Thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo Luật Đất đai 2013 từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ THỊ MINH NGUYỆT

THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG THEO LUẬT
ĐẤT ĐAI 2013 TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ THỊ MINH NGUYỆT

THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG THEO LUẬT
ĐẤT ĐAI 2013 TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 838.01.07


đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh
giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu
tham khảo. Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng
như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích
nguồn gốc.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về
nội dung luận văn của mình.
Tác giả luận văn

Hồ Thị Minh Nguyệt


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THU HỒI ĐẤT
ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG
CỘNG THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013 ...........................................................9
1.1. Lý luận về thu hồi đất để triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
theo Luật Đất đai 2013 ................................................................................................9
1.2. Lợi ích trong quan hệ thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc
gia, công cộng ...........................................................................................................23
1.3. Lý luận pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia,
công cộng ..................................................................................................................25
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG VÀ THỰC
TIỄN THI HÀNH TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỪ KHI LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM
2013 CÓ HIỆU LỰC ĐẾN NAY ............................................................................33
2.1. Thực trạng pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng ...................................................................................33
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi

: Hội đồng nhân dân

GCNQSDĐ

: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

GPMB

: Giải phóng mặt bằng

KT-XH

: Kinh tế - xã hội

NSDĐ

: Người sử dụng đất

QSDĐ

: Quyền sử dụng đất

SDĐ

: Sử dụng đất

TĐC

: Tái định cư


độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở khắp các địa phương, quy mô sản xuất công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch... tăng trưởng rất nhanh, do đó đất đai ngày
càng trở nên có giá trị và thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Để đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có mặt bằng cho các dự án. Muốn tạo ra quỹ
đất, Nhà nước phải thực hiện công tác thu hồi đất.
Trên thực tế, thời gian qua công tác thu hồi đất đã đạt được nhiều kết quả to
lớn, đã tạo ra quỹ đất đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
nhưng đồng thời đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mang tính thời sự nóng bỏng như
an ninh lương thực, đảm bảo an ninh trật tự, an sinh xã hội, sự đồng thuận trong
nhân dân. Bên cạnh đó, việc thu hồi đất cũng để lại những hệ lụy rất lớn, ảnh hưởng
không nhỏ đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Một số phần tử cơ
hội chính trị đã lợi dụng vấn đề khiếu kiện đất đai để kích động chống đối với mục
đích chính trị; việc thu hồi đất có lúc, có nơi không chỉ thiếu công bằng mà còn
thiếu hiệu quả. Nhiều địa phương xảy ra tình trạng lãng phí hàng trăm ha đất được
giải phóng mặt bằng cho các dự án rồi bị bỏ hoang. Hàng năm, số vụ khiếu kiện về
đất đai ngày càng gia tăng, theo thống kê số liệu của ngành thanh tra cho thấy, tình
hình khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai chiếm trên 70% các loại khiếu
kiện, tố cáo. Trong số đó, đa phần là khiếu kiện về giá bồi thường khi nhà nước thu
hồi đất; hầu hết tại các dự án có thu hồi đất đều nảy sinh khiếu kiện.

1


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế bất cập nêu trên, ngoài
trách nhiệm của các cơ quan chức năng, cán bộ có thẩm quyền còn có nguyên nhân
từ sự bất cập trong các quy định pháp luật đất đai hiện hành. Trong thu hồi đất,
người dân luôn ở vào vị trí yếu thế, trong nhiều trường hợp không tự bảo vệ được
quyền lợi của mình. Cơ chế thu hồi đất nói chung và thu hồi đất vì mục đích phát
triển kinh tế - xã hội nói riêng tuy đã được sửa đổi, hoàn thiện nhưng thực tiễn áp
dụng vẫn cho thấy thiếu đồng bộ, bất cập và vẫn đang chứa đựng mâu thuẫn dẫn

thu hẹp, giá trị kinh tế do đất đai mang lại ngày càng cao.
Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần khắc phục những hạn chế, yếu kém
trong công tác thu hồi đất nói chung và thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì
lợi ích quốc gia, công cộng nói riêng trong thời gian tới, đồng thời góp phần hoàn
thiện các quy định của pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi
ích quốc gia, công cộng trên sở đánh giá một cách toàn diện, khách quan cả về lý
luận và thực tiễn, tác giả chọn nghiên cứu đề tài "Thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo Luật Đất đai 2013 từ thực tiễn thị xã Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thu hồi đất nói chung và thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích
quốc gia, công cộng có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn đối với thị xã Điện Bàn
nói riêng và cả nước nói chung, nhất là trong giai đoạn chúng ta đang đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Việc thu hồi đất trực tiếp đụng chạm đến lợi ích người bị thu hồi đất, lợi ích
của nhà nước, lợi ích của chủ đầu tư … nên thời gian qua đã nhận được sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều tác giả. Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy thời gian vừa qua đã
có một số công trình, sách báo pháp lý nghiên cứu về lĩnh vực pháp luật này dưới
khía cạnh lý luận và thực tiễn về các nội dung có liên quan đến luận văn; tiêu biểu
là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Đinh Thị Huê, “Thực hiện pháp luật về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở tỉnh Hà Nam hiện nay”,
Luận văn thạc sĩ năm 2011; Đỗ Quang Dương, “Thực hiện pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất giải phóng mặt bằng ở quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội” Luận văn thạc sĩ (năm 2013); Nguyễn Thị Phương Thảo,
“Pháp luật về bồi thường về đất khi thực hiện các dự án kinh tế và thực tiễn áp dụng

3


tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”, Luận văn thạc sĩ (2012); Nguyễn Văn Diện,
“Pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất”, Luận văn thạc sĩ (năm

định này là một bước tiến lớn, thật sự cần thiết; đòi hỏi phải được tổ chức triển khai
một cách nghiêm túc, có hiệu quả.
Tuy nhiên, thực tế triển khai trong những năm vừa qua thì chính quyền các
cấp vẫn gặp nhiều vướng mắc, pháp luật thực định dường như vẫn chưa định ra
nguyên tắc nhằm giải quyết các vướng mắc trong công tác thu hồi đất mà các chủ
thể thực thi pháp luật phải đối mặt trong giai đoạn hiện nay. Ranh giới giữa đất phát
triển kinh tế, xã hội với đất cho các mục đích kinh doanh khác chưa thực sự có tiêu
chí rõ ràng. Quy trình, thủ tục còn nhiều sai phạm, quá trình tổ chức việc thu hồi đất
còn chưa đảm tính khách quan, dân chủ và công khai, còn gặp nhiều sự bất bình của
người dân có đất bị thu hồi. Nhiều ý kiến trái chiều và hồ nghi về tính công bằng,
bình đẳng về điều tiết lợi ích Nhà nước - nhà đầu tư - người bị thu hồi đất... Với
những vấn đề đặt ra trên đây cho thấy, thu hồi đất nói chung và thu hồi đất cho mục
đích phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng vẫn đang được tiếp tục
tranh luận và có nhiều quan điểm khác nhau cần được đào sâu nghiên cứu về vấn đề
này. Đó cũng là lý do em chọn đề tài: "Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi
ích quốc gia, công cộng". Qua sự nghiên cứu này, tác giả khẳng định rằng, đề tài do
học viên lựa chọn là một vấn đề có tính thời sự, tính khoa học và tính thực tiễn cao.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích đánh giá thực trạng về công tác thu hồi đất, những bất cập và
nguyên nhân, làm sáng tỏ những vấn đề thực tiễn và lý luận đang đặt ra, đề xuất giải
pháp để hoàn thiện pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích
quốc gia, công cộng theo Điều 62 Luật Đất đai 2013 trong thời gian tới một cách
hiệu quả, đảm bảo hài hòa lợi ích của người sử dụng đất, Nhà nước và chủ đầu tư.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm
vụ sau:
- Hệ thống hóa làm rõ cơ sở pháp lý của thu hồi đất theo Điều 62 Luật Đất đai
2013; yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay đối với công tác này.
- Phân tích, đánh giá và luận giải thực trạng pháp luật về thu hồi đất để phát



6


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử Mác – Lênin.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, bình luận, so sánh… được sử dụng trong Chương 1
tìm hiểu về một số vấn đề lý luận về Pháp luật thu hồi đất vì mục đích phát triển
kinh tế;
- Phương pháp đánh giá, đối chiếu, diễn giải, tổng hợp, quy nạp... được sử
dụng tại Chương 2 và Chương 3 để tìm hiểu về pháp luật thu hồi đất để phát triển
kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng ở Việt Nam hiện nay, đề xuất các
giải pháp hoàn thiện pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích
quốc gia, công cộng.
Đồng thời, tác giải kết hợp lý luận và thực tiễn, đối chiếu để làm nổi bật
những vấn đề hiện tại với nội dung các quy định pháp luật được nghiên cứu. Việc
kết hợp các phương pháp nghiên cứu, xem xét các vấn đề lý luận gắn với thực tiễn
cho phép nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách toàn diện, khách quan, biện chứng
trong các mối quan hệ qua lại, gắn bó, tác động với nhau trong những hoàn cảnh,
điều kiện cụ thể nhất định đối với vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Làm rõ mối quan hệ, lợi ích trong việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội
vì mục đích quốc gia, công cộng theo Luật Đất đai năm 2013. Nhận diện, phân tích
những bất cập của quy định trong Luật Đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên
quan. Từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật đất đai về cơ chế thu
hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng, đảm bảo
quyền lợi cho các bên có liên quan đến việc thu hồi đất. Đồng thời, góp phần xây dựng

1.1.1. Khái niệm chung về thu hồi đất
1.1.1.1. Khái niệm thu hồi đất
Để làm cơ sở cho việc tìm hiểu khái niệm về thu hồi đất, trước hết ta phải
biết thế nào là thu hồi. Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông định nghĩa: “Thu hồi là
việc thu về lại, lấy lại cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ
khác” [18].
Thu hồi đất được quy định ngay từ trước khi chế độ sở hữu toàn dân đối với
toàn bộ đất đai được xác lập. Luật Đất đai qua các thời kỳ, kể từ khi Hiến pháp
1980 được ban hành đến nay đều quy định về hoạt động thu hồi đất như là một công
cụ quản lý nhà nước và cũng nhằm để thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của nhà
nước đối với đất đai. Trong điều kiện kinh tế thị trường, thu hồi đất còn được xem
như là một khâu của quá trình điều phối đất đai. Cùng với quá trình phát triển của
pháp luật đất đai, chế định thu hồi đất cũng dần được hoàn thiện.
Mặc dù được quy định và áp dụng từ khá lâu nhưng mãi đến khi Luật Đất
đai 2003, thu hồi đất mới được định nghĩa chính thức:“Thu hồi đất là việc Nhà
nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao
cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định
của Luật này”. Khái niệm này cho thấy, phạm vi, giới hạn và mục đích của việc thu
hồi đất của Nhà nước đối với người sử dụng đất không được rõ ràng, theo đó, chúng
thể hiện quyền lực của Nhà nước là quá lớn trong việc thu hồi đất, không chế định
rõ được trong trường hợp nào Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho lợi ích của nhà

9


nước, khi nào Nhà nước thu hồi đất mà nguyên nhân do lỗi của người sử dụng đất
gây ra hoặc những nguyên nhân khách quan khác. Do vậy, sự tùy tiện, sự lạm quyền
trong việc thu hồi đất là rất dễ xảy ra.
Khắc phục tình trạng trên, Luật Đất đai 2013 đưa ra khái niệm: “Nhà nước
thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được


hành từ trước cho người bị thu hồi. Tất cả các quyền, nghĩa vụ phát sinh của chủ thể
sử dụng đất đã được ghi nhận sau khi được giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền
sử dụng đất cũng chính thức chấm dứt kể từ thời điểm có quyết định thu hồi đất.
Với những hệ quả pháp lý nêu trên, thu hồi đất có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, thu hồi đất phải do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành bằng
quyết định hành chính. Trong đó, xác định rõ chủ thể bị thu hồi, lý do thu hồi, diện
tích thu hồi, mục đích thu hồi. Đây là căn cứ làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất
đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất. Đây cũng là cơ sở để xác định giới hạn
trách nhiệm của Nhà nước đối với người có đất bị thu hồi ở mỗi trường hợp cụ thể.
Cùng với đó, quyết định thu hồi đất cũng là cơ sở để xác định thời điểm Nhà nước
cần phải bù đắp những tổn thất về lợi ích cho người sử dụng đất trong trường hợp
Nhà nước thu hồi đất sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, xã
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Trong trường hợp thu hồi đất do các lỗi sai phạm
của người sử dụng đất gây ra trong quá trình sử dụng đất thì quyết định thu hồi đất là
cơ sở để người sử dụng chấp hành, thực hiện việc trả lại đất cho Nhà nước.
Hai là, thu hồi đất được thực hiện theo trình tự thủ tục nhất định. Hệ quả
pháp lý của quyết định thu hồi đất như đã phân tích ở trên là chấm dứt quyền và lợi
ích của những người đang trực tiếp khai thác và sử dụng đất. Vì vậy, để đảm bảo
việc thu hồi đất là có cơ sở, có căn cứ chính đáng, tránh sự tùy tiện, lạm quyền từ
phía Nhà nước trong những trường hợp thu hồi đất vì mục tiêu phát triển kinh tế,
đồng thời, đảm bảo việc thực thi pháp luật trên thực tế về thu hồi đất được thực hiện
một cách ổn định, trật tự, có kế hoạch cụ thể, đảm bảo tính khách quan, công bằng,
dân chủ và chính xác, minh bạch và công khai thì sự cần thiết phải tuân thủ nghiêm
minh quy trình và thủ tục theo quy định của pháp luật.
Ba là, tính hành chính mệnh lệnh, bắt buộc thực hiện giữa một bên là Nhà
nước và bên kia là người chiếm giữ, quản lý sử dụng đất từng diện tích đất cụ thể.
Phương pháp mệnh lệnh là phương pháp được dùng chính trong mọi trường hợp thu
hồi đất. Đây là quan hệ giữa hai chủ thể không có sự bình đẳng về mặt pháp lý: Một
bên là người sử dụng đất và một bên là Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh phương

bảo vệ quốc phòng, an ninh trong tình trạng chiến tranh hoặc phòng tránh thiên tai
trong trường hợp khẩn cấp.

13


Về chuyển giao quyền sử dụng: Với thu hồi đất, đó là sự chấm dứt hoàn toàn
quyền sử dụng đất cả về mặt pháp lý và thực tế của một chủ thể sử dụng đất đối với
một diện tích đất nhất định, để xác lập quyền sử dụng đất đó cho một chủ thể mới.
Song, trưng dụng đất là sự chấm dứt tạm thời về mặt thực tế quyền quản lý, khai
thác và sử dụng đất trong một khoảng thời gian nhất định. Hết thời hạn cần trưng
dụng, quyền sử dụng đất lại khôi phục cho chủ thể ban đầu.
Về bồi thường: Thu hồi đất thì có trường hợp được bồi thường, có trường hợp
không được bồi thường; trong trường hợp được bồi thường thì giá trị của bồi
thường được tính trên cơ sở giá trị của diện tích đất bị thu hồi tại thời điểm có quyết
định thu hồi đất. Song, đối với trường hợp trưng dụng đất, chỉ được bồi thường khi
có thiệt hại xảy ra và thiệt hại đó được tính trong khoảng thời gian Nhà nước trung
dụng đất mà thôi.
Về hậu quả pháp lý: Thu hồi đất làm chấm dứt quyền của người sử dụng đất;
trưng dụng đất chỉ làm chấm dứt tạm thời quyền của người sử dụng đất. Khi kết
thúc thời hạn trưng dụng, cơ quan trưng dụng sẽ trả lại quyền sử dụng cho người sử
dụng đất.
1.1.1.3. Cơ sở và sự cần thiết khách quan của việc thu hồi đất
Thu hồi đất dựa trên cơ sở và sự cần thiết khách quan sau đây:
Thứ nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước với vai
trò là chủ sở hữu đại diện và thống nhất quản lý
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu,
chế độ sở hữu này được xây dựng dựa trên những nền tảng lý luận khá vững chắc
và cơ sở thực tiễn phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đất nước ta. Điều này đã trở
thành nguyên tắc cơ bản nhất của quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp LĐĐ từ

thu hồi đất. Vấn đề đặt ra là, Nhà nước được thu hồi đất trong những trường hợp
nào và Nhà nước phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc thu hồi đất ra sao, điều
này cần có sự ghi nhận chặt chẽ và rõ ràng trong pháp luật đất đai.
Thứ hai, chức năng quản lý nhà nước về đất đai
Các quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm:
quan hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về phân phối các sản
phẩm do sử dụng đất mà có.
Khi nghiên cứu về quan hệ đất đai, ta thấy có các quyền năng của sở hữu nhà

15


nước về đất đai bao gồm: Quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền
định đoạt đất đai. Các quyền năng này được Nhà nước thực hiện trực tiếp bằng việc
xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất đai. Nhà nước không trực tiếp
thực hiện các quyền năng này mà thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do Nhà
nước thành lập ra và thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo những quy
định và theo sự giám sát của Nhà nước. Hoạt động trên thực tế của các cơ quan nhà
nước nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà nước về đất đai rất phong phú và
đa dạng, bao gồm: hoạt động nắm chắc tình hình đất đai, phân phối và phân phối lại
đất đai và thanh tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất. Trong các hoạt động
đó, hoạt động phân phối và phân phối lại đất đai là hoạt động cơ bản, diễn ra thường
xuyên nhất. Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai theo quy
hoạch và kế hoạch chung thống nhất. Trong quá trình phát triển của đất nước, ở
từng giai đoạn cụ thể, nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành, các cơ quan, tổ chức
cũng khác nhau, Nhà nước với vai trò chủ quản lý đất đai thực hiện phân phối đất
đai cho các chủ sử dụng; theo quá trình phát triển của xã hội, Nhà nước còn thực
hiện phân phối lại quỹ đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Để
thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai, Nhà nước đã thực hiện việc
chuyển giao quyền sử dụng đất giữa các chủ thể khác nhau, thực hiện việc điều

chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lí, cân bằng.
Thứ năm, đảm bảo tính pháp chế trong quản lý và sử dụng đất đai. Chính
sách đất đai có thực sự đảm bảo sự hài hòa về quyền và lợi ích giữa Nhà nước, nhà
đầu tư và người sử dụng đất hay không, có đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa
các chủ thể sử dụng đất hay không, đất đai được trao cho các chủ thể có đảm bảo
được khai thác và sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích hay không... thì đòi hỏi
khách quan là các chủ thể được trao quyền sử dụng đất phải tuân thủ tuyệt đối các
nghĩa vụ của mình trong quá trình sử dụng đất. Sự tuân thủ này mới là điều kiện, là
cơ sở để Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong quá trình
sử dụng đất. Ngược lại, bất kỳ một hành vi nào không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng các nghĩa vụ của người sử dụng đất đều là những hành vi trái pháp luật,
không tôn trọng pháp chế xã hội chủ nghĩa, theo đó, nguy cơ mất quyền sử dụng đất
là khó tránh khỏi. Theo đó, quyết định thu hồi đất còn hướng tới nhằm đảm bảo tính
pháp chế trong quản lý và sử dụng đất đai [20].

17


1.1.1.4. Nguyên tắc thu hồi đất
Các nguyên tắc thu hồi đất cũng là một trong các nội dung nhằm đảm bảo
cho việc thu hồi đất được thực hiện đúng pháp luật, nghiêm minh và hướng tới bảo
vệ lợi ích nhà nước, của người có đất bị thu hồi và lợi ích chung của xã hội. Với
mục đích trên, thu hồi đất được thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất: Về hình thức, thu hồi đất là hành vi hành chính do cơ
quan nhà nước thực hiện thông qua hình thức ban hành văn bản hành chính. Vì vậy,
thu hồi đất trong mọi trường hợp đều mang tính quyền lực nhà nước và chỉ có thể
thực hiện bởi một cơ quan nhà nước do pháp luật quy định, không được phép uỷ
quyền.
Nguyên tắc thứ hai: Về nội dung, thu hồi đất phải được thực hiện dựa trên
lợi ích chung, lợi ích công cộng. Ngoài căn cứ vi phạm pháp luật đất đai hay việc

công cộng
Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng ngoài
các đặc điểm như thu hồi đất nói chung bắt buộc thì nó còn có một số đặc điểm
riêng như sau:
Thứ nhất, phạm vi thu hồi đất tương đối hẹp, chỉ được thực hiện đối với các
loại dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, các dự án
do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư và các dự án do HĐND cấp
tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư. Đây là đặc điểm quan trọng cho phép phân định
phạm vi và giới hạn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc ra các quyết
định hành chính thu hồi đất sao cho đảm bảo điều tiết đất đai một cách có hiệu quả
nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
phục vụ tốt hơn các lợi ích công cộng chung của xã hội. Đồng thời, đặc điểm này
cũng cho phép phân biệt các quyết định thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư,
kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau mà không thuộc trường hợp nêu trên. Điều này
là cơ sở quan trọng để xác định cơ chế thu hồi đất, cơ chế bồi thường và giải phóng
mặt bằng.
Thứ hai, thu hồi đất phải dựa trên kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp
huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tiến độ sử dụng đất
thực hiện dự án. Đây là đặc điểm có ý nghĩa quan trọng nhằm hạn chế sự tùy tiện và
lạm quyền thu hồi đất một cách tràn lan trên thực tế của cán bộ có thẩm quyền, ngăn

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status