình xã hội còn nhiều tiêu cực và nhiều vấn đề phải giải quyết. Việc
lãnh đạo xây dựng quan hệ sản xuất mới có phần vừa lúng túng. Vừa buông
lỏng. Quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội còn nhiều thiếu sót. Hệ thống chính trị
còn nhiều nhược điểm.
Tuy vậy, đến nay, thế và lực của đất nước ta đã có sự biến đổi rõ rệt về
chất. Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hỏang kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo
dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề
cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Từ những bài học thành công và chưa thành công, chúng ta đã điều chỉnh
và bổ sung nhận thức, làm cho quan niệm về chủ nghĩa xã hội ngày càng cụ thể;
đường lối, chủ trương, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa học và

- Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi
mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị. Phát huy dân
chủ, khắc phục những hiện tượng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, đồng
thời chống mọi khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá khích, mọi âm mưu lợi
dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm gây rối chính trị, chống phá chế
độ, can thiệp vào nội bộ nước ta.
- Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường phải đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội,
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.
- Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu
nước, ý chí tự lực, tự cường, động viên sức mạnh của cả dân tộc nỗ lực phấn đấu
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
- Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của
nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.
Động viên mọi nguồn lực bên trong là chính, đồng thời khai thác tốt những điều
kiện thuận lợi mới trong quan hệ đối ngoại, tạo môi trường quốc tế thuận lợi và
tranh thủ những nhân tố tích cực phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất
nước. Việc mở rộng quan hệ đối ngoại phải trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ,
giữ gìn, phát huy bản sắc và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ
then chốt. Đảng ta phải luôn tự đổi mới và chỉnh đốn. Củng cố và xây dựng
Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ; tăng cường bản chất giai cấp
công nhân và tính tiền phong của Đảng; đổi mới phương thức, lề lối làm việc,
nâng cao trình độ và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và
toàn xã hội.
Nắm vững và vận dụng sáng tạo những bài học trên đây là bảo đảm cho
thành công của sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
2- THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI - ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Các nước có chế độ chính trị xã hội khác
nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh cùng tồn tại hòa bình.
Trước mắt chúng ta có cả thời cơ lớn và những thách thức lớn.
Thời cơ lớn được tạo ra trước hết do những thành tựu của công cuộc đổi
mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời cũng do sự tác động của nhiều xu
thế tích cực trên thế giới.
Thách thức lớn nảy sinh từ bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc
giữa nhiệm kỳ nêu lên. Các nguy cơ đó có mối liên hệ tác động lẫn nhau và đều
nguy hiểm, không thể xem nhẹ nguy cơ nào.
Thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau. Chúng ta phải chủ
động nắm thời cơ, vươn lên phát triển nhanh và vững chắc, tạo ra thế và lực
mới, đồng thời luôn luôn tỉnh táo, kiên quyết đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ,
kể cả những nguy cơ mới nảy sinh, bảo đảm phát triển đúng hướng.
Xuất phát từ kết quả 10 năm đổi mới, từ những tiền đề đã được tạo ra, Đảng
ta nhận định rằng nước ta đã chuyển sang thời ký phát triển mới, thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây là một nhận định cực kỳ quan trọng,
có ý nghĩa chỉ đạo đối với việc đề ra phương hướng, nhiệm vụ sắp tới.
Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một
nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp.
Lực lượng sản xuất đến lúc đó sẽ đạt trình độ tương đối hiện đại, phần lớn
lao động thủ công được thay thế bằng lao động sử dụng máy móc, điện khí hóa
cơ bản được thực hiện trong cả nước, năng suất lao động xã hội và hiệu quả sản
xuất kinh doanh cao hơn nhiều so với hiên nay. Tổng sản phẩm trong nước
(GDP) tăng từ 8 đến 10 lần so với năm 1990.
Về quan hệ sản xuất, chế độ sở hữu, cơ chế quản lý và chế độ phân phối

trình lớn đã được xây dựng và phát huy tác dụng. Chúng ta phải kế thừa thành
tựu của thời kỳ trước, rút kinh nghiệm từ những sai lầm, thiếu sót để bổ sung,
phát triển nhận thức, đề ra những bước đi, giải pháp thích hợp, nhằm triển khai
có hiệu quả hơn sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ
mới.
Ngày nay, công nghiệp hóa luôn gắn liền với hiện đại hóa, với việc ứng
dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thời đại.
Khoa học và công nghệ trở thành nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt
Nam là nhân tố quyết đinh thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Trong hoàn cảnh mới chúng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở, đa
phương hóa và da dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, hướng mạnh về xuất
khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu
quả, tranh thủ vốn, công nghệ và thị trường quốc tế để tiến hành công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Nhưng kinh nghiệm cho thấy, nếu không tao lập được một vị
thế độc lập, tự chủ, không có đủ nội lực cần thiết, thì không thể tham gia hợp tác
quốc tế một cách thật sự bình đẳng và có lợi, không thể khai thác và sử dụng có
hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Vì vậy, phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý,
bảo đảm khả năng giữ vững độc lập, tự chủ về kinh tế, quốc phòng an ninh, chủ
động tham gia phân công lao động và hợp tác quốc tế. Luôn luôn nêu cao
phương châm dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa
nguồn lực bên ngoài, động viên mọi người, mọi nhà, mọi cấp, mọi ngành cần
kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, dành vốn cho đầu tư phát triển.
Trong những năm trước mắt, khả năng vốn còn có hạn, nhu cầu việc làm rất
bức bách, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tình hình kinh tế, xã hội chưa
thật ổn định vững chắc. Chúng ta cần tránh sai lầm chủ quan nóng vội, quá thiên
về công nghiệp nặng, ham quy mô lớn. Phải đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa
nông nghiệp và nông thôn, ra sức phát triển nông - lâm ngư nghiệp, các ngành
công nghiệp chế biến nông – lâm - thủy sản, công nghiệp hàng tiêu dùng và

hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh; đối xử bình đẳng với mọi thành phần
kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức tổ chức kinh
doanh.
Nền kinh tế nhiều thành phần mà Đảng ta chủ trương là nền kinh tế phát
triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, văn kiện nhấn mạnh sự cần thiết
phải chăm lo đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác, làm cho
kinh tế nhà nước thực sự làm ăn có hiệu quả, phát huy tốt vai trò chủ đạo, cùng
với kinh tế hợp tác xã phấn đấu dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc
dân.
Tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành,
những lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống tài
chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất và thương mại, dịch vụ quan
trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến quốc
phòng an ninh.
Đổi mới tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước, phát huy cao độ quyền tự
chủ của doanh nghiệp trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Thực hiện tốt
chủ trương cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước để huy động thêm
vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, làm cho tài
sản thuộc sở hữu nhà nước ngày càng tăng lên.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và có chính sách ưu đãi, giúp đỡ kinh tế hợp
tác mà nòng cốt là các hợp tác xã phát triển tốt. Kết hợp một cách tự nguyện sức
mạnh của từng thành viên với sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả hơn
những vấn đề của sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động.
Phát triển rộng rãi các hình thức kinh tế tư bản nhà nước. Áp dụng nhiều
phương thức hợp tác, liên doanh giữa Nhà nước với các nhà tư bản trong nước
và các công ty tư bản nước ngoài. Tạo thế và lực cho doanh nghiệp Việt Nam
phát triển, tăng khả năng hợp tác và cạnh tranh. Cải thiện môi trường đầu tư và
nâng cao năng lực quản lý để thu hút có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài.
Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa

sở hữu tài sản công của Nhà nước. Tôn trọng và phát huy đầy đủ quyến tự chủ
kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Các cơ quan chính quyền
không can thiệp vào những việc thuộc chức năng quản trị kinh doanh của doanh
nghiệp.
4. CHĂM LO PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI, THỰC
HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Cương lĩnh của Đảng ta chỉ rõ: “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc
con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội".
Hàng loạt vấn đề xã hội đang được đặt ra, hoặc do hậu quả nặng nề của
nhiều năm chiến tranh, của nền kinh tế kém phát triển, hoặc mới nảy sinh trong
quá trình chuyển sang cơ chế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế. Không thể
cùng một lúc giải quyết mọi vấn đề trong lúc năng suất lao động xã hội còn thấp,
nguồn thu ngân sách còn hạn hẹp, lại phải tích lũy cho công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Vì vậy, Báo cáo chính trị chỉ đề cập một số vấn đề bức bách nhất
về con người và về xã hội.
Báo cáo chính trị trình bày các phương hướng chủ yếu phát triển trí tuệ của
người Việt Nam thể hiện trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục và
đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Các ngành
khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ phải được quan
tâm đầu tư phát triển, chú trọng nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các thành tựu khoa học và công nghệ của
nhân loại để góp phần đắc lực vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính
sách, kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực
con người.
Giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu. Bằng nhiều
hình thức đa dạng bảo đảm cho mọi người được học, nhất là người nghèo và con
em các gia đình thuộc diện chính sách. Động viên phong trào toàn dân thi đua
xóa mù chữ, hoàn thành phổ cập tiểu học trong cả nước và phổ cập trung học cơ
sở ở những nơi có điều kiện. Cải tiến chất lượng dạy và học, khắc phục những

Qua thực tiễn 10 năm đổi mới, chúng ta nhận thức rõ là không chờ kinh tế
phát triển cao rồi mới giải quyết các vấn đề xã hội, mà ngay trong từng bước và
suốt quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và
công bằng xã hội. Công bằng xã hội không chỉ được thực hiện trong phân phối
kết quả sản xuất, mà còn được thực hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất, ở
việc tạo ra những điều kiện cho mọi người phát huy tốt năng lực của mình.
Khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp đi đôi với chăm lo
xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức
sống giữa các vùng, giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư, đặc biệt quan
tâm đến các vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, các gia đình thuộc diện
chính sách, làm cho mọi người, mọi nhà đều tiến tới cuộc sống ấm no, hạnh
phúc, ai cũng có việc làm, có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành và chữa
bệnh, từng bước thực hiện điều Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước.
Xuất phát từ nhận thức chăm lo cho con người, cho cộng đồng xã hội là
trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi đơn vị, của từng gia đình, là sự nghiệp của
Đảng. Nhà nước và của toàn dân, chúng ta chủ trương giải quyết các vấn đề xã
hội theo tinh thần xã hội hóa, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt. Theo trình
độ phát triển kinh tế, Nhà nước tăng dần nguồn đầu tư cho khoa học, giáo dục,
văn hóa, chăm sóc sức khỏe và các vấn đề xã hội; đồng thời khai thác mọi tiềm
năng của nhân dân, của địa phương, của các hội, đoàn, tranh thủ các nguồn viện
trợ từ nước ngoài và sử dụng có hiệu quả để chăm lo cho con người và xã hội.
Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của nhân dân do nhân dân và vì nhân dân,
Nhà nước và nhân dân cùng làm, mọi việc đều phải dựa vào dân…, đó là những
quan điểm và kinh nghiệm trong lịch sử chiến tranh nhân dân và trong 10 năm
đổi mới cần nắm vững và phát huy để tạo nguồn lực giải quyết vấn đề con người
và xã hội trong thời kỳ hiện nay.
5- MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ -
XÃ HỘI LỚN TRONG KẾ HOẠCH 5 NĂM 1996 – 2000
Đất nước ta bước vào 5 năm cuối cùng của thế kỷ này với những khả năng
và cơ hội lớn hơn nhiều so với 5 năm trước, đồng thời cũng đứng trước những

Phương hướng và giải pháp lớn nhằm thực hiện các mục tiêu trên được thể
hiện trong 11 chương trình và lĩnh vực phát triển của kế hoạch 5 năm tới mà nội
dung chủ yếu có thể tóm tắt như sau :
- Nhóm các chương trình và lĩnh vực phát triển về nông nghiệp, kinh tế
nông thôn, vùng lãnh thổ, vùng miền núi và dân tộc thiểu số tập trung vào các
mục tiêu và phương hương chính là : phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp
gắn với công nghiệp chế biến nông-lâm-thủy sản, đổi mới cơ cấu kinh tế nông
nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bảo đảm an
toàn lương thực quốc gia trong mọi tình huống. Tạo điều kiện cho các vùng đều
phát triển trên cơ sở phát huy thế mạnh và tiềm năng của mỗi vùng, liên kết giữa
các vùng, làm cho mỗi vùng đều có chuyển biến rõ rệt, giảm sự chênh lệch quá
xa về nhịp độ tăng trưởng giữa các vùng. Trước hết là ưu tiên giúp đỡ những địa
bàn xung yếu, những khu căn cứ cách mạng, các vùng miền núi và vùng đồng
bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, tạo điều kiện ban đầu để các vùng đó
từng bước tự vươn lên. Khai thác tối da tiềm năng và lợi thế của vùng biển, ven
biển để phát triển kinh tế, kết hợp với quốc phòng an ninh, bảo vệ và làm chủ
vùng biển của Tổ quốc.
- Nhóm các chương trình và lĩnh vực phát triển về công nghiệp, xây dựng
cơ sở hạ tầng và dịch vụ tập trung vào các mục tiêu và phương hướng chính là :
phát triển nhanh một số ngành công nghiệp có lợi thế, có sức cạnh tranh trên thị
trường, hướng mạnh về xuất khẩu, hình thành một số ngành và sản phẩm mũi
nhọn trong các lĩnh vực như chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu
dùng, khai thác và chế biến dầu khí, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin,
cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệu. Nâng cấp và cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện
có, hình thành các khu công nghiệp tập trung, tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây
dựng các cơ sở công nghiệp mới, phát triển mạnh công nghiệp ở nông thôn và
ven đô thị. Phát triển giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng
không. Bảo đảm giao lưu thông thoát trong mọi thời tiết trên các tuyến giao
thông huyết mạch, tuyến xương sống và các tuyến nhánh đến các vùng, các
trung tâm miền núi. Chú trọng phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội ở miền

đưa công nghệ nước ta đạt tới trình độ trung bình của khu vực. Tuân thủ nghiêm
ngặt yêu cầu bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
Nâng cao mặt bằng dân trí. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tăng tỉ lệ người lao động được
đào tạo trong tổng số lao động lên 22 –25% vào năm 2000.
Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ vững mạnh. Phát hiện, bồi
dưỡng và trọng dụng nhân tài trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, văn hóa -
nghệ thuật, quản lý kinh tế - xã hội và quản trị sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu
cầu trước mắt và chuẩn bị cho bước phát triển cao hơn sau năm 2000.
- Nhóm các chương trình về phát triển văn hóa - xã hội tập trung vào
những mục tiêu và phương hướng sau :
Giải quyết việc làm. Nhà nước đầu tư tạo thêm chỗ làm việc và tạo điều
kiện cho mọi người tự mình và giúp đỡ người khác tạo việc làm, giảm tỉ lệ
người chưa có việc làm ở thành thị xuống còn 5% và nâng tỉ lệ sử dụng thời gian
lao động ở nông thôn lên 75% vào năm 2000.
Xóa đói, giảm tỷ lệ nghèo từ 20 –25% hiện nay xuống khoảng 10% tổng số
hộ cả nước vào năm 2000.
Mở rộng các hoạt động đền ơn đáp nghĩa những người có công với nước,
đảm bảo cho người có công và gia đình có mức sống bằng hoặc cao hơn mức
trung bình của xã, phường nơi cư trú.
Thực hiện phương châm đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thông
tin, thể dục thể thao, y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình và các mặt xã hội khác,
hướng vào nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần và thể lực của nhân
dân. Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức
xúc, đẩy lùi tiêu cực, bất công và các tệ nạn xã hội.
Phấn đấu thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng; đặc
biệt quan tâm đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội ở những vùng còn nhiều khó
khăn, vùng sâu, vùng xa… nhất là về y tế, giáo dục, phát thành, truyền hình, văn
hóa văn nghệ …

thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương
hóa và đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.
Mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương
với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập,
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ
của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, thông qua thương lượng để tìm những giải
pháp phù hợp giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấp, bảo đảm hòa bình,
ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển.
Tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức
ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn về truyền thống, coi
trọng quan hệ với các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế
giới, đồng thời luôn luôn nêu cao tinh thần đoàn kết anh em với các nước đang
phát triển ở châu Á, châu Phi, Mỹ latinh, với Phong trào không liên kết.
Tăng cường quan hệ với các tổ chức của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc
tế khác. Tích cực hoạt động ở các diễn đàn quốc tế, tham gia giải quyết các vấn
đề toàn cầu. Ủng hộ cuộc đấu tranh loại trừ vũ khí hạt nhân và các phương tiện
giết người hàng loạt khác.
Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách
mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ; thiết lập và mở rộng quan hệ với các đảng cầm
quyền và các đảng khác.
Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính
phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần
thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển.
8- TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC, PHÁT HUY
VAI TRÒ LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN, XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN
NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Sự nghiệp xây dựng đất nước đòi hỏi mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết
dân tộc, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí

Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội,
chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân
dân.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của
Nhà nước.
- Tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao
đạo đức.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
Để Nhà nước ta thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân, một nhà nước
trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả, phải thực hiện tốt, đồng bộ các
nhiệm vụ: đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối cao
của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; cải cách nền hành chính
nhà nước, bao gồm cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và kiện toàn đội
ngũ cán bộ, công chức; cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp.
Hiện nay, cán bộ, đảng viên và nhân dân ta hết sức quan tâm đến cuộc đấu
tranh chống tham nhũng. Nạn tham nhũng đang là một nguy cơ trực tiếp quan hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status