Phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, trường hợp Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt Xem - Pdf 48

Phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài,
trường hợp Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt
Nguyễn Thiện Nam
Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
Tóm tắt
Báo cáo của chúng tôi sẽ đề cập đến những nội dung sau:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.

Giới thuyết về phương pháp dạy tiếng
Phương pháp và phương pháp luận
Về khái niệm đào tạo giáo viên dạy tiếng
Dự kiến những bước cụ thể của một chương trình đào tạo giáo viên dạy tiếng nói
chung và giáo viên dạy tiếng Việt
Tính đa dạng của các chương trình đào tạo giáo viên dạy tiếng
Trường hợp tiếng Việt như một ngoại ngữ, thực tiễn và nhu cầu về việc đào tạo
phương pháp giảng dạy
Việc đào tạo về phương pháp dạy tiếng trên thế giới và ở Việt Nam
Giáo viên tiếng Việt như một ngoại ngữ cần có những tri thức cơ bản nào?
Kết quả của chương trình “Phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài”

Toàn văn
1.0 . Mở đầu

những quan điểm khác nhau về:
a. Bản chất của ngôn ngữ
b. Bản chất của việc học ngôn ngữ
c. Mục đích và ĐỐI TƯỢNG giảng dạy
d. Các loại chương trình (SYLLABUS) được sử dụng
e. Vai trò của người dạy, người học và các tài liệu giảng dạy
2



f. Các kỹ thuật và thủ pháp được sử dụng” [8, 228]
2.1.2. Phương pháp luận
Nhóm Richard, cũng trong từ điển ngôn ngữ học ứng dụng nêu trên đã định
nghĩa như sau:
“Phương pháp luận - Methodology (trong dạy tiếng):
(1) là sự nghiên cứu việc luyện tập và thủ tục được sử dụng trong việc dạy và
những nguyên tắc và lòng tin có trong đó.
Phương pháp luận bao gồm:
(a) sự nghiên cứu bản chất của các KỸ NĂNG NGÔN NGỮ (như đọc, viết, nói
nghe) và các cách/thủ tục để dạy chúng
(b) sự nghiên cứu việc chuẩn bị của KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG, các tài liệu và
sách giáo khoa dùng để dạy các kỹ năng
(c) sự đánh giá và so sánh các PHƯƠNG PHÁP dạy tiếng (ví dụ: PHƯƠNG
PHÁP NGHE NÓI)
(2) Bản thân những sự thực tập, những thủ tục, nguyên tắc và lòng tin. Người ta
có thể phê phán hay khen ngợi phương pháp luận của một chương trình học
nào đó.
(3) (Trong nghiên cứu) Các thủ pháp được sử dụng để tiến hành khảo sát, điều
tra, bao gồm những phương pháp được sử dụng để sưu tập và phân tích dữ
liệu.” [8, 228]

nhóm này lấy cứ liệu từ lớp học và học cho rằng những gì xảy ra trong lớp học là
cứ liệu rất quan trọng. Nó quan trọng hơn những gì giáo viên được huấn luyện.
3. Về khái niệm đào tạo giáo viên dạy tiếng
Không phải không có những quan niệm ngây thơ hoặc dung tục hóa việc
giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ rằng chỉ cần nói được tiếng Việt hoặc chỉ
cần tốt nghiệp đại học là có thể dạy được tiếng Việt. Thực tế việc giảng dạy tiếng
4



Việt một cách chuyên nghiệp đòi hỏi người giáo viên phải có sự tích hợp cần thiết
giữa sự thông minh, óc tưởng tượng, tri thức tổng hợp đa ngành, tri thức cơ bản về
ngôn ngữ học, ngôn ngữ học ứng dụng, tri thức cơ bản về tiếng Việt, và kinh
nghiệm về kỹ năng đứng lớp dạy tiếng tốt… Làm một giáo viên dạy tiếng tốt khác
với một bác sĩ giải phẫu, một luật sư, khác với cả một nhà ngôn ngữ học, tuy nhiên,
cũng như bác sĩ, luật sư, nhà ngôn ngữ học, để trở thành một giáo viên dạy tiếng
chuyên nghiệp, cũng cần quá trình tuyển chọn, đào tạo đặc biệt và những kỹ năng
cần thiết trước khi được chấp nhận. Chúng ta cũng có thể phân biệt một bác sĩ
được đào tạo bài bản với một người tự xưng là thầy thuốc mà chưa qua trường lớp
nào cũng như phân biệt giữa một giáo viên dạy tiếng chuyên nghiệp với một giáo
viên dạy tiếng “tay ngang”.
Một đặc trưng của nghề dạy tiếng là chúng ta phải tiếp xúc với hàng loạt đối
tượng người học khác nhau, với những điều kiện học, mục đích, lứa tuổi, quốc tịch,
tiếng mẹ đẻ… khác nhau. Nói cách khác, chúng ta phải chú ý đến từng cá nhân
một với những bối cảnh khác nhau. Như vậy, về khía cạnh lý thuyết, cùng lúc,
chúng ta phải chú ý tới tất cả đồng thời cũng phải chú ý đến từng cá nhân một.
Thực tế là trên thế giới đã có hẳn ngành dạy tiếng (language teaching) thuộc
ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics) và rất nhiều nhà ngôn ngữ học ứng
dụng đã xây dựng hẳn lý thuyết về giảng dạy và học tập ngôn ngữ thứ hai, có thể
kể ra hàng loạt tên tuổi như: Fries, C. C., Lado, R.,Corder, S. P., Selinker, L. M.,

Đây là khâu lựa chọn những ứng viên phù hợp, được chấp nhận trở thành
một học viên của khóa học và sau đó lựa chọn những ứng viên phù hợp để trở
thành giáo viên. Chẳng hạn: đối với tiếng Việt hiện nay, có thể xếp theo thứ tự ưu
tiên như sau:
- Ứng viên có bằng thạc sĩ ngôn ngữ
- Ứng viên có bằng cử nhân ngôn ngữ
6



- Ứng viên có bằng cử nhân Việt Nam học
- Ứng viên có bằng cử nhân Tiếng Trung/ tiếng Anh/ tiếng Nhật/ tiếng Hàn/tiếng
Pháp
- Ứng viên có bằng cử nhân văn học
- Ứng viên có bằng cử nhân lịch sử
- Ứng viên có bằng cử nhân các chuyên ngành khoa học xã hội – nhân văn khác…
• Bồi dưỡng tri thức tiếp tục (Continuing personal education)
Đây là khâu bổ sung tri thức chung cho học viên để khi trở thành giáo viên
thì giáo viên đó phải là một người “có học”. Dĩ nhiên học viên của khóa học đào
tạo giáo viên không thể là người “kém hiểu biết”, tuy nhiên do những bối cảnh văn
hóa xã hội khác nhau giữa các nước, do sự thay đổi nhanh của thế giới nên các học
viên cần được bổ sung tri thức một cách tổng hợp.
• Chương trình đào tạo nghề nghiệp chung cho một giáo viên
(General professional training as a teacher)
Đây là khâu cần thiết đối với tất cả các giáo viên của mọi môn học (toán học,
lịch sử, địa lý...) chứ không riêng gì đối với giáo viên dạy tiếng. Nội dung chủ yếu
của phần đào tạo này gồm: a) tri thức về bản chất của giáo dục trong quan hệ với
cá nhân và xã hội với các môn học như tâm lý giáo dục học, tâm lý xã hội học...; b)
tri thức về nền giáo dục của quốc gia; c) đạo đức và sự gương mẫu của giáo viên;
d) kỹ năng điều khiển lớp học; e) việc chuẩn bị bài giảng; f) vai trò và mối liên hệ

dựng (simulated and genuine teaching situation). Trước hết nói về tầm quan trọng
của tri thức về ngôn ngữ được dạy. Nếu như tri thức của giáo viên về ngôn ngữ
mình dạy, (đối với chúng ta là tiếng Việt) mà không chuẩn xác thì chắc chắn sẽ dạy
sai hoặc giải thích không đúng. Kết quả là người học sẽ khó thành công khi gặp
phải một giáo viên không nắm vững tri thức tiếng Việt. Người học, kể cả học sinh
nhỏ tuổi, ngay từ đầu trình độ sơ cấp đã có thể nhận biết khá rõ giáo viên của mình
8



là giỏi hay có vấn đề. Và quả thật, nếu người học phát hiện được giáo viên của
mình thường không giải thích được hoặc giải thích theo kiểu “tiếng Việt nó thế” vì
không nắm chắc tri thức tiếng Việt và không đủ tự tin, thì người học sẽ có cảm
giác thất vọng, thậm chí bức xúc, ảnh hưởng không tốt đến cảm hứng và kết quả
học tập. Chính vì vậy, thành tố kỹ năng trong chương trình đào tạo giáo viên tiếng
Việt như một ngoại ngữ trước hết chính là phải bảo đảm cung cấp cho người dạy
tri thức đầy đủ, cơ bản, chính xác về tiếng Việt, về những nội dung tiếng Việt cần
cho giờ học. Một giáo viên tiếng Việt nhưng không có tri thức tiếng Việt tốt sẽ làm
nản lòng người học và làm mất thời gian của chính bản thân mình và của người
học. Có thể nói rằng, kỹ năng này là yêu cầu bắt buộc và cực kỳ quan trọng đối với
một giáo viên dạy tiếng Việt.
Thành tố thông tin bao gồm thông tin về phương pháp luận, về chương
trình giảng dạy và giáo trình mà giáo viên sẽ phải tuân theo và sử dụng, và về bản
chất của ngôn ngữ.
Thông tin về phương pháp luận (methodology) đề cập tới những tiếp cận
khác nhau trong việc giảng dạy ngoại ngữ. Những tri thức này không thể thay thế
cho những kỹ năng cụ thể nhưng nó có thể cung cấp cho giáo viên những hiểu biết
cơ sở về những kỹ năng mà mình đang ứng dụng. Và thông thường, những học
viên có học vấn cao thì thấy cần phải có tri thức nền lý thuyết này của lĩnh vực dạy
tiếng.

tri thức và giải pháp khả dĩ trong điều kiện của học viên là sự phối hợp ở mức độ
có thể giữa lý thuyết, các kỹ năng, và thông tin.
Như vậy những điều trên thể hiện một đặc trưng hiển nhiên của tiến trình
dạy và học ngoại ngữ: nghề dạy tiếng cần những giáo viên được đào tạo đầy đủ và
có thể giúp cho người học thu được kết quả tốt. Và có một điều rất quan trọng
trong toàn bộ quá trình đào tạo là phải nhen lên trong học viên ngọn lửa nhiệt tình,
cảm giác tự hào nghề nghiệp, khát vọng tiến bộ không ngừng về chuyên môn giảng
dạy trong suốt sự nghiệp của mình.
10



Để thực hiện được những yêu cầu lý tưởng như trên thì cần những khóa học
nhiều thời gian. Tuy nhiên trong thực tế thì có nhiều chương trình đào tạo giáo
viên dạy tiếng khác nhau vì những đối tượng người học và mục đích học khác nhau
với quỹ thời gian khác nhau. Có những chương trình một tháng, chương trình hai
tháng, ba tháng hoặc sáu tháng, hay một năm, năm rưỡi...Nội dung chương trình
cũng vì vậy mà có nặng nhẹ, dài ngắn…khác nhau. Hơn nữa, tiến trình phát triển
của các phương pháp dạy tiếng, những chương trình thuộc những năm 1940 chắc
chắn nặng về tính “hàn lâm”, “truyền thống” hơn. Những chương trình thuộc
những năm gần đây hơn thì ngày càng thực tiễn hơn.
Dưới đây là một số ví dụ:
a) Cuốn “Teaching & learning English as a foreign language” của Charles C.
Fries [2] xuất bản năm 1945, (153 trang) có 5 chương và một phụ lục. Tác
giả dành chương thứ nhất phân tích về việc học ngoại ngữ của người lớn (On
learning a foreign language as an adult), tác giả nhấn mạnh đến tầm quan
trọng của phát âm và việc so sánh hai hệ thống âm thanh của tiếng Anh với
tiếng mẹ đẻ của người học trong các tài liệu dạy tiếng. Trong 4 chương còn
lại, chương 2 tác giả phân tích âm thanh trong ngữ lưu, tác giả nhấn mạnh
việc luyện tập phát âm tiếng Anh, chương 3 hướng dẫn về cấu trúc

nghĩa đối với phương pháp dạy tiếng – An Empirical Approach to Language
Teaching Methodology. Chương 2 là Những tiếp cận giao tiếp đối với việc
nghe hiểu – Communicative Approaches to Listening Comprehension.
Chương 3 là Kỹ năng nói trong ngôn ngữ thứ hai – Speaking in a Second
Language. Chương 4 là Kỹ năng đọc, một bình diện diễn ngôn – Reading: A
Discourse Perspective. Chương 5 là Phát triển các kỹ năng viết –
Developing Writing Skills. Chương 6 là Làm chủ mặt âm thanh của ngôn
ngữ - Mastering the Sounds of the Language. Chương 7 bàn về Việc dạy từ
vựng – Teaching Vocabulary. Chương 8 bàn về Vai trò của ngữ pháp –
12



Focus on Form: The Role of Grammar. Chương 9 bàn về Vai trò của người
học, các chiến lược và các kiểu học – Focus on the Learner: Learning Styles
and Strategies. Chương 10: Vai trò của giáo viên: Quản lý lớp học và sự
tương tác giữa giáo viên với sinh viên – Focus on the Teacher: Classroom
Management and Teacher-Student. Chương 11 là Chuẩn bị tài liệu giảng
dạy – Materials Development. Chương 12 là Các phương pháp dạy tiếng: Sự
phân tích có tính phê phán – Language Teaching Methods: A Critical
Analysis. Với chương trình này, học viên sẽ nắm được một cách hệ thống
các vấn đề lý thuyết cơ bản của ngôn ngữ học ứng dụng đề cập trực tiếp đến
tiến trình dạy tiếng. Tuy nhiên, học viên vẫn cần có thêm một chương trình
cụ thể và dễ hiểu hơn như là cuốn “Teach English” của Adrian Doff nữa.
d) Trong khi đó, đối với tiếng Nhật, cuốn 日本語の教え方 ABC (Nihon go no
osie kata ABC-cách dạy tiếng Nhật từ ABC) của nhóm Terada Kazuko [12]
xuất bản 1998 lại chỉ tập trung vào hướng dẫn cụ thể cách dạy 150 hiện
tượng ngữ pháp qua 30 bài. Ví dụ, bài 1 là câu danh từ (Suzuki san ha sensei
desu – Anh Suzuki là giáo viên), bài 2 là các từ chỉ thị như ko so a do – đây,
đấy, kia, nào, bài 3 là dạy câu động từ: Suzuki san ha schi ji ni okimasu –

Năm nội dung chính của khoá học là:
- Người học và người dạy, bối cảnh của việc dạy và học
- Tri thức và khả năng phân tích ngôn ngữ
- Các kỹ năng dạy: đọc, nghe, nói và viết
- Chuẩn bị và xây dựng viêc giảng dạy trong những bối cảnh khác nhau
- Phát triển các kỹ năng giảng dạy và tính chuyên nghiệp [13]
Như vậy, có thể thấy, tri thức và phương pháp là hai yếu tố được nhấn mạnh
nhất trong các chương trình. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào thời gian và mục đích
của từng chương trình mà có những tiêu điểm khác nhau.

14



6. Trường hợp tiếng Việt như một ngoại ngữ, thực tiễn và nhu cầu về việc đào
tạo phương pháp giảng dạy
So với quá trình giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ thì việc đào tạo
phương pháp cho giáo viên tiếng Việt như một ngoại ngữ hầu như chưa có lịch sử
và chưa được chú ý đúng với tầm mức của vị trí “tiếng Việt như một ngoại ngữ”.
Hơn lúc nào hết, công việc này cần được xem xét một cách nghiêm túc và cần có
những giải pháp thỏa đáng.
Giảng dạy Tiếng Việt như một ngoại ngữ là một công việc hết sức có ý
nghĩa và cần thiết trong thời đại Việt Nam làm bạn với thế giới. Trong nghị quyết
36 của Bộ Chính trị BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam về người Việt Nam ở nước
ngoài, tại mục 5, có nêu lên tầm quan trọng của việc dạy tiếng Việt cho con em
người Việt Nam ở nước ngoài. Việc giảng dạy tiếng Việt cho con em người Việt ở
nước ngoài cũng chính là việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ.
Việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ là một nghề. Như vậy,
người làm nghề này cần phải được học phương pháp của nghề trước khi theo
đuổi nghề.

thuộc viện khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, do tiến sĩ Võ Xuân Trang
phụ trách có tổ chức một số khóa huấn luyện ngắn hạn nhằm đào tạo giáo viên
tiếng Việt cho người nước ngoài. Một số giáo sư ngôn ngữ học từng là chuyên gia
dạy tiếng Việt ở nước ngoài như Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, Giáo sư Hoàng Trọng
Phiến được mời đến giảng bài cho khóa học. Những khóa học như thế là đáng
khuyến khích, tuy nhiên trên thực tế cũng chỉ có bấy nhiêu. Bẵng đi một thời gian,
việc đào tạo, huấn luyện một số khóa giáo viên tiếng Việt đi dạy tiếng Việt ở Lào,
ở một số địa bàn có đông con em người Việt ở nước ngoài, vẫn mang tính kinh
nghiệm chủ nghĩa hoặc mang tính hàn lâm. Những kiến thức học viên thu nhận
được hoặc là không hệ thống, hoặc là không thể ứng dụng được vì quá khó hiểu và
mang tính học thuật, nghiên cứu.

16



Chỉ đến 3 năm gần đây, một chương trình đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng
Việt một cách khá bài bản đã được thông qua và triển khai tại Khoa Việt Nam học
và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN. Trong
tiếng Anh có một nhóm từ viết tắt để chỉ việc đào tạo phương pháp giảng dạy tiếng
Anh cho người nước ngoài là TESOL (Teaching English to Speakers of Other
Languages), chúng tôi cũng thực hiện cách này đối với tiếng Việt: (TVSOL:
Teaching Vietnamese to Speakers of Other Languages). Điều này thực sự có ý
nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ.
8. Giáo viên tiếng Việt như một ngoại ngữ cần có những tri thức cơ bản nào?
8.1. Những yêu cầu cơ bản đối với một giáo viên dạy tiếng là đa dạng, đòi hỏi
nhiều nỗ lực và hy sinh. Ở mức hoàn thiện, một giáo viên dạy tiếng Việt cho người
nước ngoài cần có những tri thức và phẩm chất sau:
(1) Có đủ phẩm chất để trở thành một giáo viên
(2) Có tri thức chung về ngôn ngữ và ngôn ngữ học

nước ngoài”
Trước thực tế như vậy, chương trình đào tạo giáo viên tiếng Việt ở VSL
nhằm bước đầu cung cấp một tài liệu cơ sở với những tri thức cơ bản nhất mà một
giáo viên bắt đầu vào nghề dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cần nắm được.
Những khối kiến thức này có nghĩa quan trọng về lý thuyết cũng như về thực tế.
Người học có thể có hiểu được nền lý thuyết cơ bản của việc dạy tiếng cũng như có
được những kỹ năng thực hành khi bước vào giảng dạy một thứ tiếng. Nó chứng
minh rằng, dạy tiếng là một nghề, đồng thời là một ngành khoa học.
Chương trình này thực sự đã đáp ứng được mong đợi của xã hội, khi mà vị thế của
tiếng Việt đang ngày được khẳng định trên nhiều nước và vùng lãnh thổ như ở Hàn
Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hoa Kỳ, Châu Âu…Năm 2018, Đài Loan sẽ đưa tiếng
Việt vào trường tiểu học và trung học giảng dạy như một ngoại ngữ tự chọn, nguồn
tin từ Phòng Kinh tế Văn hóa Đài Bắc cho hay, năm 2018, Đài Loan cần ít nhất
2000 giáo viên dạy tiếng Việt ở các trường tiểu học. Chương trình TVSOL của
18



VSL đã “lĩnh ấn tiên phong” trong việc đào tạo giáo viên tiếng Việt. Trong 3 năm
vừa qua chúng tôi đã mở chính thức tại Khoa 5 khóa (hơn 100 học viên) và 1 khóa
ở Thái Lan cho hơn 40 học viên, 1 khóa ở Đại học Vĩnh Long cho 15 học viên,
cùng với 5 khóa do Chính phủ tổ chức và Khoa chúng tôi phụ trách chương trình
chuyên môn với tổng cộng gần 200 học viên từ 15 nước và vùng lãnh thổ. Những
khóa do Chính phủ tổ chức , đối tượng là các giáo viên người Việt dạy tiếng Việt ở
nước ngoài, với xuất thân và nền tảng giáo dục khác nhau nên phương pháp và nội
dung giảng dạy cũng được sắp xếp linh hoạt và thực dụng, dễ hiểu.
Tham khảo
1. Doff, A., Teach English, A training course for teachers, Cambridge University Press in
association with The British Council, 1990.
2. Fries, C.Charles 1945. Teaching & Learning English as a Foreign Language, The University


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status