KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ PHỐI TRỘN BỘT XƠ DỪA VÀ PHÂN TRÙN QUẾ LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA XÀ LÁCH (Lactuca sativa var. capitata L.) - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
-------------DE-------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ PHỐI TRỘN
BỘT XƠ DỪA VÀ PHÂN TRÙN QUẾ LÊN SỰ SINH
TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA XÀ LÁCH (Lactuca
sativa var. capitata L.)

NGÀNH
: NÔNG HỌC
NIÊN KHÓA
: 2007 - 2011
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ VÂN HƯƠNG

Tháng 07/2011


KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ PHỐI TRỘN
BỘT XƠ DỪA VÀ PHÂN TRÙN QUẾ LÊN SỰ SINH
TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA XÀ LÁCH
(Lactuca sativa var. capitata L.)
Tác giả
Nguyễn Thị Vân Hương

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành nông học

Giáo viên hướng dẫn
TS. Phạm Thị Minh Tâm

trang.
Giảng viên hướng dẫn chính: TS PHẠM THỊ MINH TÂM
Đề tài được thực hiện tại trại thực nghiệm Trường Đại học Nông Lâm thành
phố Hồ Chí Minh từ 01/06/2011 đến 01/07/2011, nhằm tìm ra tỉ lệ phối trộn bột xơ
dừa và phân trùn quế thích hợp để xà lách sinh trưởng tốt và đạt năng suất cao.
Thí nghiệm được thực hiện trên giống xà lách Dún Vàng cao sản HN123, của
công ty giống Hưng Nông. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên
hai yếu tố (A và B), 3 lần lặp lại, với 15 nghiệm thức.
Yếu tố A: các mức khối lượng bột xơ dừa bao gồm 300 g, 400 g và 500 g.
Yếu tố B: các tỉ lệ phân trùn quế bổ sung vào bột xơ dừa: 0%, 5%, 10%, 15%,
20%.
Kết quả đạt được cho thấy:
Ảnh hưởng của khối lượng bột xơ dừa đến sinh trưởng và năng suất xà lách: tại
mức 500 g bột xơ dừa khả năng sinh trưởng và năng suất của xà lách đạt cao nhất.
Ảnh hưởng của tỷ lệ phân trùn quế lên sinh trưởng và năng suất xà lách: tại tỷ lệ
15% và 20% xà lách cho khả năng sinh trưởng và năng suất cao nhất.
Ảnh hưởng của sự phối trộn bột xơ dừa và phân trùn quế lên sinh trưởng và năng
suất của xà lách: các nghiệm thức có khối lượng bột xơ dừa và phân trùn quế cao cho
khả năng sinh trưởng và năng suất cao hơn các nghiệm thức còn lại, trong đó các
nghiệm thức: NT 13 (500 g bột xơ dừa + 10% phân trùn quế), NT 14 (500 g bột xơ dừa
+ 15% phân trùn quế) và NT 15 (500 g bột xơ dừa + 20% phân trùn quế) có khả năng
sinh trưởng tốt và cho năng suất cao nhất.
- Nghiệm thức 13 (500 g bột xơ dừa + 10% phân trùn quế): có chiều cao cây 15,7
cm, số lá 7,3 lá, chiều dài rễ 15,7 cm, trọng lượng rễ 5,1 g và năng suất 317,7 g.
- Nghiệm thức 14 (500 g bột xơ dừa + 15% phân trùn quế): có chiều cao cây 15,5
cm, số lá 7,8 lá, chiều dài rễ 15,5 cm, trọng lượng rễ 5,5 g và năng suất 320, 3 g.
- Nghiệm thức 15 (500 g bột xơ dừa + 20% phân trùn quế): có chiều cao cây 15,2
cm, số lá 7,6 lá, chiều dài rễ 15,2 cm, trọng lượng rễ 5 g và năng suất 309,7 g.
iii


3.2 Thời gian và địa điểm thực hiện thí nghiệm.............................................. 12
3.2.1 Thời gian................................................................................................. 12
3.2.2 Địa điểm ................................................................................................. 12
3.3 Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 12
3.3.1 Bố trí thí nghiệm ..................................................................................... 12
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi ............................................................................... 14
3.3.3 Quy trình thực hiện ................................................................................. 15
3.3.3.1 Giai đoạn vườn ươm ............................................................................ 15
3.3.3.2 Giai đoạn trồng nhà lưới ...................................................................... 15
v


3.4 Phương pháp xử lý số liệu ......................................................................... 16
Chương 4 Kết quả và thảo luận ....................................................................... 17
4.1 Ảnh hưởng của sự phối trộn bột xơ dừa và phân trùn quế
đến chiều cao cây xà lách ......................................... 16
4.2 Ảnh hưởng của sự phối trộn bột xơ dừa và phân trùn quế
đến số lá của xà lách................................................. 21
4.3 Ảnh hưởng của sự phối trộn bột xơ dừa và phân trùn quế
đến chiều dài rễ xà lách ............................................ 25
4.4 Ảnh hưởng của sự phối trộn bột xơ dừa và phân trùn quế
đến trọng lượng rễ xà lách........................................ 27
4.5 Ảnh hưởng của sự phối trộn bột xơ dừa và phân trùn quế đến
trọng lượng trung bình của một cây và năng suất của xà lách ............... 28
Chương 5 Kết luận đề nghị .............................................................................. 32
5.1 Kết luận...................................................................................................... 32
5.2 Đề nghị ...................................................................................................... 32
Tài liệu tham khảo ........................................................................................... 34
Phụ lục ............................................................................................................. 35



Hình .1 Nghiệm thức 13 khi thu hoạch ....................................................... 35
Hình 2 Nghiệm thức 14 khi thu hoạch ........................................................ 35
Hình 3 Nghiệm thức 15 khi thu hoạch ........................................................ 35
Hình 4 Các nghiệm thức 13, 14, 15 khi thu hoạch ...................................... 35
Hình 5 Nghiệm thức 1 khi thu hoạch .......................................................... 36
Hình 6 Nghiệm thức 6 khi thu hoạch .......................................................... 36
Hình 7 Nghiệm thức 11 khi thu hoạch ........................................................ 36
Hình 8 Các nghiệm thức 1, 6, 11 khi thu hoạch .......................................... 36

viii


DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

CC

Chiều cao cây.

CS

Cộng sự.

CV

Coefficient of variation (Hệ số biến động).

LLL

Lần lặp lại.

Do điều kiện của Việt Nam, nước ta ưu tiên tập trung theo hướng trồng rau trên
đất sinh học, vừa tận dụng được các nguồn phế phẩm của nông nghiệp, vừa tránh
được nguy cơ ô nhiễm môi trường do các phế phẩm thải ra không được xử lý.
Có nhiều loại giá thể khác nhau, tùy từng loại cây mà tỉ lệ phối trộn giữa các
thành phần trong giá thể cũng khác nhau để phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của cây.
Trước đây nước ta đã có nơi sử dụng than bùn làm giá thể trồng rau, nhưng chi phí
còn cao nên chưa được phổ biến. Hiện nay, nguồn nguyên liệu được sử dụng làm giá
thể chủ yếu là xơ dừa, tuy tiết kiệm được chi phí nhưng có nhược điểm là thiếu dinh
dưỡng, phải bổ sung thêm các loại phân hữu cơ khác.
Để góp phần vào việc tìm ra tỉ lệ phối trộn thích hợp cho giá thể sử dụng nguyên
liệu xơ dừa, đề tài: “khảo sát sự ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn bột xơ dừa và phân
1


trùn lên sự sinh trưởng và năng suất của rau xà lách” được thực hiện tại trại thực
nghiệm, trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2 Mục tiêu
Xác định được tỉ lệ phối trộn giữa bột xơ dừa và phân trùn quế thích hợp cho
cây rau xà lách sinh trưởng tốt, đạt năng suất cao.
1.3 Yêu cầu
Theo dõi sự sinh trưởng như chiều cao cây, số lá, chiều dài rễ, trọng lượng rễ và
năng suất của rau xà lách.

2


Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu sơ lược về cây rau xà lách
Tên khoa học: Lactuca sativa var. capitata L.

(vermicompost) sạch và đồng nhất. Phân trùn có màu nâu sẫm, dạng dất mùn, có lẫn
trứng và ấu trùng của trùn quế.
Fostage và Babb (1972) đã nuôi trùn bằng phân chuồng và nhận thấy
vermicompost thu được có hiệu lực tương đương với mỗi hỗn hợp dinh dưỡng dùng
trồng hoa trong nhà kính (trích dẫn bởi Khucthuydu, 2008).
Buchanan và CS (1988) cho rằng hầu hết các dạng vermicompost đều có các
yếu tố dinh dưỡng ở dạng cây sẵn sàng hấp thụ luôn cao hơn compost có cùng nguồn
nguyên, rác hữu cơ ban đầu (trích dẫn bởi Khucthuydu, 2008).
Edwards (1988) phân tích và cho thấy tất cả mẫu vermicompost đều có hàm
lượng nitrogen dễ tiêu rất cao (trích dẫn bởi Khucthuydu, 2008).
Trong rất nhiều thí nghiệm kiểm chứng khả năng phát triển của nhiều loại thực
vật trên nhiều dạng vermicompost (Edwards và Burrow, 1998), cho thấy nhiều hạt
đều nảy mầm nhanh hơn, cây con phát triển mạnh mẽ hơn khi so sánh với các dạng
phân bón thương mại khác (trích dẫn bởi Khucthuydu, 2008).
Phân trùn quế có các ưu điểm như:
- Chứa sinh vật có hoạt tính cao như vi khuẩn, nấm mốc, đặc biệt là hệ vi
khuẩn cố định đạm tự do (Azotobacter), vi khuẩn phân giải lân, vi khuẩn phân giải
cellulose và chất xúc tác sinh học.
- Phân trùn quế giàu những chất hòa tan trong nước và chứa đựng hơn 50%
chất mùn được tìm thấy trong lớp đất mặt.
- Cung cấp các chất khoáng cần thiết cho sự phát triển của cây trồng như đạm,
lân, kali, canxi, magie,…
- Có khả năng cố định các kim loại nặng trong chất thải hữu cơ, ngăn ngừa cây
trồng hấp thu nhiều phức hợp khoáng hơn nhu cầu của chúng.
- Tăng khả năng giữ nước của đất.
4


- Làm giảm hàm lượng acid carbon trong đất và gia tăng nồng độ nitơ trong
một trạng thái cây trồng có thể hấp thu được.


thuốc trừ sâu hóa học, giúp cho nông sản không có lượng tồn dư hóa học bên trong,
rất an toàn cho người sử dụng nông sản.
Các loại giá thể hữu cơ được sử dụng phổ biến trong sản xuất nông nghiệp hiện
nay:
- Tro trấu: là sản phẩm của tro trấu sau khi bị đốt cháy, được ủ trước khi sử
dụng, có cấu trúc rỗng xốp, giữ nước và dinh dưỡng tốt, pH thấp.
- Xơ dừa: được ủ bằng cách cho vi sinh vật phân giải, cũng có cấu trúc rỗng
xốp, có khả năng giữ nước và dinh dưỡng tốt.
- Than bùn: được tạo thành do sự phân giải thực vật trong điều kiện yếm khí
trong tự nhiên.
- Cát: có cấu trúc rỗng, hút nước và thoát nước rất nhanh, vì không có dinh
dưỡng nên thường được phối trộn với các loại phân hữu cơ để cung cấp dinh dưỡng
cho cây trồng.
Kỹ thuật thủy canh đã được thực hiện từ nhiều thế kỷ trước ở vùng Amazon,
Babylon, Ai Cập, Trung Quốc, và Ấn Độ.
Người xưa đã sử dụng phân bón hòa tan để trồng dưa hấu, dưa chuột và dưa
gang và nhiều loại rau củ khác trên cát ở các dòng sông. Sau đó, các nhà sinh lý thực
vật bắt đầu trồng các loại cây trên những môi trường dinh dưỡng đặc biệt vì mục đích
thí nghiệm, họ gọi đó là nuôi cấy dinh dưỡng (nutriculture). Thuật ngữ “thủy canh”
được dùng để mô tả tất cả các phương pháp nuôi trồng thực vật trong môi trường lỏng
cho mục đích thương mại (Công ty cổ phần Sài Gòn thủy canh, 2002).
Hệ thống thủy canh mang lại nhiều lợi ích cho ngành nông nghiệp như:
- Hệ thống thủy canh có thể làm giảm đáng kể thời gian cần thiết để sản xuất ra
sản phẩm nông nghiệp.
- Có thể sản xuất rau sạch ở những nơi thiếu đất, nơi đất nhiễm độc, nhiễm mặn.
- Tạo vị ngon và an toàn tuyệt đối cho người sử dụng.
- Đẩy nhanh tốc độ sinh trưởng với diện tích đất tiết kiệm nhất.
- Tiết kiệm tối đa hạt giống.
- Ở quy mô thương mại, hệ thống thủy canh là rất lý tưởng, hiệu quả cao, yêu

Đến thập niên 80 và 90 của thế kỷ qua, kỹ thuật thủy canh được áp dụng cho
sản xuất thương mại và đã phát triển một cách ồ ạt trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt
là khu vực châu Âu (trích dẫn bởi Công ty cổ phần Sài Gòn thủy canh, 2002).
7


2.3.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng giá thể trong nước
Kết quả thí nghiệm của Võ Thị Hồng Nhung (2006), giá thể xơ dừa : tro trấu
lục : bình với tỉ lệ 1:1:1 thích hợp cho sự phát triển của cây cải ngọt trồng tại Củ Chi,
Tp. Hồ Chí Minh.
Nguyễn Phúc (2008): các giá thể: 1/3 phân trùn + 1/3 tro trấu + 1/3 bụi dừa;
1/3 phân trùn + 1/3 tro trấu + 1/3 vỏ đậu phụng; 1/3 phân trùn + 1/3 vỏ đậu phụng +
1/3 bụi dừa đều cho hiệu quả cao trên cây ớt trồng tại Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh.
Kết quả thí nghiệm của Vũ Văn Chúc (2010): các giá thể: tro trấu có xử lý +
trấu; tro trấu + trấu và xơ dừa làm tăng năng suất rau mầm cải củ trồng tại Củ Chi, Tp.
Hồ Chí Minh.
Mô hình sản xuất rau ăn lá và rau gia vị trong nhà màng trên giá thể (gồm: mụn
dừa, mùn cưa, đá bọt núi lửa phối hợp cùng các loại dinh dưỡng đa lượng, trung
lượng, vi lượng) với hệ thống tưới phù hợp, do Phạm Hữu Nhượng cùng CS thực
hiện, cho thấy: cây rau cho năng suất và hiệu quả cao, thời gian quay vòng mùa vụ
ngắn hơn từ 25% - 28%, các yêu cầu vệ sinh được đảm bảo (T.Phan, 2010).
Kết quả nghiên cứu 10 mô hình sử dụng giá thể từ mụn dừa được xử lý để phối
trộn với men vi sinh tạo ra giá thể hữu cơ sạch trồng 5 loại rau màu là xà lách, cải
thìa, cần tàu, cà chua và dưa leo của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công
nghệ (Sở KH-CN Vĩnh Long) từ tháng 11/2008 đến tháng 10/2010 cho thấy, các loại
rau được trồng trên giá thể hữu cơ này cho chiều cao, đường kính và năng suất cao
hơn từ 40-50% so với các loại rau màu được trồng trên mụn xơ dừa không qua xử lý
hoặc trồng trên đất bình thường. Đặc biệt, cách trồng này giúp rau màu kháng được
một số bệnh thông thường như héo lá, nấm bệnh, úng rễ (Tuân Phương, 2010).
Bọt núi lửa sau khi được nghiền nhỏ, phối trộn với một số hữu cơ hỗn hợp


9


Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng của phân trùn quế
Thành phần đặc tính

Hàm lượng

N
P2O5
K2 O
Ca

1,5 – 2,2 %
1,8 – 2,2 %
1,0 – 1,5 %
4,6 – 4,8 %

Mg
Cu
Zn
Mn

0,3 %
0,5 ppm
150 – 170 ppm
500 – 510 ppm

C

E.Coli

Không có
Không có

(Nguồn: Số liệu từ Hội thảo chăn nuôi - chế biến - sử dụng trùn quế làm thức ăn chăn nuôi
của trung tâm ứng dụng KHCN&MT tỉnh Bình Dương và Bộ môn công nghệ sinh học Trường
ĐH Bách Khoa TP.HCM, tháng 8/2003

3.1.5 Phân bón hữu cơ bổ sung
Phân bón lá Super fish.

10


3.2 Thời gian và địa điểm thực hiện thí nghiệm
3.2.1 Thời gian
Thí nghiệm được tiến hành từ 17/05/2011 đến 30/06/2011, tại trại thực nghiệm
trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh.
Ngày gieo: 17/05/2011.
Ngày trồng: 01/06/2011.
Ngày thu hoạch: 30/06/2011.
3.2.2 Địa điểm
Thí nghiệm được tiến hành trong nhà lưới tại trại thực nghiệm của trường Đại
học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên 2 yếu tố (A và B)
(Randomized Complete Block Design), 3 lần lặp lại ứng với 15 nghiệm thức.
+ Yếu tố A: khối lượng bột xơ dừa ở các mức khác nhau:

30 cây/NT/LLL * 15 NT * 3 LLL = 1350 cây

12


Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Lần lặp lại 1

Lần lặp lại 2

Lần lặp lại 3

NT2

NT2

NT12

NT6

NT14

NT11

NT3

NT5

NT7


NT11

NT6

NT13

NT14

NT12

NT3

NT12

NT9

NT14

NT8

NT13

NT10

NT5

NT7

NT5


- Lần 2: khi cấy được 15 ngày.
- Lần 3: khi thu hoạch.
Tỉ lệ sâu, bệnh hại:
- Tỉ lệ sâu hại (%) = (tổng số cây bị sâu x 100)/Tổng số cây theo dõi.
-Tỉ lệ bệnh hại (%) = (tổng số cây bị bệnh x 100)/Tổng số cây theo dõi.
Các yếu tố cấu thành năng suất:
Trọng lượng trung bình 1 cây (g) = (tổng trọng lượng cây/nghiệm thức)/số cây
theo dõi.
- Năng suất thực tế (g/NT): là trọng lượng cây của mỗi nghiệm thức lúc thu
hoạch.
- Năng suất lý thuyết (g/NT) = trọng lượng trung bình/cây x tổng số cây/NT.
3.3.3 Quy trình thực hiện
3.3.3.1 Giai đoạn vườn ươm
- Cho bột xơ dừa (không trộn phân trùn quế) vào khay ươm, san bằng mặt đất.
- Gieo hạt đều trên mặt đất, sau khi gieo phủ lên một lớp bột xơ dừa mỏng, tưới
nước bằng bình phun cho đủ ẩm. Mỗi ngày tưới một lần vào sang sớm hoặc chiều
mát.
- Khi cây con được 15 ngày tuổi thì nhổ đem trồng vào bịch.
3.3.3.2 Giai đoạn trồng trong nhà lưới
- Cho vào bịch bột xơ dừa đã được xử lý và phân trùn quế theo các tỉ lệ phối trộn
theo các nghiệm thức ở mục 3.3.1.
- Trồng cây con vào bịch.
14


- Phun phân bổ sung: 4 lần, phun lần đầu sau khi trồng 5 ngày, lần cuối cách
ngày thu hoạch 4 ngày, lần sau cách lần trước 7 ngày. Pha phân với nước rồi phun lên
lá, dùng bình phun sương 1,5 lít.
- Chăm sóc: tưới nước 1 lần 1 ngày vào sáng sớm hoặc chiều tối.
3.4 Phương pháp xử lý số liệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status