PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Một trong những chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát là hoạt động
kiểm sát điều tra các loại tội phạm được quy định tại Hiến pháp 2013 sửa đổi
bổ sung và Bộ luật Tố tụng hình sự. Công tác kiểm sát điều tra có vai trò, ý
nghĩa rất quan trọng trong cả quá trình tiến hành tố tụng hình sự, nhằm đảm
bảo cho quá trình chứng minh tội phạm và người phạm tội được Cơ quan điều
tra thực hiện khách quan, toàn diện và đầy đủ, đồng thời đáp ứng mục đích
chung của tố tụng hình sự là nhằm góp phần bảo đảm pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất (Hiến pháp tr57).
Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Viện kiểm sát thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự,
nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”.
Nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình
mới Chỉ thị số 06/CT–VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân nhân tối cao xác định: “Viện kiểm sát các cấp chủ động phối hợp
chặt chẽ với cơ quan điều tra ngay từ khi phát hiện tội phạm và trong suốt
quá trình điều tra; giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc phát sinh;
phát hiện và yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục những thiếu xót, vi phạm;
đảm bảo việc xử lý vụ án có căn cứ, đúng pháp luật”.
Kiểm sát điều tra các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma túy là một trong những công tác đòi hỏi nhiều tập trung và chú trọng của
Viện kiểm sát. Vì từ thực tiễn Việt Nam cho thấy, tội phạm ma túy không
những không thuyên giảm mà còn có diễn biến hết sức phức tạp, có chiều
hướng gia tăng về số vụ, số người phạm tội, với tính chất, mức độ, thủ đoạn
1
phạm tội ngày càng nguy hiểm và hậu quả gây ra ngày càng nghiêm trọng, đặt
phạm. Nhận thấy việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn đối với công tác kiểm
sát điều tra các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy để qua
đó có thể xác định chính xác thực trạng, tìm ra được những nguyên nhân, giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của hoạt động kiểm sát điều tra, góp
phần thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ mà pháp luật đã trao cho ngành Kiểm
sát nhân dân. Nắm chắc những đặc điểm của các tội phạm này không chỉ giúp
cho các các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có phương
pháp phù hợp trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự vào việc
điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về ma tuý, mà còn có tác dụng vận động
nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý trong tình
hình hiện nay, góp phần chặn đứng và đẩy lùi tệ nạn này. Đó là lý do cơ bản
làm cơ sở cho tác giả chọn đề tài: “Kiểm sát điều tra các tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trước đây tại một số trường đại học trong nước cũng đã có một vài
công trình nghiên cứu ở bậc thạc sĩ về các đề tài liên quan đến tổ chức, hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự như đề tài về: Thực
hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân; Chức năng pháp lý của Viện
kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự; Mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và
Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự; Chức năng của Viện kiểm sát
nhân dân trong giai đoạn xét xử… Đồng thời cũng có nhiều bài viết về chức
năng kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trong các vụ án hình sự nói
chung và trong các vụ án ma túy nói riêng được đăng trên các tạp chí chuyên
ngành như: Tạp chí kiểm sát; Tạp chí pháp luật; Tạp chí Toà án của một số tác
giả.
3
Tại Học viện Khoa học xã hội cũng có một vài luận văn cao học nghiên
Luận văn nghiên cứu về hoạt động kiểm sát điều tra các tội tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trong phạm vi là các hoạt động
kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân đối với hoạt động điều tra vụ án hình sự
về ma tuý do Cơ quan cảnh sát điều tra của lực lượng Công an nhân dân tiến
hành. Địa bàn luận văn nghiên cứu là thành phố Hồ Chí Minh với những đặc
điểm riêng của nó như: một trung tâm kinh tế, văn hóa lớn của cả nước,
nhưng cũng là một điểm nóng của tội phạm với những đặc điểm riêng. Thông
qua việc nghiên cứu có thể khái quát ở mức độ nhất định đặc điểm chung của
hoạt động kiểm sát điều tra tại nước ta hiện nay. Thời gian nghiên cứu của
luận văn được giới hạn từ năm 2011 – 2015 nhằm đảm bảo tính thời sự, giá trị
thực tiễn cho kết quả nghiên cứu của luận văn.
5. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; Tư
tưởng Hồ Chí Minh; Các quan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật Hình sự,
Tố tụng hình sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về nhiệm
vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta trong giai đoạn hiện nay làm
cơ sở nghiên cứu. Mặt khác, luận văn còn sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu khoa học khác hiện nay như phương pháp thống kê, phân tích, so
sánh nhằm làm sáng tỏ các vấn đề về lý luận và thực tiễn của đề tài.
6. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Kết quả nghiên cứu của luận văn đề tài: “Kiểm sát điều tra các tội tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” sẽ làm rõ được những cơ
sở khoa học, cơ sở lý luận của hoạt động kiểm sát điều tra các tội tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy; thông qua đó để đánh giá thực
trạng của hoạt động này trong tực tiễn thành phố Hồ Chí Minh để có thể đề
5
xuất những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện về quy định của Bộ luật Tố tụng
cách khác là trạng thái phụ thuộc vào thuốc” [Nguyễn Xuân Yêm, Trần Văn
Luyện - Hiểm hoạ ma tuý và cuộc chiến mới - NXB CAND - Hà Nội/2001,
tr.30]. Tác giả khác nhấn mạnh hơn về khả năng dễ bị lạm dụng của ma túy
đối với người sử dụng: “Chất ma túy là chất có độc tính gây nghiện, có khả
năng bị lạm dụng, sự nghiện ngập chính là biểu hiện của trạng thái bị ngộ độc
mãn tính do các chất ma túy gây nên cho người sử dụng chúng”, “Nếu lạm
dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại
cho người sử dụng, cho gia đình và cộng đồng”. Các định nghĩa này chỉ mới
nêu được một thuộc tính đặc thù của ma túy là hệ quả việc sử dụng ma túy sau
một thời gian: đó là người sử dụng ma túy sẽ bị lệ thuộc vào ma túy hay khả
năng dễ bị lạm dụng của bản thân người sử dụng, nhưng ma túy là gì thì chưa
được làm rõ.
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã được Tổ chức
Văn hoá giáo dục của Liên hiệp quốc công nhận thì “Ma tuý là chất khi đưa
vào cơ thể sẽ làm thay đổi chức năng của cơ thể”, Tổ chức Y tế thế giới đã
phát triển định nghĩa sau: “Ma tuý theo nghĩa rộng nhất là mọi thực thể hoá
học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái được đòi hỏi
để duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến
đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật”. Trong cách hiểu đơn
giản, điều đó có nghĩa là mọi vật chất khi đưa vào trong cơ thể người sẽ thay
đổi chức năng sinh lý học hoặc tâm lý học ngoại trừ thực phẩm, nước và ôxy.
Cho đến nay, trên thế giới không có một khái niệm thống nhất về “ma túy”
(drugs) hay “chất ma túy” (narcotic drugs). Công ước thống nhất về các chất
ma túy năm 1961 không đưa ra khái niệm “chất ma túy” mà thay vào đó áp
dụng phương pháp liệt kê để xác định trực tiếp danh mục các chất ma túy bị
kiểm soát. Về khoa học pháp lý, chất ma túy là những chất được quy định
7
trong các công ước quốc tế về kiểm soát ma túy như Công ước thống nhất về
(Phòng chống ma túy trong nhà trường, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội năm
1997, tr.121) nhưng trong luật pháp Việt Nam cụm từ “chất ma túy” xuất hiện
khá muộn. Mãi sau khi đất nước thống nhất, vẫn chỉ duy nhất thuốc phiện bị
đặt dưới sự kiểm soát, các chất ma túy khác như cần sa, cocain vẫn chưa được
pháp luật điều chỉnh. Cụm từ “chất ma túy” chỉ được chính thức sử dụng lần
đầu tiên trong pháp luật Việt Nam tại Bộ luật Hình sự năm 1985 với việc quy
định tội danh “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” (Điều 203). Sau khi
được Bộ luật Hình sự năm 1985 sử dụng, cụm từ này tiếp tục được dùng rộng
rãi trong các văn bản pháp luật khác như Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm
1989, Nghị định số 141/HĐBT năm 1991 về xử phạt vi phạm hành chính. Tuy
nhiên, điều đáng chú ý là trong các văn bản pháp luật này, cụm từ “chất ma
túy” không được định nghĩa. Để tháo gỡ các vướng mắc trong việc thi hành
Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa
án nhân dân tối cao đã ban hành một số thông tư hướng dẫn; nhưng các thông
tư này cũng không đưa ra khái niệm “chất ma túy” mà áp dụng biện pháp liệt
kê để chỉ ra các chất thuộc phạm vi điều chỉnh của luật pháp. Điều đáng tiếc
là các chất ma túy được liệt kê trong các văn bản này thiếu khoa học và không
đầy đủ nên phải liên tục bổ sung.
Việt Nam chính thức tham gia cả 3 công ước quốc tế về kiểm soát ma
túy và ban hành Luật phòng, chống ma túy năm 2000. Năm 2001, Nghị định
67/CP quy định số danh mục chất ma túy cần kiểm soát ở Việt Nam gồm 249
chất, trong đó có 227 chất ma túy và 22 tiền chất, được chia làm 4 loại (4
bảng) với mức độ gây nghiện khác nhau và chế độ quản lý, kiểm soát cũng
khác nhau. Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 đánh dấu một bước tiến rõ
nét trong pháp luật Việt Nam về phòng, chống ma túy nói chung và khái niệm
“chất ma túy” nói riêng. Lần đầu tiên khái niệm “chất ma túy” và các khái
9
niệm liên quan, như “tiền chất”, “chất gây nghiện”, “chất hướng thần”, “thuốc
các chất ma túy khác ở thể rắn.
Từ các khái niệm trên có thể đưa ra khái niệm: “Ma túy là các chất có
nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể con người, nó có
tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó. Nếu lạm
dụng ma túy con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại
cho người sử dụng và cộng đồng.”
Do là chất gây nghiện nguy hiểm nên nhà nước độc quyền và thống
nhất quản lý các chất ma túy với những quy định rất nghiêm ngặt. Vi phạm
các quy định thuộc chế độ quản lý các chất ma túy không chỉ gây khó khăn
cho việc kiểm soát chất ma túy của nhà nước mà còn góp phần tạo ra một lớp
người nghiện, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe
và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều
mặt của đời sống xã hội.
1.1.2. Khái niệm các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy
Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (gọi tắt là
BLHS 1999), nội dung của chương XVIII cho thấy các nhà lập pháp Việt
Nam về cơ bản đã tiếp thu tinh thần của Điều 3 Công ước 1988. Tuy nhiên
cũng có một số khác biệt nhất định. Chẳng hạn, hành vi chuyển đổi hoặc
chuyển giao tài sản thu được từ hành vi phạm tội về ma tuý không được quy
định trong chương XVIII của BLHS 1999. Ở khía cạnh thực tiễn, việc phân
loại tội phạm của BLHS 1999 làm xuất hiện những yêu cầu nhất định đối với
tổ chức, hoạt động của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, nhằm đáp ứng yêu
cầu chuyên môn hoá, đạt hiệu quả cao trong quá trình hoạt động TTHS đối
với từng loại tội phạm. Sự tồn tại của các nhóm tội khác nhau trong BLHS
1999 đòi hỏi khách quan phải có sự khác nhau về cách thức tổ chức, hoạt
11
động của các cơ quan có nhiệm vụ điều tra, truy tố tội phạm để có thể thực
dưới một trăm gam;
n) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai
trăm năm mươi mililít;
o) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương
đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm g
đến điểm n khoản 2 Điều này;
p) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
mười lăm năm đến hai mươi năm:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ một
kilôgam đến dưới năm kilôgam;
b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một
trăm gam;
c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ hai mươi
lăm kilôgam đến dưới bảy mươi lăm kilôgam;
d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ hai trăm kilôgam đến dưới
sáu trăm kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới
một trăm năm mươi kilôgam;
e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến
dưới ba trăm gam;
g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililít đến
dưới bảy trăm năm mươi mililít;
h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương
đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a
đến điểm g khoản 3 Điều này.
13
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai
đức, sức khỏe của con người”.
Đối với các vụ án vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý với quy
mô lớn, thường được người phạm tội tổ chức rất chặt chẽ thành những đường
dây xuyên quốc gia, thậm chí từ nước ngoài vào Việt Nam nhưng lại không
được tổ chức như các vụ án có tổ chức khác, không có người cầm đầu, chỉ
huy mọi hoạt động của các đồng phạm khác, có vụ có rất đông người tham gia
vào đường dây vận chuyển, mua bán ma tuý nhưng thông thường chỉ người
thứ nhất biết người thứ hai chứ không biết người thứ ba. Cũng chính vì đặc
điểm này mà việc điều tra, khám phá các đường dây ma tuý rất khó khăn,
không ít những vụ án sau khi xét xử mới phát hiện trong đường dây vận
chuyển, mua bán ma tuý còn có nhiều người phạm tội khác, cá biệt có trường
hợp trước khi thi hành án tử hình người bị kết án tử hình mới khai ra đồng
phạm.
Một đặc điểm thường thấy trong các vụ án ma tuý lớn, người phạm tội
thường móc nối với một số cán bộ trong các lực lượng chống ma tuý để vận
chuyển, mua bán ma tuý trót lọt khó bị phát hiện và nếu có bị phát hiện thì
chúng hy vọng sự bao che của các lực lượng này.
Đối với những hành vi mua bán có tính chất tiêu thụ, người phạm tội
thường chia ma tuý thành những gói nhỏ (tép, chỉ...) mỗi gói là một liều để
bán cho các con nghiện. Việc tổ chức tiêu thụ ma tuý cũng rất tinh vi, chúng
thường sử dụng những địa điểm thuận lợi, có phân công người canh gác, khi
các lực lượng chống ma tuý phát hiện thì chúng tẩu thoát dễ dàng.
Thực tiễn đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma tuý trong thời
gian qua còn cho thấy: Người có hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma tuý ít khi bị bắt quả tang, nếu có bị bắt quả tang cũng chỉ bị bắt
với trọng lượng chất ma tuý rất ít, còn chủ yếu là bắt được người sử dụng ma
15
tuý và từ lời khai của người sử dụng ma tuý nên cơ quan điều tra mới xác
danh mục các chất ma tuý và tiền chất; Nghị định số 163/2007/NĐ–CP ngày
12/11/2007 của Chính phủ về sửa tên, bổ sung, chuyển loại một số chất thuộc
danh mục các chất ma tuý; Nghị định số 17/2011/NĐ–CP ngày 22/02/2011
của Chính phủ về sửa tên, bổ sung, chuyển loại một số chất thuộc danh mục
các chất ma tuý và tiền chất ma tuý.
Căn cứ vào nguồn gốc các chất ma túy có thể được chia ra làm hai dạng
là: Chất ma túy có nguồn gốc tự nhiên như: chiết xuất từ cần sa, anh túc… và
chất ma túy được tổng hợp từ hóa chất như các loại ma túy tổng hợp Katemin,
Metaphetamine… Theo quy định của Bộ luật hình sự thì chất ma túy có các
dạng sau: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côca (cô đặc cây côca); Heroin
(tinh chế từ nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa), cocain (tinh chất từ cao côca);
Lá, hoa, quả cây cần sa, lá cây côca, quả thuốc phiện khô hoặc tươi; Các chất
ma túy khác ở thể rắn (viên nén, viên con nhộng); Các chất ma túy khác ở thể
lỏng. Đối với các chất ma túy này bao giờ cũng phải có kết luận giám định
của cơ quan có thẩm quyền, mà thông thường là kết luận giám định của phòng
khoa học hình sự Công an tỉnh, thành phố, với định lượng đối với từng loại để
truy cứu trách nhiệm hình sự.
1.1.3.2. Chủ thể của tội phạm
Cũng như chủ thể của các tội phạm khác, chủ thể của tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy cũng phải đảm bảo các yếu tố (điều
kiện) cần và đủ như: độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại các
Điều 12, 13 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma túy, chỉ những người sau đây mới có thể là chủ thể của
tội phạm này:
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy quy định tại
17
khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự, vì khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là tội
cứ nơi nào như: Trong nhà ở; phòng làm việc; trụ sở cơ quan, tổ chức;
phương tiện giao thông; trong túi quần áo, túi xách... mà không nhằm mục
đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma tuý khác hoặc vận chuyển từ này
đến nơi khác.
Thực tiễn cho thấy, nhiều trường hợp người phạm tội cất giấu ma tuý
trên phương tiện giao thông nhưng lại không có mục đích vận chuyển từ nơi
này đến nơi khác, mặc dù trên thực tế phương tiện giao thông đó di chuyển từ
nơi này đến nơi khác thì người phạm tội vẫn chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội vận chuyển trái phép chất ma tuý. Ngược lại, có trường hợp chất ma
tuý được cất giấu một nơi cố định, nhưng người phạm tội vẫn bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Thời gian cất giữ dài hay ngắn không có ý nghĩa xác định người phạm
tội có tàng trữ trái phép chất ma tuý hay không. Có nhiều trường hợp khó xác
định người phạm tội có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý hay không, bởi
lẽ đặc điểm chung của các tội phạm về ma tuý là người phạm tội không bao
giờ chịu nhận hành vi thật của mình nếu cơ quan tiến hành tố tụng không có
bằng chứng. Nếu chỉ căn cứ vào nơi cất giấu ma tuý thì dễ cho rằng người
phạm tội không có hành vi tàng trữ, nhưng nếu căn cứ vào các tình tiết khác
của vụ án thì vẫn xác định được hành vi tàng trữ của người phạm tội.
Nếu tàng trữ trái phép chất ma tuý cho người khác mà biết rõ người này
mua bán trái phép chất ma tuý đó thì hành vi cất giữ ma tuý không phải là
hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà là hành vi giúp sức người mua bán
trái phép chất ma tuý và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái
phép chất ma tuý với vai trò đồng phạm. Tuy nhiên, hành vi mua bán, vận
chuyển đã được quy định trong cùng một điều luật nên việc xác định chính
19
xác hành vi tàng trữ, hành vi vận chuyển hay hành vi mua bán chỉ có ý nghĩa
tuý bao giờ cũng nặng hơn hành vi tàng trữ nên thực tiễn có không ít trường
hợp người phạm tội bị bắt quả tang tàng trữ ma tuý, mặc dù người phạm tội
đang định mua bán trái phép chất ma tuý đó nhưng chỉ nhận là mình tàng trữ,
thậm chí còn không nhận biết đó là chất ma tuý. Nếu không căn cứ vào các
chứng cứ khác thì khó có thể xác định người phạm tội tàng trữ, vận chuyển
hay mua bán trái phép chất ma tuý.
* Hành vi vận chuyển:
Hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý là hành vi chuyển dịch bất
hợp pháp chất ma tuý từ nơi này đến nơi khác, từ vị trí này sang vị trí khác, từ
người này sang người khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác... bằng bất kỳ
phương thức nào (trừ hình thức chiếm đoạt), nhưng đều không nhằm mục
đích mua bán.
Như vậy, khái niệm vận chuyển trái phép chất ma tuý được dùng ở đây
có nội hàm rộng hơn khái niệm vận chuyển hàng hoá thông thường. Vận
chuyển trái phép chất ma tuý có thể giống với vận chuyển hàng hoá từ nơi này
đến nơi khác có một cự ly nhất định như: dùng ôtô, xe đạp, xe máy, tàu thuỷ,
máy bay... nhưng cũng có thể chỉ là hành vi chuyển dịch từ vị trí này sang vị
trí khác trong một không gian chật hẹp như từ gầm giường sang giá sách, từ
túi người này sang túi người khác trong một phòng, thậm chí từ túi này sang
túi khác của cùng một người. Ví dụ: A là bạn của B, trong lúc A đang ở nhà B
chơi thì bị Công an đến khám nhà B, B nhờ A cất dùm mấy gói Hêrôin vào túi
quần, sau đó A giả vờ xin phép đi về thì bị Công an khám xét thu giữ ma túy
trong người A. Hành vi của A, nếu chỉ căn cứ vào không gian, địa điểm thì dễ
cho rằng A chỉ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nhưng nếu căn cứ
vào mục đích cũng như hành vi cụ thể của A thì hành vi của A là hành vi vận
chuyển trái phép chất ma tuý.
21
Nếu vận chuyển ma tuý hộ cho người khác mà biết rõ mục đích mua
lượng ma tuý lớn thì cho dù người phạm tội có lấy lý do rằng mua để dùng thì
việc xác định mục đích bán ma tuý đối với người phạm tội đơn giản hơn;
không ai mua hàng kilôgam thuốc phiện hay 100 gam Hêrôin để sử dụng dần.
Xin chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác là bằng lời nói
hoặc hành động để người khác cho mình chất ma tuý rồi dùng chất ma tuý đó
đem bán cho người khác lấy tiền hoặc tài sản. Việc xin chất ma tuý nhằm bán
lại cho người khác trong thực tế rất ít xảy ra, nhưng trong một số trường hợp
vẫn có thể xảy ra. Nếu xin được ma tuý mà bán ngay cho người khác thì hành
vi của người phạm tội là hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, nhưng nếu
xin được chất ma tuý rồi đem cất giữ sau đó mới bán cho người khác thì phải
định tội là tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý.
Tàng trữ chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác là hành vi cất
giữ trái phép chất ma tuý sau đó đem bán chất ma tuý đó cho người khác.
Hành vi tàng trữ chất ma tuý hoàn toàn giống như hành vi tàng trữ trái phép
chất ma tuý đã nêu ở trên, chỉ khác ở chỗ nếu chỉ tàng trữ mà không đem bán
hoặc không chứng minh được mục đích nhằm bán trái phép chất ma tuý đó thì
người phạm tội chỉ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý còn nếu đem bán
chất ma tuý đó hoặc chứng minh được người phạm tội có mục đích nhằm bán
trái phép chất ma tuý đó thì phạm tội tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý.
Vận chuyển chất ma tuý để bán trái phép cho người khác cũng giống
như hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý như đã giới thiệu ở trên, chỉ
khác hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý ở chỗ người phạm tội không
chỉ vận chuyển mà còn bán chất ma tuý mà mình vận chuyển cho người khác.
Việc chứng minh người phạm tội có mục đích bán chất ma tuý mà mình vận
chuyển cho người khác hay không thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến
hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
23
Nếu không chứng minh được người phạm tội có mục đích bán chất ma
Hậu quả của các tội phạm về ma tuý nói chung và hậu quả của tội tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý nói riêng không phải là yếu tố
bắt buộc để định tội. Những thiệt hại do hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma tuý gây ra cho xã hội chính là những thiệt hại phi vật
chất (chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý).
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nếu hành vi tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma tuý lại gây ra những thiệt hại về tính mạng, sức
khoẻ, nhân phẩm, danh dự hoặc thiệt hại về tài sản thì người phạm tội còn bị
truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh tương ứng với những thiệt hại
mà mình gây ra. Đây cũng là đặc điểm khác với hành vi quy định tại Chương
các tội xâm phạm sở hữu (Chương XIV). Đối với các tội xâm phạm sở hữu
hậu quả có thể là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt tùy từng trường
hợp cụ thể.
Số lượng chất ma tuý mà người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma tuý cũng được coi là hậu quả của tội phạm nhưng hậu quả
này chỉ là những thiệt hại gián tiếp cho xã hội và đã là yếu tố định tội hoặc
định khung hình phạt, số lượng càng lớn thì thiệt hại cho xã hội càng nhiều và
người phạm tội bị phạt càng nặng.
1.1.4. Đặc điểm xã hội của các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy
1.1.4.1. Đặc điểm tội phạm học
a. Tính tổ chức cao:
Đặc trưng nổi bật của các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy thể hiện ở tính tổ chức cao, với những liên kết chặt chẽ. Đây là
loại tội phạm có tổ chức khép kín và rất tinh vi, hoạt động bí mật, phần lớn
không để vật chứng lại hiện trường. Vì vậy thường ít thông tin và dấu vết nên
25