VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TÁN NGỌC LAN
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN
THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TÁN NGỌC LAN
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN
THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
TÁC GIẢ
Tán Ngọc Lan
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI
SẢN THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI......................................... 9
1.1. Khái niệm chế độ bảo hiểm thai sản .......................................................... 9
1.2. Nội dung của chế độ bảo hiểm thai sản ................................................... 11
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN TẠI
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................................. 25
2.1. Thực trạng quy định chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam hiện nay...... 25
2.2. Thực tiễn thực hiện chế độ thai sản tại thành phố Đà Nẵng .................... 37
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM
THAI SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ....................................................... 59
3.1. Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thai sản bảo hiểm xã hội ................... 59
3.2. Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả thực thi chế độ thai sản ............... 62
KẾT LUẬN .................................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. CBCCVC: Cán bộ công chức viên chức
2. BHXH: Bảo hiểm xã hội
Trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ bảo hiểm thai sản ngoài ý
nghĩa đảm bảo thu nhập cho người phụ nữ còn có ý nghĩa xã hội và tính nhân
văn rất lớn, đóng góp để tái sản xuất dân số và duy trì nòi giống. Với việc
tham gia BHXH, đặc biệt là chế độ thai sản đảm bảo được thu nhập và ổn
định cuộc sống đối với lao động nữ khi họ mang thai, sinh đẻ hay nuôi con
trong một thời gian ngắn. Nó có một vị trí quan trọng đối với lao động nữ,
nhằm động viên, khuyến khích và hỗ trợ người mẹ khi họ mang thai, sinh sẻ
1
và nuôi con sơ sinh. Cùng với các chế độ bảo hiểm khác, chế độ bảo hiểm thai
sản ở nước ta đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật lao động từ
khi giành đước chính quyền cho đên nay. Đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung
nên chính sách bảo hiểm thai sản ngày càng đầy đủ, hoàn thiện và phù hợp
hơn với thực tế đời sống, đáp ứng được mục tiêu về bảo vệ sức khỏe cho lao
động nữ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ.
Tuy nhiên vẫn còn khá nhiều quy định bất cập, cần phải tiếp tục nghiên
cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, thực tiễn ở Việt Nam nói chung và thành
phố Đà Nẵng nói riêng, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường, trong một
số vấn đề, đối với lao động nữ chưa được đảm bảo thực hiện một cách đầy đủ.
Vì sự ưu việt của chế độ bảo hiểm thai sản có tầm quan trọng đặc biệt
đối với lao động nữ nói chung tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức
năng làm mẹ vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội
nên việc nghiên cứu đề tài “Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo
hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng” là rất cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu tác giả có tham khảo một số công trình
nghiên cứu khoa học của người đi trước, như:
Lê Thị Quế (năm 2003), đề tài khoa học về “Thực trạng và giải pháp
pháp lý và thực tiễn thực hiện, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện
pháp luật về bảo hiểm thai sản và chất lượng thực hiện pháp luật bảo hiểm
thai sản.
Nguyễn Thị Lan Hương (năm 2012), “Pháp luật về bảo hiểm xã hội
đối với lao động nữ ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế,
Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề tài nghiên cứu cả hai phương diện lý luận và
thực tiễn của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ. Đề
3
tài phân tích rõ các chế độ bảo hiểm xã hội Việt Nam đối với lao động nữ: chế
độ chăm sóc con ốm, chế độ thai sản và chế độ hưu trí, thực trạng pháp luật
về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ. Qua đó, đưa ra những phương hướng,
giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ và các
mặt công tác khác như tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức pháp luật về chế
độ bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, tăng cường công tác thanh tra, kiểm
tra, xử phạt vi phạm... để nâng cao hiệu quả của chế độ bảo hiểm xã hội đối
với lao động nữ cũng như vấn đề bảo vệ lao động nữ trong xã hội.
Nguyễn Hiền Phương (năm 2014), Bảo vệ quyền làm mẹ trong pháp
luật lao động và bảo hiểm xã hội, Tạp chí Luật học (số 06), tr. 48 - 59. Phân
tích, đánh giá thực trạng việc bảo vệ quyền làm mẹ của lao động nữ Việt Nam
theo quy định trong Bộ Luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội: phân tích và
làm rõ các quy định đảm bảo điều kiện, môi trường làm việc cho lao động nữ
gắn với quyền làm mẹ thông qua việc xác định chính sách của Nhà nước,
trách nhiệm, nghĩa vụ của người sử dụng lao động và các quyền của lao động
nữ khi mang thai, sinh con. Về chế độ bảo hiểm thai sản, phân tích cụ thể các
quy định về đối tượng và điều kiện hưởng, thời gian nghỉ hưởng chế độ bảo
hiểm thai sản, mức bảo hiểm thai sản theo Luật BHXH, đồng thời chỉ ra một
số hạn chế như việc chi trả mức trợ cấp không đúng với ý nghĩa của Luật hay
chí Bảo hiểm xã hội (năm 2018), “Những điểm mới về chế độ bảo hiểm theo
Luật bảo hiểm xã hội năm 2014”, Tạp chí Luật học (số 10). Cũng như tìm
hiểu về các Chế độ bảo hiểm xã hội thai sản ở Việt Nam năm 2017 mới nhất
hiện nay, chế độ trợ cấp thai sản và các trường hợp hưởng chế độ thai sản
mới.
Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã đi sâu tập trung về các
điều kiện hưởng chế độ thai sản, thời gian và mức hưởng chế độ thai sản, trên
cơ sở đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện, nghiên cứu chi tiết pháp luật cũng như
thực trạng pháp luật về bảo hiểm thai sản ở Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế
5
việc thực hiện chế độ bảo hiểm thai sản cho NLĐ vẫn còn nhiều vướng mắc.
Đặc biệt chưa có nghiên cứu nào được thực hiện trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng, do đó, việc tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đặc biệt những giải pháp của đề tài hy
vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định
pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ ở Việt Nam nói chung và
Thành phố Đà Nẵng nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về chế độ bảo hiểm thai sản,
đánh giá thực trạng chế độ bảo hiểm thai sản từ thực tiễn tại Đà Nẵng, từ đó
đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Chỉ ra và làm rõ một số vấn đề mang tính lý luận cơ bản như: chế độ
thai sản; tìm hiểu quan niệm của quốc tế về vấn đề thai sản và chế độ thai sản,
từ đó chỉ ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Dựa trên các đặc điểm cụ thể của Đà Nẵng và các quy định hiện hành
sâu sắc về chế độ bảo hiểm thai sản.
- Phương pháp thu thập thông tin: dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và
thứ cấp thu thập được từ những tài liệu nghiên cứu trước đây về chế độ bảo
hiểm thai sản để xây dựng cơ sở luận cứ để chứng minh giả thuyết.
- Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết: sắp xếp những thông tin đa dạng
thu thập được từ các nguồn, các tài liệu khác nhau về chế độ bảo hiểm thai
sản thành một hệ thống với một kết cấu chặt chẽ để từ đó mà xây dựng một lý
thuyết hoàn chỉnh.
Đồng thời kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công
trình khoa học đã được công bố.
7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm rõ hơn một số vấn đề lý luận cơ bản về chế độ bảo hiểm
thai sản cho lao động nữ như: khái niệm chế độ bảo hiểm thai sản; nội dung
pháp luật của chế độ bảo hiểm thai sản; nghiên cứu và khảo kinh nghiệm một
số nước và pháp luật quốc tế về chế độ thai sản.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp các luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu, xây dựng
và hoàn thiện chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam hiện nay.
Luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu,
giảng dạy đại học và sau đại học về chế độ thai sản.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn được cơ cấu thành ba chương chính sau:
Chương 1: Khái quát chung về chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật
bảo hiểm xã hội
được quy định trong pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới nhưng tuỳ
vào đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước mà chế độ này quy định
khác nhau về thời gian nghỉ, mức trợ cấp, điều kiện hưởng,…
9
Chế độ bảo hiểm thai sản cũng như các chính sách xã hội đối với lao
động nữ nói chung, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức năng
làm mẹ, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội. Trong
các quy định riêng về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, bảo hiểm thai sản
được coi là chế độ bảo hiểm đặc thù, nó tạo điều kiện để người lao động chủ
yếu là lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ, nhưng quan trọng hơn là
tạo điều kiện cho lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội.
- Đối với người lao động:
Chế độ thai sản có vai trò bù đắp một phần thiếu hụt về thu nhập của
người lao động. Trong thời kỳ thai sản, người lao động phải nghỉ việc, không
có lương, vì thế thu nhập sẽ bị giảm. Chế độ thai sản trợ cấp cho người lao
động một mặt bù đắp được thu nhập bị giảm, mặt khác hỗ trợ được các khoản
chi phí tăng thêm như: mua sắm dụng cụ, tã lót, sữa,…cho em bé, tăng cường
dinh dưỡng cho mẹ. Đồng thời, giúp thực hiện tốt chức năng và bảo vệ quyền
làm mẹ, làm vợ của người phụ nữ. Bên cạnh đó, giúp cho tâm lý của người
lao động ổn định, đặc biệt là người lao động khi họ có nhu cầu có con, xin
con nuôi, giúp họ có thời gian chăm sóc con cái, bảo vệ sức khoẻ của cả mẹ
và con, không lo lắng về chi phí sinh con khi không tham gia lao động. Đặc
biệt trong thời kỳ thai sản, người lao động bị giảm thu nhập do không có thời
gian tập trung nhiều cho công việc mà phải dành thời gian trong thời kỳ khám
thai, chăm sóc con sơ sinh… nên nhờ có chế độ thai sản đã hỗ trợ một phần
lớn chi phí của lao động trong thời kỳ thai sản.
- Đối với người sử dụng lao động:
hay cao tuổi).
- Bảo hiểm xã hội vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện
Tính bắt buộc thể hiện ở nghĩa vụ tham gia tối thiểu (thời gian mức
đóng bảo hiểm v.v...). Như vậy, Nhà nước đóng vai trò tổ chức, định hướng
để người lao động và người sử dụng lao động hiểu được nghĩa vụ và trách
11
nhiệm hợp lý tham gia vào các quan hệ về BHXH. Điều này được thể chế hoá
trong Bộ luật Lao động và các văn bản pháp quy khác về BHXH. Tính tự
nguyện có ý nghĩa khuyến khích mức tham gia, các loạI hình và chế độ bảo
hiểm, mà người lao động có thể tham gia trên cơ sở sự phát triển của hệ thống
BHXH của một số nước trong từng giai đoạn nhất định. Nguyên tắc này cho
phép BHXH có điều kiện để phát triển và mở rộng hơn.
- Xác định đúng đắn mức tối thiểu của các chế độ Bảo hiểm xã hội
Vấn đề này có quan hệ trực tiếp đến các khía cạnh có liên quan đến
việc thiết kế các chính sách và nội dung cụ thể của từng chế độ BHXH. Mức
tối thiểu của các chế độ BHXH là mức đóng định kỳ (hàng tháng), mức thời
gian tối thiểu để tham gia và được hưởng các chế độ BHXH cụ thể. Các mức
tối thiểu này, khi thiết kế thường dựa vào tiền lương tối thiểu, tiền lương bình
quân, quảng đời lao động v.v... Mặt khác, mức tối thiểu còn phải tính đến giá
trị của các chế độ BHXH mà người tham gia được hưởng. Nguyên tắc này
liên quan trức tiếp đến việc tạo nguồn, xây dựng quỹ BHXH, và khuyến khích
người lao động và các tầng lớp xã hội tham gia.
- Bảo hiểm xã hội phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức
tham gia và thời gian thức hiện, đảm bảo quyền lợi của người lao động
Nguyên tắc này đảm bảo sự thích hợp của BHXH trong cơ chế thị
trường, trong đó sự di chuyển và biến động lao động có thể xảy ra, thậm trí
mang tính thường xuyên. Sự thay đổi nơi làm việc và thay đổi hợp đồng lao
Đối tượng của chế độ bảo hiểm thai sản chủ yếu là lao động nữ trong
độ tuổi sinh đẻ khi khám thai, bị sẩy thai, nạo hút thai hoặc thai chết lưu, sinh
con, nuôi con sơ sinh hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai.
Công ước số 102 - Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội,
năm 1952 chỉ rõ: “Trường hợp bảo vệ bao gồm thai nghén, sinh đẻ và những
hậu quả tiếp theo, và sự gián đoạn thu nhập nảy sinh như pháp luật của quốc
gia quy định” [53]. Đồng thời Công ước cũng quy đinh những người được
13
hưởng chế độ thai sản phải bao gồm: “Mọi phụ nữ thuộc làm công ăn lương
được quy định, tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ người làm công ăn lương,
hoặc mọi phụ nữ được quy định trong dân số hoạt động kinh tế, và tổng số ít
nhất chiếm 20 % toàn bộ người thường trú; hoặc bao gồm mọi phụ nữ thuộc
những loại làm công ăn lương được quy định, và tổng số ít nhất chiếm 50%
toàn bộ người làm công ăn lương làm việc trong các doanh nghiệp công
nghiệp đang sử dụng 20 người trở lên; trong trường hợp trợ cấp y tế về thai
sản thì bao gồm cả vợ của những người thuộc các loại này. [5354]
Theo Công ước số 103 - Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm 1952
quy định thì chế độ thai sản “áp dụng cho những phụ nữ làm việc trong các cơ
sở công nghiệp và trong các công việc phi công nghiệp và nông nghiệp, kể cả
những phụ nữ làm công ăn lương, làm việc tại nhà” [54]. Và từ “phụ nữ” ở
đây là chỉ nữ giới, ở bất kỳ độ tuổi, quốc tịch, chủng tộc, hoặc tín ngưỡng tôn
giáo nào, có kết hôn hay không, và từ “con” là chỉ mọi đứa con sinh ra trong
hoặc ngoài giá thú [54]. Với mục đích của Công ước là nhằm đảm bảo cho
mọi lao động nữ, trẻ sơ sinh đều được chăm sóc cần thiết và được bảo vệ mức
sống đủ cho mẹ con trong thời kỳ người mẹ sinh con phải nghỉ việc mà không
hề có sự phân biệt đối xử nào về tôn giáo, chủng tộc, nghề nghiệp, độ tuổi...
Và trong Công ước số 156 - Công ước về bình đẳng cơ may và đối xử
y tế hoặc các xác nhận thích hợp khác, theo quy định của luật pháp và thực
tiễn, phải nêu rõ ngày sinh dự kiến.
Điều 3, Công ước số 103 - Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm
1952 quy đinh: “Phụ nữ thuộc đối tượng được áp dụng Công ước này đều có
quyền được nghỉ thai sản, khi xuất trình một giấy chứng nhận y tế dự tính thời
điểm sinh đẻ của mình” [54]. Tại Điều 4, Công ước số 183 - Công ước Công
ước về sửa đổi Công ước Bảo vệ thai sản (đã sửa đổi) quy định “Khi lập giấy
chứng nhận y tế hoặc các xác nhận thích hợp khác, theo quy định của luật
pháp và thực tiễn, nêu rõ ngày sinh dự kiến, người phụ nữ thuộc phạm quy áp
15
dụng của Công ước này sẽ được hưởng một thời gian nghỉ thai sản không
dưới 14 tuần”. [56]
1.2.3. Chế độ và quyền lợi
1.2.3.1. Thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thai sản
Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản bao gồm thời gian khi thai nghén,
sinh đẻ và những hậu quả tiếp theo sau sinh.
“Độ dài thời gian nghỉ thai sản ít nhất là 12 tuần, trong đó một phần
thời gian bắt buộc phải nghỉ sau khi sinh đẻ” theo Khoản 2 Điều 3, Công ước
số 103 - Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm 1952 quy định.
“Độ dài thời gian bắt buộc phải nghỉ sau sinh đẻ sẽ do pháp luật hoặc
pháp quy quốc gia quy định, nhưng bất kỳ trường hợp nào cũng không được
dưới 6 tuần; phần còn lại, tùy theo pháp luật hoặc pháp quy quốc gia quy
định, nhưng có thể nghỉ vào trước thời điểm dự tính sinh đẻ, hoặc sau thời
điểm đã hết thời gian nghỉ bắt buộc, hoặc là chia ra một phần nghỉ trước thời
điểm thứ nhất và một phần nghỉ sau thời điểm thứ hai nói trên”, Khoản 3,
Điều 3 Công ước 103 về bảo vệ thai sản năm 1952 quy định. Thông thường,
các nước sẽ quy định cả thời gian nghỉ cả trước khi sinh và sau khi sinh để
Các bà mẹ ở Pháp có lẽ là những người được hưởng chế độ thai sản ưu
đãi nhất nhì thế giới. Khi sinh nở, phụ nữ Pháp được hưởng 16 tuần nghỉ thai
sản hưởng nguyên lương cho hai con đầu và lên đến 26 tuần cho con thứ ba
trở đi. Thêm vào đó, người mẹ còn được nghỉ phép và bảo lưu việc làm cùng
thu nhập đến 3 năm để ở nhà chăm sóc con, được nhận trợ cấp chăm sóc trẻ
và các trợ cấp khác khá hào phóng. Tất cả những chính sách tuyệt vời này
nhằm thúc đẩy tỷ lệ sinh của Pháp – vốn đang trên đà xuống dốc chung của
các nước Châu Âu.
Ngoài ra, nếu sinh đẻ sau thời điểm đã dự tính, thì trong mọi trường
hợp, thời gian đã nghỉ trước đó sẽ được kéo dài cho tới thời điểm sinh đẻ thực
tế và độ dài thời gian bắt buộc phải nghỉ sau khi sinh đẻ sẽ không được vì thế
17
mà giảm bớt, đảm bảo đủ thời gian đủ thời gian nghỉ sau sinh bắt buộc ít nhất
là 6 tuần. Sở dĩ, các Công ước đều quy định thời gian nghỉ bắt buộc sau sinh ít
nhất là 6 tuần, vì đây là thời gian tối thiểu đảm bảo khả năng phục hồi sức
khỏe cho mẹ và cả trẻ sơ sinh.
Ngoài ra Khuyến nghị 191 - Khuyến nghị về Sửa đổi Khuyến nghị Bảo
vệ thai sản năm 1952 cũng quy định thêm về trường hợp hưởng chế độ của
người cha như sau: “Trong trường hợp người mẹ tử vong trước khi hết thời
gian nghỉ sau sinh thì người cha đang làm việc phải được quyền nghỉ với thời
gian tương đương với thời gian mà người mẹ chưa nghỉ hết; trong trường hợp
người mẹ ốm đau hoặc nằm viện sau khi sinh và trước khi hết thời gian nghỉ
sau khi sinh mà người mẹ không thể chăm sóc được trẻ thì người cha phải
được quyền nghỉ một thời gian tương đương với thời gian nghỉ sau sinh mà
người mẹ chưa nghỉ hết để chăm sóc trẻ theo luật định và thông lệ ở nước đó;
người mẹ hay người cha của trẻ phải có quyền nghỉ chăm sóc con sau khi hết
thời gian nghỉ thai sản”. [57]
1.2.3.2. Mức hưởng chế độ bảo hiểm thai sản
Trợ cấp chế độ thai sản có hai phương thức thực hiện là trợ cấp bằng
tiền và chăm sóc y tế:
- Đối với chăm sóc y tế:
Đối với trường hợp thai nghén, sinh đẻ và các hậu quả của sự kiện này
(nếu có), người lao động nữ sẽ được hưởng trợ cấp y tế về thai sản, trợ giúp
về y tế bao gồm sự chăm sóc trước khi đẻ, trong khi đẻ và sau khi đẻ, do một
người đỡ đẻ có bằng cấp hoặc một thầy thuốc phụ trách và cả việc nằm viện
nếu cần thiết, các dịch vụ hỗ tợ y, dược, khám thử, chăm sóc răng, kể cả giải
phẫu và nằm viện khi cần thiết.
Công ước số 102 - Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội
đã quy định rõ “Chăm sóc y tế phải nhằm bảo toàn, phục hồi hoặc cải thiện
sức khỏe của người phụ nữ được bảo vệ, và cả khả năng làm việc, khả năng
19