TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ KHÁNH CHI
PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
TỪ HÁN VIỆT TRONG PHÂN MÔN
LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở LỚP 4
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
THS. LÊ BÁ MIÊN
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trƣờng Đại học
Sƣ phạm Hà Nội 2, khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trƣờng.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết sâu sắc tới thầy giáo – Thạc sĩ Lê Bá
Miên, ngƣời đã hƣớng dẫn tận tình và chỉ bảo giúp đỡ tôi hoàn thành khóa
luận này.
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, các em học sinh
trƣờng Tiểu học Uy Nỗ (huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) đã tạo điều
kiện cho tôi khảo sát thực tế.
Bƣớc đầu nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian nghiên cứu còn hạn
chế tôi khó tránh khỏi những thiếu sót.Tôi rất mong nhận đƣợc sự đóng góp
chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn để bài khóa luận của tôi đƣợc hoàn
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ....................................................................................... 6
1.1.1. Sơ lƣợc quá trình hình thành và phát triển của từ Hán Việt .................. 6
1.1.2. Khái niệm từ Hán Việt ........................................................................... 8
1.1.3. Đặc điểm từ Hán Việt ............................................................................ 9
1.1.4. Vị trí, nhiệm vụ dạy học từ Hán Việt trong phân môn Luyện từ
và câu ở Tiểu học .................................................................................. 14
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................................................................ 16
1.2.1. Khảo sát từ Hán Việt ở Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 trong
môn Luyện từ và câu............................................................................. 17
1.2.2. Khảo sát khả năng nhận diện và giải nghĩa từ Hán Việt của học
sinh lớp 4 ............................................................................................... 22
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TỪ HÁN VIỆT CHO HỌC
SINH LỚP 4 TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU ......................... 27
2.1. Cách nhận diện từ Hán Việt cho học sinh Tiểu học ................................ 27
2.2. Một số biện pháp giải nghĩa từ Hán Việt ................................................ 28
2.3. Một số biện pháp dạy học từ Hán Việt cho học sinh lớp 4 trong
phân môn Luyện từ và câu .............................................................................. 32
KẾT LUẬN .................................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 42
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 43
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tiếng Việt, các từ Hán Việt chiếm một phần khá lớn. Các từ Hán
Việt đƣợc hình thành do sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt. Tuy nhiên, theo
thời gian, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ, những từ ngữ Hán Việt đã
khác xa so với ngôn ngữ Trung Hoa hiện đại. Nó trở thành một bộ phận của
ngữ - NXB Khoa học xã hội – 1981) đề cập đến vấn đề nên sử dụng từ Hán
Việt nhƣ thế nào cho hợp lí.
Với bài “Tiếp xúc ngữ nghĩa giữa Tiếng Việt và tiếng Hán” Phan Ngọc
đã nêu ra vấn đề sự tiếp xúc Hán Việt kéo dài hàng nghìn năm đã có sự thay
đổi gì về nghĩa so với nghĩa trƣớc đây của nó trong tiếng Hán cũng nhƣ so với
từ đồng nghĩa của nó trong Tiếng Việt. Vấn đề đƣợc đặt ra với cách nhìn có
hệ thống đối với toàn bộ ngôn ngữ. Tác giả còn chỉ ra rằng khi tiếp cận vấn đề
tiếp xúc ngôn ngữ, phải đi đến xác định những đặc điểm và cấu trúc ngữ
nghĩa của từ Hán Việt trên phƣơng diện đồng đại.
Ở bài “Xử lý các yếu tố gốc Hán trong ngôn ngữ sách giáo khoa phổ
thông”, Phan Văn Các đã đi sâu khảo sát và thống kê có trong sách giáo khoa
văn học cấp Tiểu học. Từ đó tác giả đã đƣa ra một số nhận xét về từ, ngữ Hán
Việt, về dấu hiệu của sự Việt hoá, và cách nhận biết từ Hán Việt dựa vào ngữ
âm và ngữ pháp. Tác giả chỉ ra thiếu sót của soạn giả sách giáo khoa, đồng
thời nêu lên những phƣơng pháp dạy từ Hán Việt ở cấp tiểu học.
Trong bài “Dạy học từ Hán Việt ở trường phổ thông”, Trƣơng Chính
đã đi sâu tìm hiểu đặc điểm của từ Hán Việt từ đó đề xuất ý kiến việc dạy học
ở trƣờng phổ thông nhƣ thế nào.
Từ góc độ của một nhà nghiên cứu, Nguyễn Văn Khang đã trình bày
một vài đặc điểm của từ Hán Việt có liên quan đến việc dạy và học mảng từ
ngữ này ở nhà trƣờng phổ thông.
2
Nhìn chung những công trình nghiên cứu điểm qua trên đây đều cung
cấp cơ sở lý thuyết về ngữ nghĩa cũng nhƣ cấu trúc của từ Hán Việt. Sự quan
tâm nghiên cứu về từ Hán Việt tƣơng đối phong phú, đều khắp các mặt,
nhƣng về phƣơng pháp giảng dạy từ Hán Việt cho học sinh Tiểu học trong
phân môn Luyện từ và câu và khảo sát khả năng nhận biết, giải nghĩa từ Hán
4. Phạm vi nghiên cứu
Nhƣ chúng ta đã biết, vấn đề dạy và học từ Hán Việt là một vấn đề hết
sức phức tạp, phức tạp ở chỗ năng lực truyền đạt của giáo viên và khả năng
hiểu của học sinh về lớp từ này. Trƣớc nay, vấn đề này vẫn đƣợc quan tâm
nhiều ở mặt lí luận mà chƣa chú trọng lắm về mặt thực tiễn. Vì vậy, chúng tôi
chọn khảo sát ở địa bàn trƣờng học để có cái nhìn cụ thể hơn về thực trạng
hiểu và sử dụng từ Hán Việt của học sinh Tiểu học hiện nay ở trƣờng Tiểu
học Uy Nỗ, thuộc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Lẽ ra, đề tài sẽ có giá trị thuyết phục hơn nếu đƣợc nghiên cứu ở nhiều
địa bàn trƣờng Tiểu học khác nhau nhằm đƣa ra cái nhìn toàn diện về thực
trạng hiểu và sử dụng từ Hán Việt của học sinh Tiểu học. Tuy nhiên do thời
gian nghiên cứu có hạn cũng nhƣ đề tài còn ở trình độ nghiên cứu của một cá
nhân sinh viên nên tôi chỉ chọn phạm vi nghiên cứu tại trƣờng Tiểu học Uy
Nỗ với đề tài “Phương pháp dạy học từ Hán Việt trong phân môn Luyện từ
và câu ở lớp 4”.
5. Đối tƣợng nghiên cứu
Phƣơng pháp dạy từ Hán Việt trong giờ học Luyện từ và câu lớp 4.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp tổng hợp lí luận thực tiễn.
- Phƣơng pháp khảo sát, điều tra, thống kê, phân loại và so sánh tƣ liệu.
- Phƣơng pháp phân tích ngôn ngữ.
Quá trình nghiên cứu này đƣợc tiến hành nhƣ sau:
4
+ Bƣớc 1: Đọc những tài liệu liên quan đến từ Hán Việt và quá trình
tiếp xúc Hán – Việt.
+ Bƣớc 2: Thống kê từ Hán Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4
trong phân môn Luyện từ và câu và khảo sát viêc sử dụng từ Hán Việt ở
Thoạt tiên trên địa bàn của nƣớc Văn Lang cổ đại có một ngôn ngữ bản
địa, từ vựng của ngôn ngữ này có nhiều đặc tính chung của từ vựng của nhiều
ngôn ngữ Đông Nam Á lân cận nhƣ tiếng Thái, tiếng Khme… Đó là những
vốn từ thuần Việt cho đến nay vẫn còn đƣợc sử dụng.
Tiếp đó do cuộc xâm lƣợc của các triều đại phong kiến Trung Quốc kéo
dài hàng ngàn năm với một khối lƣợng lớn từ Hán đã du nhập vào và đƣợc
dân tộc Việt Nam tiếp thu, làm phong phú thêm nhƣng không làm mất đi bản
sắc của mình. Có thể chia quá trình thâm nhập của tiếng Hán thành hai thời kì
thời kì trƣớc và sau sự đô hộ của phong kiến nhà Đƣờng.
6
Các từ thâm nhập vào Tiếng Việt vào thời kì trƣớc đƣợc phát âm theo
hệ thống ngữ âm Hán cổ khác với ngữ âm Hán Việt thâm nhập vào thời kì
sau. Ở thời kì trƣớc, từ gốc Hán xâm nhập vào kho từ vựng chủ yếu bằng
khẩu ngữ tự nhiên (lời nói hằng ngày). Ở thời kì sau, từ gốc Hán xâm nhập
vào kho từ vựng Tiếng Việt bằng cả hai con đƣờng khẩu ngữ tự nhiên và con
đƣờng sách vở. Dù bằng con đƣờng nào thì từ gốc Hán khi nhập vào vốn từ
Tiếng Việt cũng phải chịu sự chi phối của quy luật ngữ âm Tiếng Việt. Do đó
chúng có sự thay đổi về mặt ngữ âm, đó là điều kiện để tạo nên lớp từ Hán
Việt trong Tiếng Việt.
Các nhà nghiên cứu về các từ gốc Hán đã chia quá trình hình thành lớp
từ Hán Việt thành 3 loại: Từ Hán cổ, từ Hán mƣợn của đời Đƣờng, từ Hán đã
đƣợc Việt hoá.
Từ Hán cổ là lớp từ Hán xâm nhập vào kho từ vựng Tiếng Việt trƣớc
đời Đƣờng. Các từ này đƣợc đọc khác với cách đọc tiếng Hán hiện đại. Trong
nhận thức của ngƣời Việt hiện nay, đó là những từ đã đƣợc Việt hoá cao độ,
lớp từ mà ngƣời ta coi chúng là những từ thuần Việt và đƣợc sử dụng bình
thƣờng, thƣờng xuyên nhƣ những từ thuần Việt khác. Ví dụ: chén, chém, hẹn,
vằn thắn, bát bảo lƣờng xà…
1.1.2. Khái niệm từ Hán Việt
Với tƣ cách là một thuật ngữ ngôn ngữ học, từ Hán Việt đƣợc giải thích
là từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng
tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa
của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán. (Theo từ điển giải thích thuật ngữ
ngôn ngữ học – NXB Giáo dục).
Theo lời giải thích trên thì từ Hán Việt và từ gốc Hán Việt là hai khái
niệm có nội dung hoàn toàn khác nhau nhƣng không nên hiểu từ Hán Việt là
8
toàn bộ các từ Việt gốc Hán, không phải mọi từ mƣợn tiếng Hán đều là từ
Hán Việt.
Từ gốc Hán trong tiếng Việt có hai bộ phận chính:
- Các từ gốc đọc theo âm Hán Việt.
- Các từ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt bao gồm những từ:
+ Những từ vào Việt Nam trƣớc đời Đƣờng – những từ Hán cổ.
Thí dụ: buồm, buồng, cởi, đua, xe, ngói, hen…
+ Những từ Hán Việt đƣợc Việt hoá.
Thí dụ: in, dao, gừng, vuông…
+ Những từ gốc Hán tiếp nhận bằng con đƣờng khẩu ngữ qua cách phát
âm địa phƣơng nào đó của tiếng Hán hiện đại.
Thí dụ: ca lầu thầu, mằn thắn, quẩy, xá xíu…
Vậy chỉ có từ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt mới đƣợc gọi là từ Hán
Việt.
1.1.3. Đặc điểm từ Hán Việt
1.1.3.1. Về mặt ngữ âm
Các từ Hán khi thâm nhập vào tiếng Việt không phải từ nào cũng tuân
vựng nào khác. Có thể quy khả năng hoạt động của từ Hán Việt thành mấy
hƣớng chính sau:
a.Chúng có khả năng hoạt động với dung lƣợng nghĩa vốn có trong
nguyên ngữ.
Ví dụ: Nhóm từ chỉ hƣớng: đông, tây, nam, bắc
Nhóm từ chỉ mùa: xuân, hạ, thu, đông
b. Chúng có khả năng hoạt động nhƣ trong nguyên ngữ, nhƣng dung
lƣợng nghĩa thay đổi.
Ví dụ: hồng, bạch, lục…
10
c. Chúng vẫn giữ nguyên nghĩa nhƣ trong nguyên ngữ, nhƣng không có
khả năng hoạt động nhƣ trong nguyên ngữ.
Ví dụ: nhân, bất, gia, khả…
d. Chúng thay đổi cả về khả năng hoạt động lẫn dung lƣợng nghĩa.
Ví dụ: cực (đẹp cực)
tệ (xinh tệ)
xấu (xấu tệ)
1.1.3.3. Sắc thái tu từ
Muốn sử dụng từ Hán Việt không những phải hiểu rõ nghĩa của từ mà
còn phải thấu hiểu giá trị phong cách của chúng. Về đại thể, từ Hán Việt có
các giá trị sau:
a. Sắc thái trang trọng
Từ Hán Việt tạo sắc thái trang trọng, trang nghiêm.
So sánh với các từ thuần Việt tƣơng ứng:
Từ thuần Việt
Từ Hán Việt
Từ Hán Việt đƣợc sử dụng thay thế cho từ thuần Việt tạo cảm giác tao
nhã, tránh tục tĩu hoặc tránh hiện tƣợng ghê rợn.
Ví dụ: tạo sắc thái tao nhã, tránh tục tĩu: hậu môn, tiểu tiện, phân, khoả
thân…; tránh hiện tƣợng ghê rợn: thổ huyết, xuất huyết, thƣơng vong,…
c. Tạo sắc thái cổ
Một số từ Hán Việt cổ quen dung trong quá khứ đến bây giờ dung lại
mang sắc thái cổ: tôn ông, đồng môn, ái phi, huynh ông,…
Miêu tả những hình ảnh cổ kính của nhiều thời đại đã qua với một tâm
trạng nuối tiếc. Trong bài thơ Thanh Long Thành hoài cổ, Bà Huyện Thanh
Quan đã sử dụng những từ này vào cuối dòng thơ càng in đậm những hình
tƣợng ngƣng đọng trong kí ức. Tất cả đƣa đến cho ta cảm giác về sự thay đổi
của tạo hoá:
“Tạo hoá gây chi cuộc hí trường,
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bong tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây chốn đoạn trường.”
(Thanh Long Thành hoài cổ - Bà Huyện Thanh Quan)
Tố Hữu khi nói về truyền thống cổ xƣa của dân tộc cũng sử dụng từ
Hán Việt
“ Cảm ơn Đảng đã cho ta dòng sữa
Bốn nghìn năm chan chứa ân tình
Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn bạo chúa
12
Trái lại, bà Huyện Thanh Quan trong Chiều hôm nhớ nhà lại vẽ lên
bức tranh về cảnh chiều hiện lên một thế giới của tâm tƣởng, của ý niệm:
“ Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lạ cô thôn
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn,
Kẻ chốn Chương Đài, người lư thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.”
(Chiều hôm nhớ nhà – Bà Huyện Thanh Quan)
Sử dụng từ Hán Việt, nữ thi sĩ đã tạo ra một bức tranh rất hoài cổ. Các
từ Hán Việt nhƣ: ngƣ ông, viễn phố, mục tử, cô thôn, Chƣơng Đài, lũ thứ, hàn
ôn… đã đặt đƣợc vào các vị trí quyết định giá trị của câu thơ cuối vần để gây
ấn tƣợng vọng trong tâm hồn ta, cuối nhịp để bắt ngƣời đọc dừng ở đây.
Trong bài Thăng Long Thành hoài cổ cả bài có 8 từ Hán Việt thì cả 8 chữ đều
ở cuối câu.
Nghệ thuật là sự lựa chọn cực kì công phu. Bằng cách này bà Huyện
Thanh Quan đã kéo ta về một cõi hoài cổ và đồng cảm với nỗi u hoài của nhà
thơ”.
1.1.4.Vị trí, nhiệm vụ dạy học từ Hán Việt trong phân môn Luyện từ và
câu ở Tiểu học
1.1.4.1. Vị trí của phân môn Luyện từ và câu
Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ. Từ là
đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện chức
năng giao tiếp. Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm
quan trọng của việc dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học. Việc dạy Luyện từ
14
b. Hệ thống hoá vốn từ
Dạy học sinh biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống trong trí
nhớ để tích luỹ từ đƣợc nhanh chóng và tạo ra tính thƣờng trực của từ, tạo
điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói đƣợc thuận lợi. Công việc này
hình thành ở học sinh kĩ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng dọc của
chúng, đặt từ trong hệ thống liên tƣởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, gần nghĩa,
trái nghĩa, cùng cấu tạo…, tức là kĩ năng liên tƣởng đến để huy động vốn từ.
c. Tích cực hoá vốn từ Hán Việt
Dạy cho học sinh sử dụng từ Hán Việt, phát triển kĩ năng sử dụng từ
Hán Việt trong lời nói và lời viết của học sinh, đƣa từ vào trong vốn từ tích
cực đƣợc học sinh dùng thƣờng xuyên. Tích cực hoá vốn từ tức là dạy học
sinh biết dùng từ Hán Việt trong hoạt động nói năng của mình.
d. Cung cấp một số kiến thức về từ Hán Việt
Phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho học sinh một số kiến thức về
từ Hán Việt phổ biến, cần thiết và vừa sức với các em. Phân môn này trang bị
cho học sinh những hiểu biết về cấu trúc của từ Hán Việt, quy luật hình thành
hành chức của chúng. Cụ thể đó là các kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của các
từ, các lớp từ, từ loại của từ Hán Việt.
Ngoài ra, Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn luyện tƣ duy và giáo
dục thẩm mĩ cho học sinh về từ Hán Việt.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, từ Hán Việt xuất hiện nhiều trong
các văn bản Tập đọc, chủ yếu các văn bản thuộc thể loại chính trị, khoa học
và nghị luận. Bên cạnh đó, phân môn Luyện từ và câu từ Hán Việt cũng xuất
hiện với một lƣợng khá lớn, đặc biệt trong các tiết học Mở rộng vốn từ. Ở cấp
Tiểu học, dạy học từ Hán Việt không đƣợc dạy thành tiết học riêng mà nó
đƣợc lồng ghép với các tiết học. Để có cơ sở thực tiễn về việc dạy học từ Hán
16
vực
vực
tôn
quân
giáo
kinh
giáo
sự
dục
tế
vốn từ:
Nhân hậu –
người như
Đoàn kết
thân
vốn từ:
14
Nhân hậu –
Đoàn
6
kết
17
(tiếp)
4
Từ ghép và
Mở
5
rộng
vốn từ:
Măng mọc
Trung thực
1
1
riêng
Mở
8
rộng
vốn từ:
Trung thực
2
– Tự trọng
18
(tiếp)
Cách
9
Trên
đôi
cánh
ước
18
28
3
4
12
Tính từ
Mở
13
3
1
2
18
rộng
vốn từ:
Ý
Có chí thì
phép
lịch sự khi
1
3
đặt câu hỏi
Tiếng sáo
16
diều
Câu kể
Vị
17
4
ngữ
trong câu kể
3
Ai làmgì?
19
giáo
kinh
giáo
sự
dục
tế
Lĩnh Lĩnh
vực
vực
y tế
khác
ngữ
trong câu kể
1
3
Ai làmgì?
vốn từ: Tài
2
9
năng
Mở
5
rộng
vốn từ: Cái
5
đẹp
Vị
6
ngữ
trong câu kể
6
Ai là gì?
Chủ
7