qlxh ve dan toc va ton giao bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh lạng sơn giai đoạn hiện nay - Pdf 50

“Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc
thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn hiện nay”
A. MỞ ĐẦU
I.

II.

III.

CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1. Mot so khai niem co ban
I.1.1.
D an toc thieu so
I.1.2.
Gia tri van hoa phi vat the
I.2. Su can thiet phai bao ton, phat huy gia tri van hoa phi vat the
cac dan toc thieu so
I.3. Noi dung bao ton, phat huy gia tri van hoa phi vat the cac dan
toc thieu so
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN,PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN
HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN HIỆN
NAY
II.1. Dac diem van hoa- xa hoi tinh Lang son
II.2. Thành tựu và nguyên nhân
II.3. H ạn chế và nguyên nhân
QUAN ĐIỂM , GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
III.1. Quan điểm
III.2. Giải pháp
III.2.1. giải pháp chung

ton tai nhat dinh. De khac phuc nhung yeu kem cua cac nghien cua truoc va cu the
hia noi dung van de, em lua chon “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể


các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn hiện nay” lam de tai
tieu luan cua minh.
Ket cau cua tieu luan:ngoai phan mo dau va ket luan, phan noi dung tieu luan duo
chia lam 3 chuong
Chuong I. Co so ly luan
Chuong II. Thuc trang cong tac bao ton va phat huy gia tri van hoa phi vat the cac
dan toc thieu so o tinh Lang son giai doan hien nay
Chuong III. Quan diem, giai phap nham nang cao hieu qua cong tac bao ton va
phat huy gia tri van hoa phi vat the cac dan toc thieu so tren dia ban tinh Lang son.

I.

CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.Dân tộc và dân tộc thiểu số
1.1.1.1. Dân tộc
Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc
xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị
tộc, bộ lạc, bộ tộc.
Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có
hai nghĩa được dùng phỏ biến nhất.
Một là: dân tộc chỉ mọt cộng đồngngười có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh
hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng, những nét văn hóa đặc thù và có ý thức tự
giác dân tộc, Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc. Với nghĩa này, dân tộc là tộc người,là bộ
phận của quốc gia- Quốc gia có nhiều dân tộc.

1.2. Sự cần thiết phải bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể các
dân tộc thiểu số
Sở dĩ cần phải bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của các dân tộc
thiểu số ở nước ta hiện nay là dựa trên những cơ sở sau:
Thứ nhất, xuất phát từ thực trạng văn hóa phi vật thể và công tác bảo tồn, phát huy
giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số ở nước ta.
Thứ hai, từ thách thức của xu hướng đồng hóa và toàn cầu hóa
Thứ ba, Từ nguyên tắc bình đẳng , tự quyết giữa các dân tộc
Thư tư, Xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc thiểu số nói
chung
Thứ năm, Xuất phát từ các nhiệm vụ phát triển văn hóa-xã hội của Đất nước và của
từng địa phương
1.3.Noi dung bao ton, phat huy gia tri van hoa phi vat the cac dan toc
thieu so
Thứ nhất, Xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, chương trình, đề án về bảo
tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số
Thứ hai, Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số
Thu ba, kien toan bo may lam, thuc hien phan cong, phan cap trong cong tac bảo
tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số
Thu t u, Xay dung he thong thong tin , thong ke ve tinh hinh bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số
Thu nam, huy dong cac nguon luc cho cong tac bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số


Thu sau, Tuyen truyen, van dong quan chung , dac biet la dong bao cac dan toc
thieu so tham gia bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc
thiểu số
Thu bay, kiem tra,thanh tra, giam sat viec thuc hien cong tac bảo tồn và phát huy

2.1.

các dân tộc Việt Nam
Thành tựu
Hiện nay, song song với hệ thống di tích, danh lam thắng cảnh tỉnh Lạng

Sơn có khoảng hơn 340 lễ hội lớn nhỏ khác nhau cùng những làn điệu dân ca, dân vũ,
trò vui đặc sắc diễn ra trong các lễ hội, ngày vui như: hát then đàn tính; hát SLi, hát Cò
Lẩu (dân tộc Nùng); hát Lượn, hát Quan Làng (dân tộc Tày); hát Xắng Cọ( dân tộc Sán
Chỉ); múa sư tử, múa võ dân tộc, trò sĩ - nông - công - thương trong lễ hội Lồng Tồng,
thi nấu món ăn dân tộc; nghề nhuộm chàm, thêu, dệt thổ cẩm... và nhiều loại hình di
sản văn hóa phi vật thể khác. Không chỉ có giá trị trong công tác giáo dục tri thức, hình
thành nhân cách con người nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của tỉnh đã và
đang phát huy vai trò, tiềm năng, thế mạnh của mình trong việc quảng bá hình ảnh quê
hương Xứ Lạng, phát triển kinh tế du lịch, thu hút du khách, các nhà đầu tư đến Lạng
Sơn tìm hiểu khám phá và lựa chọn cơ hội đầu tư.
Nhận thức rõ những lợi ích, tiềm năng to lớn của nền văn
hoá dân tộc Xứ Lạng trong phát triển kinh tế, văn hóa, giao lưu, đối ngoại.
Trong thời gian qua thực hiện tinh thần Nghị quyết Trung ương V khóa VIII
của Đảng về “xây dựng văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc”; Quyết
định số 124/2003/QĐ – TTg, ngày 17/6/2003 của Thủ tướng chính phủ về việc
phê duyệt Đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; Nghị quyết số
13 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2015…


Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều hoạt động,
giải pháp tích cực để khơi dậy, bảo tồn và phát huy vốn di sản văn hóa đặc sắc
của dân tộc và đã đạt được một số thành tựu cụ thể như: Công tác bảo tồn, phát

được như mong muốn, việc sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa
phi vật thể chưa, tương xứng với tiềm năng hiện có; công tác nghiên cứu sưu
tầm còn mang tính dàn trải, chưa sâu và còn mang tính phiến diện, nhiều di sản
văn hóa phi vật thể đã được sưu tầm nhưng chưa được đưa vào khai thác, sử
dụng trong đời sống, nhiều nếp sống sinh hoạt văn hóa không còn phù hợp với
đời sống hiện tại, các tệ nạn mê tín dị đoan ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
vẫn còn tồn tại; các loại hình ngũ văn dân gian, văn học nghệ thuật truyền
thống như: truyện cổ tích, thần tích, thần phả, sắc phong, ca dao, tục ngữ, văn
học dân gian… đã được nghiên cứu, sưu tầm tuy nhiên chưa được tổng hợp,
biên tập một cách khoa học và có hệ thống; trang phục, tiếng nói chữ viết của
đồng bào các dân tộc đang có nguy cơ mai một…Nếu tình trạng trên tiếp tục
diễn ra thì trong tương lai không xa những đặc trưng văn hóa truyền thống
tiêu biểu của các dân tộc sẽ bị “hòa tan” dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị
trường cùng sự du nhập của những “nền văn hóa ngoại lai”. Đặc trưng văn
hóa truyền thống của dân tộc sẽ dần mai một và biến mất, thay vào đó là sự
pha tạp, lai căng của nhiều nền văn hóa khác nhau và mỗi dân tộc sẽ tự đánh
mất hình ảnh của tổ tiên, đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc mình và sự tồn
tại của chính mình.
Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại
Thu nhat, Là do đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân
tộc ở nhiều nơi còn nghèo nàn, khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế
mới.
Thu hai, Sự xâm nhập của nền văn hóa bên ngoài từ nhiều luồng đã tấn
công vào nền văn hóa dân tộc vốn đã yếu sức đề kháng. Lứa tuổi thanh niên chưa ý
thức đầy đủ về nền văn hóa dân tộc của mình nên dễ tiếp thu văn hóa bên ngoài


không có sự chọn lọc, có biểu hiện xu hướng vọng ngoại, quay lưng lại với những
sinh hoạt văn hóa dân tộc.Việc kế thừa, phát huy nền văn hóa của các dân tộc thiểu
số trong tỉnh mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đạt được kết quả như

Thu chin, Nguyên nhân quan trọng hơn cả là chiến lược đầu tư cho văn
hóa, nghệ thuật truyền thống... vẫn còn là một khoảng cách nhất định giữa lý
luận và thực tiễn.
II.

QUAN ĐIỂM , GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI
VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

3.1.Quan điểm
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng,ngành Văn
hóa, Thể thao và Du lịch luôn xác định tăng cường công tác bảo tồn, phát huy
giá trị di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số trên địa bàn cả nước
nói chung, đối với tỉnh Lạng Sơn nói riêng là nhiệm vụ quan trọng. Các lễ hội
truyền thống, liên hoan dân ca dân vũ, trò chơi dân gian, phong tục, nếp sống
đẹp... đã được phục hồi và phát triển. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa”, toàn dân bảo vệ và phát triển văn hóa đã tạo môi trường
lành mạnh, thuận lợi cho công tác giữ gìn, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản
văn hóa. Những thành tựu đạt được đã khẳng định vai trò to lớn của Đảng, Nhà
nước, Chính phủ quản tâm, chỉ đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn
hóa theo tinh thần Nghị quyết Trung 5 (khóa VIII) “xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nghị quyết số 13 của Ban thường vụ
Tỉnh ủy về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng


Sơn; Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tỉnh Lạng Sơn giai đoạn
2011 – 2015…
Từ đó, đã huy động được nhiều nguồn lực của các tổ chức, cá nhân cho
việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số cá
3.2. Giải pháp

Hai là, nâng cao vai trò quản lý, định hướng của nhà nước, đẩy
mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ di sản văn hóa,
gắn hoạt động văn hóa dân tộc trong công tác, xây dựng đời sống văn hóa.
Trong đó cần chú trọng đến nguyên tắc “bảo tồn sống” tức là bảo tồn các loại
hình văn hóa phi vật thể ngay chính trong đời sống cộng đồng. Có chính sách,
chế độ thích đáng cho các nghệ nhân tài giỏi, những cá nhân và gia đình có
công sức giữ gìn tài sản văn hóa dân tộc.
Ba là, tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, phục hội nâng cao các làn
điệu dân ca, dân vũ của đồng bào các dân tộc để đáp ứng nhu cầu thực tế; xây
dựng các tổ, đội văn nghệ truyền thống, nhân rộng các mô hình điểm và tiến
tới hướng dẫn con em người dân tộc biết sử dụng các nhạc cụ cổ truyền dân
tộc. Phát động việc sáng tác các bài hát, điệu múa cho đồng bào sử dụng trong
các buổi lễ, ngày hội, mừng được mùa nhằm từng bước thay thế những phong
tục tập quán lạc hậu.
Bốn là, tiếp tục tổ chức các hoạt động lớn như ngày hội văn hóa thể
thao các dân tộc, liên hoan ca múa nhạc dân gian, triển lãm văn hóa dân tộc,


hội thi giọng hát của người dân tộc thiểu số. Cần có biện pháp giúp đồng bào
bảo tồn các di sản văn hóa, bảo tồn phát huy nghề và làng nghề truyền thống,
các loại hình ngữ văn dân gian và văn học nghệ thuật truyền thống giữ gìn sắc
phục của dân tộc, khuyến khích mặc trang phục dân tộc mình vào các ngày lễ,
tết...
Năm là, có định hướng trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức các
lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian, hạn chế, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín
dị đoan. Nghiên cứu phát huy các giá trị tiến bộ của luật tục trong công tác xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Phục hồi và nâng cao một số lễ hội tiêu
biểu để có thể tổ chức định kỳ hàng năm.
Sáu là, tăng cường, đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ ở địa phương, có kế hoạch sử dụng các học sinh, sinh viên dân tộc được đào

Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1996). Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội;

2)

Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. NXBChính trị quốc gia, Hà Nội;

3)
4)
5)
6)

/>Nghị quyết số 13 của Ban thường vụ Tỉnh ủy Lang Son
PGS.TS.Ngo Van Gia, de cuong bai giang QLXH ve tuong- van hoa
Tập thể tác giả khoa Van hoa phat trien, HV BC và TT, năm 2009, Co so

7)

van hoa viet nam, NXB giáo dục, Hà Nội
Tập thể tác giả khoa Nhà Nước và pháp luật, HV BC và TT, năm 2007,

8)

9)

QLXH về d ân tộc và tôn giáo, NXB giáo dục, Hà Nội
Thu tuong chinh phu,Quyết định số 124/2003/QĐ – TTg, ngày 17/6/2003
của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Đề án bảo tồn, phát triển văn
hóa các dân tộc thiểu số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status