Tìm hiểu afta –Chương trình cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung cept (1) - Pdf 49

I.

TỔNG QUAN
1. KHÁI NIỆM

A. Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ
cái đầu của ASEAN Free Trade Area) là một hiệp định thương mại tự
do (FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN. Theo đó, sẽ
thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0-5%, loại bỏ dần các
hàng rào phi thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa hóa
thủ tục hải quan giữa các nước.
Sáng kiến về AFTA vốn là của Thái Lan. Sau đó hiệp định về
AFTA được ký kết vào năm 1992 tại Singapore. Ban đầu chỉ có sáu
nước là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái
Lan (gọi chung là ASEAN-6). Các nước Campuchia, Lào, Myanma và
Việt Nam (gọi chung là CLM).
Mục tiêu của AFTA là tự do hóa thương mại trong các nước
ASEAN thông qua việc giảm đến mức tối thiểu các biểu thuế trong khu
vực và xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, thu hút đầu tư nước ngoài
vào khu vực và khuyến khích các ngành kinh tế ASEAN có một định
hướng rộng hơn và mang tính thị trường khu vực hơn cho các nền kinh
tế trong lĩnh vực sản xuất và thị trường
B. “CEPT” có nghĩa là Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực
chung và là mức thuế có hiệu lực dành ưu đãi cho ASEAN, được áp
1


dụng cho các loại hàng hoá có xuất xứ từ các quốc gia thành viên
ASEAN và đã được xác định để đưa vào Chương trình CEPT.
2. NỘI DUNG


đối với các mặt hàng trong danh mục nhạy cảm như đường (giảm vào
năm 2010), trứng thương phẩm, trứng gia cầm làm giống, gạo lức và
thóc, một số loại hoa quả thì lộ trình giảm thuế sẽ chậm hơn, bắt đầu từ
1/1/2006 và đến năm 2013, mức thuế suất đối với các mặt hàng này chỉ
còn 0% - 5%. Nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh kém như mía đường,
dầu thực vật, thịt chế biến, thực phẩm và rau quả chế biến,vv… vẫn đặt
trong danh mục nhạy cảm SEL để tạo điều kiện cho sản xuất trong
nước có thời gian chuẩn bị.
Đối với các mặt hàng nông sản thô (cà phê thô, gạo, thịt, rau quả
tươi) phải đến năm 2010 khi đa số các nước ASEAN đã hoàn thành tự
do hoá cho nhóm hàng nông sản nhạy cảm, các hàng rào phi thuế quan
được loại bỏ hoàn toàn thì AFTA mới thực sự tạo ra sức ép cạnh tranh
trong thương mại khu vực đối với các mặt hàng nông sản thô.
Nhìn chung, tình hình thực hiện CEPT/AFTA của Việt Nam đang
bước vào giai đoạn khó khăn hơn do phạm vi và mức độ cắt giảm thuế
3


ngày càng cao. Đối với những ngành hàng của Việt Nam có nguy cơ bị
cạnh tranh cao từ các nước ASEAN thì vấn đề tồn tại và phát triển của
những ngành này sẽ được biểu hiện rõ ràng và gay gắt hơn. Đây vừa là
cơ hội vừa là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam để
vươn lên đứng vững & phát triển để hội nhập thương mại trong khu
vực và quốc tế.
3. CÁC DANH MỤC SẢN PHẨM CẮT GIẢM THUẾ QUAN

AFTA đưa ra một chương trình về cắt giảm thuế quan trong khu
vực được tiến hành theo từng giai đoạn đến 2008. Trong đó, các nước
tham gia sẽ có những sáng kiến hoạt động bao gồm việc xoá bỏ các
hàng rào phi thuế quan và các giới hạn về số lượng, thống nhất các

đó các mặt hàng được coi là không phù hợp với quy định của ASEAN
gồm:
1/ Thiết bị truyền phát và ra da, quặng xỉ tro, các chất rác thải và
rác thải y tế, các tác phẩm nghệ thuật (nhóm này được liệt vào danh

5


mục vì lo sợ quản lý chưa đủ mạnh, nếu giảm thuế sẽ ảnh hướng đến an
ninh quốc gia, môi trường và giá trị văn hoá);
2/ Rượu mạnh, thuốc là và nguyên liệu thuốc lâ, ô tô, xe máy, linh
kiện xe máy, lốp cũ và lốp đắp lại (nhóm có thuế suất cao, đóng góp
vào thu ngân sách hoặc đang cấm nhập);
3/ Xăng dầu các loại (giữ lại nhằm mục đích điều tiết giá, ổn định
nền kinh tế).
Như vậy, những mặt hàng nêu trên phải cắt giảm thuế để đạt mức
thuế suất 0-5% vào 2006, nhưng Bộ Tài chính Việt Nam đang tiến hành
đàm phán với ASEAN thực hiện CEPT linh hoạt hơn cho một số nhóm
mặt hàng có tính đến điều kiện thực tế của Việt nam theo lộ trình như
sau: đối với rượu mạnh, quặng xỉ tro, thiết bị truyền phát, các tác phẩm
nghệ thuật đã đưa vào cắt giảm từ 2005, kết thúc vào 2006, với thuế
suất từ 20% xuốngứ 5%; đối với xe máy và linh kiện xe máy sẽ đưa
vào cắt giảm vào 2006, kết thúc vào 2007 với thuế suất từ 20% xuống
còn 5%; Đối với xăng dầu, ô tô từ 10- 30 chỗ sẽ đưa vào cắt giảm thuế
vào 2007 – 2008, thuế suất dưới 20% giảm còn 0-5%; đối với ô tô từ 10
chỗ ngồi trở xuống áp dụng từ 2008-2009 với mức thuế từ 20% giảm
còn 5%.
Theo kế hoạch dài hạn, các nước thành viên ASEAN sẽ nhất trí áp
dụng tỷ lệ thuế quan 0% đối với hầu hết tất cả các mặt hàng nhập khẩu
đến 2010, riêng 4 quốc gia thành viên mới hạn cuối là 2015.

viên ASEAN nào.
4. Tất cả các sản phẩm chế tạo, bao gồm hàng tư liệu sản xuất và
nông sản chế biến sẽ nằm trong Chương trình CEPT. Những sản
phẩm này sẽ nghiễm nhiên được đưa vào Chương trình cắt giảm
thuế quan theo qui định tại Điều 4 của Hiệp định. Đối với những
sản phẩm thuộc diện PTA, sẽ áp dụng chương trình cắt giảm thuế
quan quy định tại Điều 4A của Hiệp định này, có xem xét tới mức
thuế quan sau khi đã áp dụng mức ưu đãi (MOP) kể từ ngày
31/12/1992.
5. Tất cả các sản phẩm thuộc diện PTA không nằm trong danh
mục cắt giảm thuế theo Chương trình CEPT thì sẽ tiếp tục được
hưởng MOP hiện có tính từ ngày 31/12/1992.
6. Các Quốc gia thành viên đã thực hiện cắt giảm thuế từ 20%
và thấp hơn xuống 0-5% đối với các sản phẩm đã được thoả
thuận, mặc dù đã được hưởng quy chế tối huệ quốc (MFN), vẫn
sẽ được hưởng các ưu đãi. Các Quốc gia thành viên có mức thuế
quan ở mức thuế MFN là 0-5%, sẽ được coi là đã hoàn thành các
nghĩa vụ theo Hiệp định này và cũng được hưởng các ưu đãi.
5. CƠ CHẾ TRAO ĐỔI NHƯỢNG BỘ CỦA KẾ HOẠCH CEPT
Những nhượng bộ khi thực hiện CEPT của các quốc gia được trao
đổi trên nguyên tắc có đi có lại.
8


Muốn hưởng nhượng bộ về thuế quan khi xuất khẩu hàng hoá
trong khối, một sản phẩm cần có điều kiện sau:
- Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế của cả
nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, và phải có mức thuế quan (nhập
khẩu) bằng hoặc thấp hơn 20%.
- Sản phẩm đó phải có chương trình cắt giảm thuế được Hội đồng

lượt mình, thương mại ảnh hưởng tới sản xuất. Nh vậy, thực chất của
việc xem xét tác động của AFTA đối với các nghành sản xuất trong
nước là đánh giá khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam so với
hàng hóa các nước ASEAN và thị trường nước ngoài ASEAN.
Khả năng cạnh tranh của hàng hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó quan trọng nhất là chất lượng, chủng loại, mẫu mã, giá cả.
Tham gia AFTA sẽ có một tác động trực tiếp nhất tới yếu tố giá cả hàng
hóa, bởi với việc cắt giảm đơn giản hóa các thủ tục buôn bán thì giá cả
hàng hóa sẽ hạ hơn. Các yếu tố khác như chất lượng, mẫu mã cũng thay
đổi do sức cạnh tranh trong nội bộ AFTA.

10


Việc hình thành AFTA dần đến xoá bỏ thuế nhập khẩu trong nội bộ
các nước ASEAN, nhưng giữ nguyên thuế nhập khẩu với thế giới bên
ngoài vì vậy nó sẽ có thể dẫn đến những hậu quả:
-

Phân bố lại luồng buôn bán giữa các nước ASEAN.

-

Do các luồng buôn bán nội bộ khu vực thay đổi nên buôn bán với
bên ngoài khu vực cũng thay đổi.

-

Làm thay đổi các luồng đầu tư, hình thành sự chuyên môn hóa sản
xuất và phân bố các ngành sản xuất khác so với trước.

Trong mấy năm vừa qua, tốc độ tăng kim ngạch buôn bán
Việt Nam với các nước trong khối ASEAN tăng lên với tốc độ gần 30%
năm. Doanh số chiếm 1/3 kim ngạch ngoại thương của Việt Nam.
Câu hỏi đặt ra là với AFTA tốc độ tăng còng như tỷ trọng của kim
ngạch buôn bán với ASEAN có tăng lên đáng kể không và nếu có thì
ảnh hưởng ra sao đối với sản xuất trong nước? Để trả lời, cần xem xét
cụ thể cơ cấu buôn bán của Việt Nam với các nước trong khối.
Xét về cán cân buôn bán với ASEAN Việt Nam luôn ở tư thế
nhập siêu. Mặc dù xuất khẩu tăng, đặc biệt nhờ mặt hàng chủ đạo là
dầu thô xuất sang Singapo, tuy nhiên triển vọng gia tăng xuất khẩu của

12


Việt Nam sang các nước ASEAN chưa có nhữnh hứa hẹn thay đổi
mạnh, do cơ cấu mặt hàng xuất khẩu.
Xét về cơ cấu mặt hàng, Việt Nam xuất sang các nước ASEAN
gồm: dầu thô, gạo, đậu, cao su... rất nhiều mặt hàng nông sản chưa chế
biến được các nước xét vào danh mục hàng nông sản chưa chế biến
nhạy cảm và nhạy cảm cao để làm chậm quá trình giảm thuế. Số các
mặt hàng nông sản được các nước thành viên ASEAN bổ sung vào
CEPT để áp dụng việc cát giảm thuế ngay chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ,
trong khi những mặt hàng chủ đạo là dầu thô và nông sản chưa chế biến
chiếm hầu hết kim nghạch xuất khẩu Việt Nam. Tác động kích thích
chủ yếu của CEPT là đối với các công nghiệp chế biến, bởi vì việc cắt
giảm thuế suất lớn chính là đối với các mặt hàng này. Như vậy, những
nước có trình độ phát triển cao hơn như Singapo, Malaixia có ưu thế
hơn trong việc cạnh tranh hàng hoá của mình khi những hàng rào thuế
quan, phi thuế quan cắt giảm và xóa bỏ.
Sự chênh lệch về mức thuế hiện và thuế suất dưới 5% sau khi

yếu.
14


Thấy rằng cơ cấu sản xuất và cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam và
một số nước ASEAN không khác nhau nhiều lắm. Có rất nhiều mặt
hàng cùng sản xuất có thể cạnh tranh nhau trên thị trường Việt Nam và
thị trường ngoài ASEAN nh các loại nông sản chưa chế biến, ô tô, xe
máy, xe đạp... Hiện tại sản xuất một số mặt hàng của Việt Nam còn
thua kém sức cạnh tranh so với các nước trong khối bởi thua về chất
lượng, chủng loại và cả số lượng. Vì thế, các nước này đang cố gắng
chiếm lấy thị phần ở Việt Nam. Việc áp dụng AFTA sẽ tạo điều kiện
hơn cho các nước ASEAN trong việc nâng cao cạnh tranh về giá cả và
về thủ tục hải quan so với các hàng hóa của các nước ngoài khối
(như Trung quốc, Hàn Quốc. Đài Loan...) vào thị trường Việt Nam.
Chiếm lấy một thị phần ở Việt Nam là điều mà các nhà kinh doanh
nước ngoài quan tâm hàng đầu, bởi vì thị trường Việt Nam có tiềm
năng lớn về dung lượng, lại thuộc loại không đòi hỏi cao về chất lượng
hàng hóa. Có lý do để lo ngại rằng do Việt Nam có trình độ phát triển
kinh tế thấp hơn các nước ASEAN khác, sức cạnh tranh của hàng hóa
yếu nên đứng trước những thử thách vô cùng lớn khi tham gia AFTA.
Hiện nay, hàng hóa nhập khẩu đang tràn ngập thị trường, làm điêu đứng
không ít ngành công nghiệp bản địa như dệt, giày dép, hàng cơ khí, đồ
điện dân dụng... thậm chí cả khi hàng rào thuế quan đang còn được duy
trì khá cao. Đặc biệt, đáng lo ngại là hàng hóa có hàm lượng chất xám và
kỹ thuật cao, bởi vì sự chênh lệch về trình độ rất rõ rệt. Khi mà hàng rào
bảo hộ bị cắt giảm thì sản xuất trong nước chịu sức lớn gấp nhiều lần. Thế
15



Đối với các nhà đầu tư, Việt Nam có một thị trường tiềm năng
lớn, chi phí nhân công thấp, lực lượng lao động có khả năng tiếp nhận
nhanh chóng kỹ thuật mới, vị trí địa lý thuận lợi và những khuyến
khích về tài chính hấp dẫn. Bên cạnh những lợi thế so sánh đó đối với
các nước ngoài ASEAN, nguyên tắc xuất xứ hàng hóa của ASEAN đã
được quy định theo thỏa thuận của AFTA sẽ là một yếu tố kích thích
đầu tư vào Việt Nam. Theo nguyên tắc này, một sản phẩm được coi là
một hàng hóa ASEAN nếu như 40% hàm lượng giá của nó xuất xứ từ
một nước ASEAN. Yêu cầu này thấp hơn so với yêu cầu tương tự ở các
khu vực thương mại tự do khác. Việc đầu tư để sản xuất ở một nước
nằm bên trong hàng rào AFTA rõ ràng đem lại lợi ích cho các nhà đầu
tư. Với Việt Nam gia nhập AFTA, sức thu hút đầu tư nước ngoài sẽ có
thể lớn hơn.
Đối với các nhà đầu tư trong ASEAN, họ sẽ quan tâm đến sự di
chuyển một ngành sản xuất tiêu tốn nhiều lao động sang Việt Nam, bởi vì
một số nước thành viên ASEAN khác đã bắt đầu được lợi thế về nguồn lao
động giá rẻ.
17


3. Tác động tới nguồn thu ngân sách:
Hệ thống thuế Việt Nam nói chung và thuế xuất nhập khẩu nói
riêng đang trong quá trình hoàn thiện và sẽ có những thay đổi căn bản
có thể dẫn đến những thay đổi lớn vì tỷ trọng thuế gián thu trong tổng
thu ngân sách. Đồng thời kim nghạch nhập khẩu giữa Việt Nam và các
nước ASEAN sẽ có nhiều thay đổi và kéo theo tỷ trọng nhập khẩu của
Việt Nam còng thay đổi theo. Việc thuế nhập khẩu được cắt giảm song
đồng thời áp dụng VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt thì phân giảm do thu
của thuế nhập khẩu sẽ được bù đắp bằng hai loại thuế trên.
Việc giảm thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu đầu vào của sản

Như vậy có nghĩa là năm 2010, việc cắt giảm thuế nhập khẩu để
thực hiện CEPT/AFTA không ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất
cũng như thu ngân sách.
Ngay sau khi gia nhập ASEAN (năm 1995), chúng ta đã cam kết
thực hiện lộ trình giảm thuế nhập khẩu đối với hàng hoá của các nước
trong khu vực. Theo đó, từ năm 1996, Việt Nam bắt đầu cắt giảm thuế
nhập khẩu và trong vòng 10 năm, tức là đến năm 2006 sẽ giảm dần thuế
nhập khẩu từ các nước trong khu vực xuống chủ yếu còn từ 0% - 5%.
Trong giai đoạn này, Chính phủ, các bộ, ngành và cộng đồng doanh
nghiệp (DN) đã có sự chuẩn bị tích cực để “làm quen” với việc không còn
19


ranh giới về thuế giữa hàng sản xuất trong nước và hàng sản xuất tại các
nước ASEAN

III .TÌNH HÌNH THỰC TẾ
1. Những cam kết thực hiện CEPT-AFTA
Việt Nam gia nhập ASEAN (7/1995) và ký Hiệp định CEPT vào
thời điểm mà các nước thành viên khác đã có 3 năm để thực hiện. Theo
quy chế của ASEAN đối với một thành viên mới, thời hạn để Việt Nam
hoàn thành quá trình tham gia thiết lập AFTA (bắt đầu thực hiện cắt
giảm thuế, thời hạn chuyển dần từ danh mục loại trừ tạm thời sang
danh mục cắt giảm thuế quan cũng như ra hạn chế để hoàn thành cắt
giảm thuế quan) sẽ muộn hơn các nước thành viên khác 3 năm. Có
nghĩa là, Việt Nam bắt đầu giảm thuế từ 01/01/1996 và kết thúc vào
năm 2006. Các mặt hàng trong danh mục loại trừ tạm thời sẽ chuyển
dần sang danh mục cắt giảm thuế quan theo 5 bước, mỗi bước áp dụng
cho 20% số mặt hàng của danh mục loại trừ tạm thời và bước đầu tiên
được bắt đầu thực hiện từ năm 1998 và bước kết thúc 2003.

thương.

4.

Hoạt động tư vấn kinh tế vĩ mô.
Và thực tiễn thực hiện AFTA của Việt Nam trong thời gian vừa

qua cũng sẽ được phân tích cụ thể theo 3 lĩnh vực cho các ngành phụ
trách:


Lĩnh vực cắt giảm thuế quan.

21




Lĩnh vực loại bỏ các hạn chế định lượng (Qrs) và các rào cản
phi thuế quan khác (NTBs).



Lĩnh vực hợp tác hải quan.
Lĩnh vực cắt giảm thuế quan:
Tham gia thực hiện khu vực thương mại tự do ASEAN, Việt Nam

gặp không ít khó khăn trong việc xây dựng chương trình cắt giảm thuế
quan theo Hiệp định CEPT do xuất phát điểm nền kinh tế Việt Nam
thấp hơn so với các nước thành viên khác.

Tỷ

nhóm trọng nhóm trọng nhóm trọng nhóm trọng nhóm trọng
mặt

(%)

mặt

hàng

hàng

1700 53,1

199

(%)

mặt

(%)

hàng
9,31

636

mặt


hiện chương trình cắt giảm thuế quan theo quy định của Hiệp định
CEPT.
Tuy nhiên, trong cơ cấu biểu thức nhập khẩu của Việt Nam, mức
thuế suất thấp chủ yếu áp dụng cho các mặt hàng là nguyên vật liệu đầu
vào phục vụ cho sản xuất, xuất khẩu. Tỷ trọng lớn của số các thuế suất
trong khoảng 0%-5% phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong giai
đoạn khi nhiều nguyên vật liệu là đầu vào mà sản xuất trong nước chưa
đủ khả năng đáp ứng. Các thuế suất trên 60% được áp dụng chủ yếu đối
với các mặt hàng xa xỉ phẩm, đồ dùng thiết bị với mục đích điều chỉnh
tiêu dùng.

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status