ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ MINH THÔNG QUẢN LÝ NGUỒN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN ĐỨC VUI Đà Lạt – 2012 MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC HÌNH ii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
MỞ ĐẦU 1
2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên. 30
2.1.2.Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng 30
2.2. Thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 32
2.2.1. Tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý NS xã 32
2.2.2. Quản lý khai thác nguồn thu ngân sách xã 36
2.2.3. Quản lý điều hành chi ngân sách xã 47
2.2.4. Quản lý chu trình ngân sách xã 52
2.3. Đánh giá công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn tỉnh 58
2.3.1. Kết quả đạt 58
2.3.2. Hạn chế 61
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý ngân sách xã. 65
Chương 3.
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NGÂN
SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG 72
3.3.1. Về cơ chế phân cấp 88
3.3.2. Về tổ chức bộ máy và chính sách chế độ 90
3.3.3. Về chế độ kế toán ngân sách xã 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. DN: Doanh nghiệp
2. DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
3. HĐND: Hội đồng nhân dân
4. KBNN: Kho bạc nhà nước
5. KT - XH: Kinh tế - xã hội
6. NS: Ngân sách
8. NSĐP: Ngân sách địa phương
9. NSNN: Ngân sách nhà nước
10. TC - KH: Tài chính - Kế hoạch
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Stt Số hiệu Tên bảng
Trang
1 Bảng 2.1 Thu ngân sách xã giai đoạn 2007-2011 37
2 Bảng 2.2 Tỷ trọng các khoản thu ngân sách xã 38
3 Bảng 2.3 Cơ cấu nguồn thu ngân sách xã 39
4 Bảng 2.4 Tỷ lệ phân chia nguồn thu ngân sách xã 44
5 Bảng 2.5 Tỷ lệ phân chia nguồn thu ngân sách xã, thị trấn 44
6 Bảng 2.6 Thu NS xã năm 2011 trên địa bàn thành phố Bảo Lộc 45
7 Bảng 2.7 Thu NS xã năm 2011 trên địa bàn huyện Đức Trọng 46
8 Bảng 2.8 Kết quả chi ngân sách xã 47
1
MỞ ĐẦU
cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và hệ thống chính trị cơ sở, vừa
có điều kiện đầu tư phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân. Ngược lại, những địa phương ngân sách xã không
được quản lý chặt chẽ, hiệu quả thì sẽ dẫn đến việc thất thoát công quỹ, lạm
thu, xảy ra tiêu cực làm mất cán bộ, mất lòng tin của nhân dân vào chính
quyền, kinh tế xã hội tại địa phương trì trệ không phát triển.
Việc đổi mới đổi mới quản lý NSNN nói chung và ngân sách xã nói
riêng đang là vấn đề quan trọng cần phải thực hiện hiện nay. Trước tình hình
đó, việc nghiên cứu tìm những giải pháp đổi mới trong công tác quản lý
nguồn thu chi ngân sách nhà nước tại cấp xã có ý nghĩa quan trọng, góp phần
vào việc nâng cao hiệu lực quản lý ngân sách, thực hành tiết kiệm chống lãng
phí và góp phần thúc đẩy việc phát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung
và của từng địa phương nó riêng. Vì lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Quản
lý nguồn thu chi ngân sách nhà nước tại chính quyền cấp xã, phường, thị trấn
trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn hiện nay” làm luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu.
Việc nghiên cứu quản lý thu, chi ngân sách nhà nước nói chung và
ngân sách xã nói riêng ở nước ta trong những năm qua có nhiều công trình
nghiên cứu như:
- Luận án tiến sĩ kinh tế “Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý ngân sách
Nhà nước” của tác giả Nguyễn Việt Cường, trường Đại học Tài chính Kế toán
Hà Nội, năm 2001.
- Luận văn thạc sĩ “Các biện pháp tăng cường quản lý thu, chi ngân
3
sách các tỉnh duyên hải miền Trung” của tác giả Phan Văn Dũng, năm 2001.
- Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách của
các cấp chính quyền địa phương” của tác giả Phạm Đức Hồng, Trường Đại
học Tài chính Kế toán Hà Nội, năm 2002.
-Luận văn Thạc sĩ “Quản lý ngân sách xã tại Lâm Đồng” của tác giả
-Đề xuất một số giải pháp để đổi mới công tác quản lý ngân sách xã
nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý ngân sách nhà nước tại cấp xã.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Quản lý nguồn thu chi ngân sách nhà nước tại chính quyền cấp cơ sở là
một vấn đề phức tạp với phạm vi rộng lớn, liên quan đến đường lối chính sách
của Đảng và nhà nước về ngân sách nhà nước; các chế độ, quy định của trung
ương và địa phương trong việc đưa ra những nguyên tắc, những chuẩn mực
về quản lý điều hành ngân sách nhà nước, trong đó có ngân sách xã. Do
khuôn khổ có hạn, nên đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn là:
+ Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về quản lý nguồn thu chi ngân
sách nhà nước tại chính quyền cấp cơ sở xã, phường, thị trấn.
+ Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào nghiên cứu về thực
trạng quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước tại chính quyền cấp cơ sở xã,
phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Lâm đồng trong thời gian từ 2007 đến 2011.
5. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lên nin, trên cơ sở quan điểm đường lối
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về ngân sách nhà nước và
quản lý ngân sách xã; đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
5
thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, kết hợp lý luận với thực tiễn để xác
định và giải quyết những vấn đề đặt ra.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Thông qua việc phân tích đánh giá thực trạng quản lý hoạt động thu chi
ngân sách nhà nước tại chính quyền cơ sở cấp xã, phường, thị trấn trên địa
bàn tỉnh Lâm Đồng, luận văn chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại
hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế. Luận văn tập trung vào
các vấn đề cơ bản như quá trình thực hiện thu chi ngân sách xã, cơ chế phân
cấp quản lý thu chi ngân sách xã, nhân tố con người trong công tác quản lý tài
nước.
Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự
xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức
sản xuất. Ngân sách nhà nước là sự phản ánh tổng hợp các mối quan hệ về
kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác trong việc phân phối các đại lượng
giá trị tiền tệ trong xã hội. Bằng sức mạnh quyền lực của mình, nhà nước
chuyển dịch một bộ phận thu nhập của các chủ thể khác nhau thành thu nhập
của nhà nước rồi phân phối, chuyển dịch khoản thu nhập đó đến đối tượng sử
dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế
và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính. Ngân sách
nhà nước là một đạo luật cơ bản do Quốc hội quyết định, thông qua đó các
khoản thu, chi của nhà nước được thực hiện trong một niên độ tài chính.
Theo Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua
ngày 16/12/2002: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà
7
nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và
được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm
vụ của nhà nước.
Ngân sách các
bộ ng
ành trung
ương
Ngân sách các
sở ban ngành
thuộc tỉnh
Ngân sách các
phòng ban cấp
huyện
Ngân sách
các đơn vị
thuộc xã
8
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là
ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã,
phường, thị trấn;
- Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách xã);
1.1.2. Ngân sách xã trong hệ thống ngân sách nhà nước
1.1.2.1. Định nghĩa về ngân sách xã.
Ngân sách xã là một bộ phận trong hệ thống ngân sách nhà nước,
gắn liền với chính quyền cấp cơ sở và có đặc thù riêng: nguồn thu được
khai thác trực tiếp trên địa bàn và nhiệm vụ chi cũng được bố trí để phục
vụ cho mục đích trực tiếp của cộng đồng dân cư trong xã mà không
thông qua một khâu trung gian nào. Ngân sách xã đảm bảo điều kiện tài
chính để chính quyền xã chủ động khai thác các thế mạnh về đất đai,
phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, thực hiện các chính
sách xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn.
mọi cấp trong hệ thống ngân sách nhà nước ngân sách phải thực hiện.
1.1.2.3. Đặc thù của ngân sách xã.
Là một bộ phận trong hệ thống ngân sách nhà nước, ngân sách xã mang
những đặc điểm chung của các cấp ngân sách, tuy nhiên ngân sách xã còn có
những đặc điểm riêng tạo nên sự khác biệt căn bản với các cấp ngân sách
khác, thể hiện ở các điểm sau:
-Ngân sách xã là cấp ngân sách cơ sở:
Ngân sách xã gắn liền với chính quyền cấp xã - chính quyền cơ sở gần
dân, trực tiếp giải quyết nhiều vấn đề của dân, là đầu mối quan trọng nối kết
giữa người dân với chính quyền các cấp. Chính vì vậy, cấp ngân sách này thể
10
hiện rất sống động và cụ thể các quan hệ của Nhà nước mang tính khả thi như
thế nào; mọi hiệu lực quản lý của Nhà nước đạt được ở mức độ nào. Ngân
sách cấp xã có vị trí rất quan trọng trong hệ thống NSNN. Điều này được lý
giải như sau:
+ Xã là một đơn vị hành chính cơ sở ở nông thôn. HĐND cấp xã với tư
cách là cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương được quyền ban hành các
Nghị quyết thực hiện nhiệm vụ KT-XH và ngân sách của đơn vị hành chính
cấp xã.
+ Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp liên hệ với dân, giải quyết toàn
bộ mối quan hệ và lợi ích giữa Nhà nước với dân bằng pháp luật, bởi vậy
chính quyền cấp xã phải có ngân sách xã đủ mạnh. Thu ngân sách là nguồn
thu chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu chi ngày càng phát triển và đa dạng ở xã.
- Cơ cấu thu, chi ngân sách cấp xã thể hiện hầu hết các khoản thu, chi
của ngân sách địa phương đã được phân định. Đặc biệt có những khoản thu
mà chỉ có ngân sách cấp xã quản lý và khai thác thì mới đạt hiệu suất cao
như: Thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất (nay là thuế sử dụng đất
phi nông nghiệp), thu các khoản thuế của đối tượng hộ kinh doanh, thu thuế
tài nguyên đối với lĩnh vực khai thác vật liệu xây dựng, các khoản thu hoa lợi
các cấp quan tâm để ngân sách cấp xã thực sự là công cụ và phương tiện vật
chất giải quyết toàn bộ mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân bằng pháp
luật.
1.1.2.4. Phân cấp quản lý ngân sách xã.
Là một cấp trong hệ thống NSNN, ngân sách xã được phân cấp quản lý
phù hợp với chức năng nhiệm vụ của chính quyền cấp xã.
Phân cấp quản lý NS xã là xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn
của chính quyền Nhà nước cấp xã trong việc quản lý, điều hành thực hiện
12
nhiệm vụ thu, chi của NS xã gắn với hoạt động kinh tế, xã hội một cách cụ thể
và thiết thực nhằm tập trung đầy đủ và kịp thời, đúng chính sách, chế độ các
nguồn tài chính và phân phối sử dụng các nguồn tài chính đó cách công bằng,
tiết kiệm, hợp lý và đạt hiệu quả phục vụ cho các mục tiêu, nhiệm vụ phát
triển kinh tế, xã hội của địa phương.
Thông qua phân cấp quản lý NS xã, quyền hạn, trách nhiệm của chính
quyền cấp xã được xác định cụ thể; đồng thời phân cấp quản lý NS xã còn
phản ánh mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa chính quyền cấp xã với chính
quyền cấp trên và giữa NS xã với ngân sách cấp trên. Để chế độ phân cấp
quản lý NS xã mang lại kết quả tốt, cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Phân cấp quản lý NS xã phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế xã hội
của cấp xã:
Phân cấp quản lý kinh tế xã hội là tiền đề, là điều kiện để thực hiện
phân cấp ngân sách. Quán triệt nguyên tắc này tạo cơ sở cho việc giải quyết
mối quan hệ vật chất giữa chính quyền cấp xã với chính quyền cấp trên bằng
việc xác định rõ nguồn thu và nhiệm vụ chi của cấp xã. Thực chất của nguyên
tắc này là việc giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ và quyền lợi, quyền lợi
phải tương xứng với nhiệm vụ được giao.
- Phân cấp quản lý NS xã phải đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ:
Nguyên tắc này được thể hiện:
trên địa bàn xã. Chính vì vậy NS xã có những chức năng, vai trò hết sức quan
trọng. Cụ thể:
-Thứ nhất: Ngân sách xã cung cấp các phương tiện, vật chất nhằm đảm
bảo cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy chính quyền nhà nước ở cơ sở.
Nguồn kinh phí để trang trải các khoản chi phí của bộ máy Nhà nước
chỉ có thể được đảm bảo từ NSNN. Khi đã hình thành chính quyền cấp xã thì
14
toàn bộ chi phí phục vụ cho hoạt động của bộ máy nhà nước ở cấp xã phải do
NS xã đảm bảo. Nếu không có NS xã thì bộ máy nhà nước ở cơ sở không thể
tồn tại và phát triển với tư cách là bộ máy quản lý mọi hoạt động kinh tế, xã
hội trên địa bàn xã.
-Thứ hai: Ngân sách xã góp phần lành mạnh hóa tài chính địa phương
và tài chính quốc gia, là công cụ đặc biệt quan trọng để chính quyền xã thực
hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế, xã hội tại địa phương.
Để thực hiện được chức năng nhiệm vụ của chính quyền cấp cơ sở, xã
phải có NS đủ mạnh để điều chỉnh các hoạt động ở xã đi đúng hướng góp
phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước.
Bởi vậy NS xã phải là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống NSNN, được kết
cấu chặt chẽ và chịu sự điều chỉnh vĩ mô của NSNN theo mục tiêu chung của
Nhà nước Trung ương.
Thông qua thu NSNN chính quyền xã thực hiện kiểm tra, kiểm soát,
điều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đảm bảo cho các hoạt
động này đi theo đúng hành lang pháp luật, chống các hành vi hoạt động kinh
doanh trái pháp luật, trốn lậu thuế; qua đó tác động trực tiếp tới quá trình sản
xuất kinh doanh ở cơ sở, tạo động lực để phát triển. Mặt khác cũng thông qua
thu NS xã cũng đồng thời tác động đến mặt xã hội như: Đảm bảo công bằng
giữa những người có nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách; hỗ trợ cho các đối
tượng nộp, hỗ trợ cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, hoặc
thuộc diện ưu đãi theo chính sách của Nhà nước thông qua xét miễn, giãm,
1.2. Nội dung quản lý ngân sách xã
1.2.1. Cơ chế quản lý ngân sách xã
Cơ chế quản lý ngân sách cấp xã là việc triển khai thực hiện các Luật,
chế độ, chính sách cũng như các công cụ quản lý ngân sách cấp xã nhằm giúp
cho hoạt động của chính quyền cấp xã đảm bảo tuân thủ theo đúng pháp luật
của Nhà nước, công tác quản lý trong lĩnh vực ngân sách và tài chính cấp xã
ngày càng hoàn thiện góp phần tích cực vào việc tăng cường và nâng cao chất
lượng quản lý ngân sách cấp xã trong từng thời kỳ.
- Thực hiện các Luật, chế độ, chính sách áp dụng trong quản lý ngân
sách cấp xã trên cơ sở: Luật Ngân sách, cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ
chi và tỷ lệ phân chia nguồn thu cho cấp xã do HĐND cấp tỉnh quyết định;
chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách cấp xã do các cấp có thẩm quyền
quyết định; chế độ kế toán và tài chính xã trong quản lý, điều hành và kiểm
soát hoạt động tài chính tại cấp xã; chế độ, chính sách đối với cán bộ, công
chức cấp xã; các chính sách đặc thù của trung ương và địa phương áp dụng
cho chính quyền cấp xã và các hoạt động tại xã;
- Các công cụ quản lý thể hiện qua công tác kiểm tra: Gồm có kiểm tra
thường xuyên, kiểm tra đột xuất hoặc kiểm tra theo chuyên đề; công tác giám
sát quá trình phân bổ dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách cấp xã hàng
năm; công tác thanh tra việc thực hiện Luật NSNN, thanh tra theo chuyên đề
nhằm quản lý hữu hiệu các hoạt động KT - XH tại cấp xã.
1.2.2. Nguyên tắc quản lý ngân sách xã
1.2.2.1- Nguyên tắc quản lý thu ngân sách xã
17
Toàn bộ các khoản thu NS xã phát sinh trên địa bàn đều phải phản ánh
vào ngân sách cấp xã (trừ những khoản thu để hình thành các quỹ công
chuyên dùng của cấp xã, thu nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng công
trình không được HĐND xã quyết định phản ảnh vào NS xã).
1.2.2.2- Nguyên tắc quản lý chi ngân sách cấp xã
xuyên, khi phân cấp nguồn thu, căn cứ theo luật định ngân sách cấp xã hưởng
100% các khoản thu dưới đây:
- Các khoản phí, lệ phí thu vào NS xã theo quy định;
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp của cấp xã, phần nộp vào NSNN theo
chế độ quy định;
- Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi
công sản khác theo quy định của pháp luật do cấp xã quản lý;
- Các khoản huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: các khoản
huy động đóng góp theo pháp luật quy định, các khoản đóng góp theo nguyên
tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do HĐND cấp xã quyết định
đưa vào ngân sách cấp xã quản lý và các khoản đóng góp tự nguyện khác;
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở ngoài nước trực
tiếp cho ngân sách cấp xã theo chế độ quy định;
- Thu kết dư ngân sách cấp xã năm trước;
- Các khoản thu khác của NS xã theo quy định của pháp luật.
(2). Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách xã,
thị trấn với ngân sách cấp trên:
Đây là các khoản thu chủ yếu do ngành thuế đảm nhận hoặc ủy nhiệm
một phần cho xã thu. Luật ngân sách quy định cho ngân sách xã được hưởng
một phần điều tiết theo tỷ lệ quy định nhằm gắn trách nhiệm của chính quyền