Thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HOÀNG NGUYÊN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN,
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
DÂN TỘC XƠ ĐĂNG, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI – 2018

1


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HOÀNG NGUYÊN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN,
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
DÂN TỘC XƠ ĐĂNG, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 834.04.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

những mặt tích cực thì hàng ngày, hàng giờ văn hóa truyền thống đang bị tác động
mạnh mẽ bởi nhiều yếu tố. Do vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống là nhiệm vụ quan trọng vừa mang tính cấp bách, vừa mang ý nghĩa
chiến lược lâu dài.
Đối với tỉnh Quảng Nam, một địa phương có nền văn hóa khá phong phú, đa
dạng, là nơi có nhiều dân tộc thiểu số cư trú thì việc bảo tồn và phát huy giá trị văn

3


hóa truyền thống đang được các cấp ủy Đảng, Chính quyền đặc biệt quan tâm.
Xơ Đăng là một trong số các tộc người thiểu số đang sinh sống ở tỉnh Quảng
Nam, có dân số đứng thứ ba, sau người Kinh và Cơ Tu. Người Xơ Đăng có đời
sống văn hóa tinh thần phong phú, chứa đựng nhiều nhân văn và sâu sắc. Tuy nhiên,
cuộc sống hiện đại đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa của các tộc người
nói chung, người Xơ Đăng nói riêng khiến cho nhiều giá trị văn hóa truyền thống
đặc trưng của tộc người này đã và đang có nhiều nguy cơ mai một, đánh mất bản
sắc riêng của mình. Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu, lựa chọn để bảo tồn, phát huy
giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng trong bối cảnh đổi mới, hội nhập hiện
nay đang trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, phân tích các yếu tố tác động đến
chính sách bảo tồn, phát huy văn hóa của người Xơ Đăng, đề xuất các giải pháp đổi
mới, hoàn thiện chính sách, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Thực hiện chính sách bảo
tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam” làm
Luận văn cao học chuyên ngành Chính sách công của mình với mong muốn thực
hiện có hiệu quả hơn nữa chính sách bảo tồn, phát huy văn hóa của người Xơ Đăng
trong công cuộc xây dựng và phát triển địa phương hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số nói chung
Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các tộc người ở Việt Nam từ lâu

số 20 năm 2003 đề cập khá chi tiết và cụ thể công tác bảo tồn phát huy bản sắc văn
hóa của các dân tộc ở nước ta thời gian qua.
Tác giả Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn “Cộng đồng Quốc gia dân tộc Việt
Nam” xuất bản năm 2003 của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh đem đến người đọc một số vấn đề lý luận về cộng đồng quốc gia dân tộc và
cộng đồng tộc người; đồng thời giới thiệu sự tiến triển và đặc điểm của cộng đồng
quốc gia dân tộc Việt Nam và của các tộc người cấu thành.
Cuốn “Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam” (2006) và “Bảo
tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới
và hội nhập” (2010) của tác giả Ngô Đức Thịnh có thể xem là một đóng góp quan
trọng đối với sự nghiệp nghiên cứu và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

5


Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa tộc người và văn hóa
Việt Nam, văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam. Những nghiên cứu trên góp
phần cung cấp cơ sở lý thuyết, thực tiễn trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn,
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong quá trình Đổi mới và hội nhập.
2.2. Công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc Xơ đăng
Về văn hóa của người Xơ Đăng cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu
khoa học, hàng chục đầu sách, nhiều bài viết nghiên cứu ở những góc độ và phạm vi
khác nhau, chẳng hạn như Cuốn “Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương” của
Bambo (tạp chí France - Asie số 40 - 50 năm 1950) được Nguyên Ngọc dịch ra
tiếng Việt vào năm 2003, trong đó có đề cập đến người Xơ Đăng. Hay như năm
1966, Bộ Quân lực Hoa Kỳ đã công bố cuốn sách “Những nhóm thiểu số ở Cộng
hòa miền Nam Việt Nam”. Cuốn sách này đã nghiên cứu tổng thể các tộc người sinh
sống ở Tây Nguyên, trong đó người Xơ Đăng đã được miêu tả nhiều ở khía cạnh về
lịch sử tộc người, quá trình định cư, chăm sóc sức khỏe, tổ chức xã hội, phong tục

Không chỉ dừng lại ở nội dung sách, người Xơ Đăng trong những năm gần
đây còn được nghiên cứu sâu, dưới góc độ của luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và
nhiều bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành, chẳng hạn như: Nhà rông của người
Xơ Đăng ở huyện Đắk Tô, Tỉnh Kon Tum, của tác giả Rơ đăm Bích Ngọc, luận án
Tiến sĩ Văn hóa Dân gian, 2015; Nghi lễ cộng đồng của người Xơ Teng (một nhóm
người của tộc người Xơ Đăng) ở huyện Tumơrông, Tỉnh Kon Tum, của tác giả A
Tuấn, luận án Tiến sĩ Văn hóa Dân gian, 2015.
Tác giả Phạm Thị Trung với các bài viết: Tín ngưỡng linh hồn của người Xơ
Tăng (2010); Xu hướng biến đổi các yếu tố tác động biến đổi trong thực hành nghi
lễ truyền thống của người Xơ Teng xã Tumơrông, huyện Tumơrông, tỉnh Kon Tum,
(2017); Biến đổi trong thực hành các nghi lễ truyền thống của người Xơ Teng ở xã
Tumơrông, huyện Tumơrông, tỉnh Kon Tum (2017); Phát huy vai trò của phụ nữ
trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống (2016). Đây là
những tác phẩm, công trình nghiên cứu những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa
của người dân tộc Xơ Đăng ở nước ta.

7


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ những nét đặc trưng giá trị văn hóa của dân tộc Xơ Đăng ở
tỉnh Quảng Nam; làm rõ các chính sách bảo tồn các giá trị văn hóa đã được thực
hiện đối với người Xơ Đăng, từ đó đề xuất một số giải pháp trong việc bảo tồn, phát
huy giá trị văn hóa phù hợp với thực tiễn phát triển của tộc người, của địa phương
trong đổi mới, hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách công trong lĩnh vực văn hóa làm
nền tảng lý luận để nghiên cứu chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền
thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam.

luận văn xin được giới hạn nội dung nghiên cứu về tình hình thực hiện chính sách
bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam.
Để làm rõ được vấn đề nghiên cứu, tác giả luận văn tập trung khảo sát tư liệu ở các
địa bàn có dân tộc Xơ Đăng sinh sống, bao gồm 03 xã huyện Nam Trà My, 02 xã
huyện Phước Sơn, 02 xã huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn sẽ được tiếp cận theo hướng hệ thống hóa lý luận việc thực
hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ
Đăng, tỉnh Quảng Nam từ khâu hoạch định, xây dựng, thực thi đến đánh giá
chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống với sự tham gia của
các chủ thể chính sách.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập nguồn tài liệu thứ cấp: Tập hợp và phân tích các
nguồn tư liệu: Văn kiện, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ, Ngành ở
Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, sách báo, các báo cáo, tài
liệu thống kê của Ban, ngành, đoàn thể; tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp đến vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vùng đồng bào dân tộc
thiểu số ở Việt Nam nói chung, vùng tộc người Xơ Đăng tỉnh Quảng Nam nói riêng.
- Phương pháp điền dã, thực địa: Tiến hành đi cơ sở khảo sát thực tế tại
huyện Nam Trà My, Phước Sơn, Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam nơi có người Xơ Đăng
sinh sống.

9


Để thực hiện luận văn này, tác giả đã thực hiện 04 cuộc điền dã tại thực địa,
mỗi đợt 5 ngày và tổ chức phỏng vấn sâu cán bộ cấp huyện, xã và người dân địa
phương với chủ đề là đời sống vật chất, tinh thần xã hội của người Xơ Đăng để có
được các tư liệu cần thiết, giúp tác giả luận văn có cái nhìn đúng đắn, khách quan về

1.1.1. Giá trị văn hóa
Giá trị văn hoá được hiểu theo những ý nghĩa sau :
- Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức... đều là sản phẩm của quá
trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá.
Giá trị, giá trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh và kết
tinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người.
- Giá trị văn hoá do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch
sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hoá đã hình thành thì nó lại có vai trò định
hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội
ấy. Cũng như văn hoá, giá trị được sản sinh từ các mối quan hệ con người với tự
nhiên, với xã hội.
- Giá trị văn hoá của mỗi cộng đồng (tộc người, quốc gia...) bao giờ cũng tạo
nên một hệ thống, với ý nghĩa là các giá trị ấy nảy sinh, tồn tại trong sự liên hệ, tác
động hữu cơ với nhau. Hệ giá trị mang tính chất tương đối. Để đánh giá tính giá trị
hay phi giá trị, giá trị cao hay thấp thì phải đặt nó trong toạ độ về mặt không gian,
thời gian và chủ thể văn hoá
1.1.2. Giá trị văn hóa truyền thống
Trong quá trình hình thành và phát triển mình, mỗi dân tộc đều sáng tạo ra nền
văn hóa, trong đó có các giá trị văn hóa. Các giá trị văn hóa này được lưu truyền
trong xã hội qua các thời kỳ lịch sử và trở thành các giá trị văn hóa truyền thống. Giá
trị văn hóa truyền thống chính là những tư tưởng, biểu tượng, giá trị và chuẩn mực xã
hội hóa, những tác phẩm văn hóa được cộng đồng tin tưởng và mong muốn gìn giữ,
truyền đạt và noi theo.

11


Nói đến những giá trị văn hóa truyền thống là nói đến những giá trị tốt đẹp,
tiêu biểu cho một nền văn hóa được chắt lọc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Do đó, nói đến những giá trị văn hóa truyền thống cũng là nói đến những giá trị

của xã hội, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển xã hội.
Có thể nhận xét rằng, giữa bảo tồn và phát huy luôn có sự tương hỗ lẫn nhau
và là hai mặt của hoạt động. Thông thường bảo tồn đi kèm với khai thác, phát huy giá
trị của văn hóa, đặc biệt là các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống xã hội.
Phát huy có nghĩa là đưa các giá trị di sản để đưa giá trị văn hóa đến cộng đồng, tạo
mọi điều kiện để cộng đồng phát triển mạnh mẽ hơn nữa trên tất cả các mặt kinh tế xã hội. Nhờ đó, thực hiện tốt hơn công tác bảo tồn di sản văn hóa. Để đảm bảo sự
phát triển bền vững thì quan trọng nhất là giữa bảo tồn và phát huy cần tạo ra sự cân
bằng hợp lý.
1.1.4. Bản sắc văn hóa
Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "bản sắc" thông thường dùng để chỉ tính
chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật, tức là nói tới sắc
thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó [27, tr.223] . Trong thực tế, nói đến "bản
sắc" nghĩa là nói đến cái riêng, cái rất riêng của một sự vật để phân biệt sự vật đó
với các sự vật khác trong thế giới khách quan.
Bản sắc văn hóa là đặc trưng riêng, là những cái cốt lõi của một cộng đồng văn
hóa trong quá trình lịch sử tồn tại và phát triển của mình, nhằm phân biệt dân tộc này
với dân tộc khác. Bản sắc văn hóa tộc người được coi là những nét đẹp tinh hoa, đặc
trưng riêng được chắt lọc từ trong cuộc sống của cộng đồng, được cộng đồng thừa
nhận, là sự kết nối, gắn bó giữa con người với nhau, là tài sản vô giá của cộng đồng
dân tộc, tộc người tạo nên sức mạnh tinh thần mang tính đặc thù khác với tộc người
khác [11, tr.23] .
Bản sắc văn hoá là yếu tố mang sức mạnh tinh thần dân tộc, giúp dân tộc
vượt qua những thử thách của lịch sử, bởi vì “bản sắc dân tộc là tổng thể những
phẩm chất, tính cách, khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng
tạo của một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân
tộc đó giữ vững được tính nhất quán, tính thống nhất và tính duy nhất, so với bản

13





thông qua và các Thông tư, Nghị định hướng dẫn Luật di sản văn hóa được các cơ
quan có thẩm quyền ban hành.
1.1.6. Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
Là một khâu hợp thành chu trình chính sách, thực hiện chính sách bảo tồn,
phát huy giá trị văn hóa có vị trí rất quan trọng. Chu trình chính sách nếu khuyết
thiếu công đoạn này thì sẽ bị đứt gãy, không thể tồn tại vì thực hiện chính sách có
vai trò trung tâm, kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống
hoàn chỉnh.
Tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa để từng bước
thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung. Mục tiêu của chính sách bảo
tồn, phát huy giá trị văn hóa có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực trong đời
sống xã hội. Thực tế, trong quá trình thực hiện chính sách này cho thấy muốn đạt
được mục tiêu của chính sách thì phải thông qua việc thực hiện chính sách, và các
mục tiêu của chính sách thì cần phải có quan hệ với nhau và ảnh hưởng đến các
mục tiêu chung.
Thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa còn để khẳng định
được tính đúng đắn, tính hợp lý của chính sách. Chính sách này khi triển khai rộng
rãi sẽ tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, và khi chính sách được xã hội chấp
nhận thì cho thấy tính xác thực, tính đúng đắn của chính sách.
Như chúng ta đều biết chính sách là do sự góp sức của một tập thể và do tập
thể đó hoạch định mà nên. Tuy vậy trong quá trình hoạch định chính sách chúng ta
cũng không tránh khỏi những ý kiến, những góp ý mang tính chất chủ quan, điều đó
sẽ làm ảnh hưởng tới hiệu quả chung trong quá trình thực hiện chính sách. Do vậy,
khi chính sách được thực thi thì những người hoạch định chính sách cần nghiên
cứu, xem xét và rút kinh nghiệm. Trên cơ sở đó, thực hiện chỉnh sửa để chính sách
ngày một đúng đắn, hoàn thiện hơn.
1.2. Vai trò của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
Chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa nhằm đề ra các hướng đi, giải

Trong thời kỳ Đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt đến
việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Hiến pháp
Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 30 đã nhấn mạnh: Nhà nước và
xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế

16


thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy
mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân. Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn
hoá. Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hoá phản động, đồi trụy; bài trừ mê tín,
hủ tục.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa
VIII) bao quát ở tầm chiến lược những vấn đề rất cơ bản của sự nghiệp phát triển văn
hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư
duy lý luận về văn hóa của Đảng, đề cập cụ thể đến những nhiệm vụ và phương
hướng phát triển nền văn hóa Việt Nam.
Luật Di sản văn hóa ra đời năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là cơ sở
pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam. Để cụ thể
hóa thực hiện Luật Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã nghiên cứu,
tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010, trong đó
quy định chi tiết thi hành Luật di sản văn hóa được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành
Nghị quyết số 33-NQ/TƯ ngày 09/6/2014 “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã đề ra những quan
điểm, định hướng chiến lược của Đảng ta về văn hóa nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển của đất nước trong thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ
động, tích cực hội nhập quốc tế.
Trong các kỳ Đại hội Đảng lần thứ VI, VII. VIII, IX, XI đến Đại hội XII gần

tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số của Chính phủ được thông qua nhiều
đề án phát triển chung hay cho từng vùng, từng dân tộc cụ thể. Đặc biệt, trong
Chương trình mục tiêu quốc gia thực hiện từ năm 1995 đến nay của Đảng và Nhà
nước ta đã khẳng định ba mục tiêu trong số các mục tiêu của Chương trình là đầu tư
nghiên cứu điều tra, tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể, đầu tư bảo tồn các làng
bản và phục hồi lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số.
Mục tiêu của chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số nói
chung và văn hóa phi vật thể của dân tộc thiểu số nói riêng đã xác định rõ và đầy đủ
trong Quyết định 124/2003 của Thủ tướng Chính phủ: Bảo tồn và kế thừa có chọn
lọc, phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống, xây dựng và phát triển những

18


giá trị mới về văn hóa, nghệ thuật của dân tộc thiểu số, phát hiện và bồi dưỡng đội
ngũ những người sáng tác văn học, nghệ thuật là người các dân tộc thiểu số; tổ chức
điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn hóa nghệ thuật, bảo tồn và
phát huy các nghề thủ công truyền thống; phát triển các hoạt động văn hóa, nghệ
thuật lành mạnh; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, mở rộng mạng
lưới thông tin ở vùng dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao dân trí, xóa bỏ tập tục lạc
hậu, góp phần phát triển du lịch, xóa đói giảm nghèo.
Trong Chương trình mục tiêu Quốc gia 2001-2005, vấn đề “Bảo tồn di sản
văn hóa tiêu biểu và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở” đã được đặt ra, với tổng
kinh phí 1.600 tỷ đồng đã sưu tầm, khai thác và lưu giữ, in ấn, giới thiệu rộng rãi
các di sản đặc sắc của văn hóa các tộc người ở Việt Nam với mục đích bảo lưu và
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu của tộc người trong bối cảnh hội
nhập và toàn cầu hóa. Trong những năm gần đây đã có những đánh giá sâu sắc hơn,
tôn trọng và bảo vệ các giá trị văn hóa của tộc người thiểu số được thể hiện qua việc
Nhà nước đầu tư nhiều dự án điều tra, bảo quản và biên dịch sử thi Tây Nguyên từ
năm 2001-2007, sưu tầm và công bố hàng trăm tác phẩm sử thi của các tộc người

1.4. Các bước thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa
truyền thống
Việc thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trải
qua 07 bước sau:
- Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo tồn, phát
huy giá trị văn hóa truyền thống
- Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn
hóa truyền thống
- Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách chính sách bảo tồn,
phát huy giá trị văn hóa truyền thống
- Bước 4: Duy trì chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống
- Bước 5: Điều chỉnh chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền
thống
- Bước 6: Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách bảo tồn và phát
huy giá trị văn hóa truyền thống
- Bước 7: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo tồn,
phát huy giá trị văn hóa truyền thống

20


1.5. Các nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy
giá trị văn hóa truyền thống
1.5.1. Tính chất của vấn đề chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống
Tính chất của vấn đề chính sách là yếu tố khách quan có ảnh hưởng trực tiếp
đến việc tổ chức thực thi chính sách nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn. Việc
bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt trong xu thế đẩy mạnh
hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa đang là vấn đề rất bức thiết, đòi hỏi
các cấp, các ngành phải quan tâm đặc biệt.

này gắn liền với mỗi đối tượng thực hiện chính sách nên các chủ thể tổ chức điều
hành cần biết cách khơi gợi hay kiềm chế nó để có được kết quả tốt nhất cho quá
trình tổ chức thực hiện chính sách.
1.5.6. Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện
chính sách
Mỗi bước trong quy trình đều có vị trí, ý nghĩa và tác động nhất định đối với
quá trình thực hiện chính sách. Trên thực tế, quy trình thực hiện chính sách được bắt
đầu từ việc tuyên truyền vận động về chính sách và thực hiện chính sách. Phổ biến,
tuyên truyền vận động thực hiện tốt sẽ củng cố thêm lòng tin của người dân vào
chính sách của nhà nước, tăng cường tính tự giác thực hiện chính sách của đối
tượng thụ hưởng và quyết tâm chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
tham gia tổ chức thực hiện chính sách. Phân công phối hợp giữa các cơ quan, tổ
chức ở Trung ương, của các cấp chính quyền địa phương cũng có vai trò quan trọng
trong tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống ....
1.5.7. Năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ công chức
Với chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống thì năng lực
thực hiện chính sách của cán bộ công chức là kiến thức, kỹ năng và thái độ của họ
trong thực hiện. Để có thể thực hiện chính sách một cách hiệu quả, đòi hỏi đội ngũ
cán bộ công chức thực hiện chính sách phải nắm vững kiến thức chuyên môn, am
hiểu mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, quy mô, tầm quan trọng của
chính sách đồng thời phải có kỹ năng tác nghiệp, phổ biến tuyên truyền chính sách,
có tinh thần, thái độ trách nhiệm trong thực hiện chính sách.

22


1.5.8. Các điều kiện vật chất để thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy
giá trị văn hóa truyền thống
Để quản lý được các hoạt động liên quan đến việc thực hiện chính sách nhà
nước phải chú trọng đầu tư nguồn lực vật chất cả về số lượng và chất lượng. Các

những hành động, những việc làm, những giải pháp cụ thể. Trên cơ sở đó có các
phương pháp hợp lý để thực hiện tốt việc bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa đó.
- Từng bước thực hiện đạt các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung: Mục
tiêu chính sách có liên quan đến nhiều hoạt động trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội. Do đó, để cùng một lúc giải quyết được hết các vấn đề có liên
quan là rất khó. Mục tiêu chính sách chỉ có thể đạt được bằng cách thực hiện đồng
thời các mục tiêu chính sách có mối quan hệ quan hệ chặt chẽ với nhau, co sự ảnh
hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến mục tiêu chung.
- Khẳng định tính đúng đắn của chính sách: Chính sách chỉ thật sự có hiệu lực,
hiệu quả khi được toàn xã hội thừa nhận và thực hiện, đặc biệt là sự thừa nhận của
các đối tượng được thụ hưởng từ chính sách.
- Giúp cho chính sách ngày càng hoàn chỉnh: Thực hiện chính sách bảo tồn,
phát huy giá trị văn hóa truyền thống là căn cứ xác thực nhất để có thể đánh giá tính
hiệu quả, phù hợp và các tác động của chính sách trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển
của xã hội. Thông qua thực hiện chính sách ta có thể thấy rõ được những ưu điểm, hạn
chế của chính sách hiện hành. Từ đó có những điều chỉnh để hoàn thiện chính sách
nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc quản lý và phát triển đất nước.
1.6.2. Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn,
phát huy giá trị văn hóa truyền thống
- Thực hiện đúng mục tiêu chính sách: Mỗi chính sách đều hướng đến mục
tiêu nhất định. Mục tiêu của chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền
thống là giữ gìn sự nguyên vẹn và đầy đủ của các giá trị văn hóa của dân tộc, không
để mai một, tổn thất hoặc bị huỷ hoại. Việc thực hiện chính sách này sẽ đóng vai trò
quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, trình độ dân trí, góp phần giáo dục truyền
thống lịch sử, văn hóa cho thế hệ trẻ; giới thiệu tinh hoa, nét đẹp, bản sắc, tinh túy
văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam với bạn bè quốc tế. Nếu mục tiêu này
không được thực hiện coi như chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền
thống không thành công, thực chất là không được thực hiện.
- Đảm bảo tính hệ thống trong thực hiện chính sách: Hệ thống thực hiện



25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status