Pháp luật về thuế đối với hộ kinh doanh từ thực tiễn quận tân bình, thành phố hồ chí minh - Pdf 49

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÈ PHÁP LUẬT THUẾ ĐÓI VỚI HỘ
KINH DOANH .....................................................................................................10
1.1.

Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Hộ kinh doanh theo pháp luật Việt Nam. 10

1.1.1....................................................................................................................... K
hái niệm, đặc điểm, vai trò của Hộ kinh doanh................................................10
1.1.2....................................................................................................................... K
hái niệm, đặc điểm của thuế và pháp luật thuế................................................16
1.2.

Quy định của pháp luật hiện hành về thuế đối với Hộ kinh doanh ở nước ta
22

1.2.1.

Giới thiệu tổng quan quá trình hình thành và pháp triển pháp luật thuế

đối với hộ kinh doanh ở nước ta......................................................................22
1.2.2.

Quy định của pháp luật hiện hành về thuế đối với Hộ kinh doanh ở nước

ta...................................................................................................................... 31
Chương 2: THựC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VÈ THUẾ ĐÓI VỚI HỘ
KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHÓ HỒ CHÍ
MINH TỪ NĂM 2010 ĐÉN NAY VÀ MỘT SÓ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 40
2.1.

Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật hiện hành về đăng ký thuế

đối với hộ kinh doanh trên địa bàn quận Tân Bình..........................................43


2.2.3.

Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật hiện hành về lệ phí môn bài

đối với hộ kinh doanh trên địa bàn quận Tân Bình..........................................47
2.2.4.

Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật hiện hành về thuế giá trị gia

tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt tại quận Tân Bình............52
2.2.5.

Tình hình thi hành pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế đối

với hộ kinh doanh trên địa bàn quận Tân Bình................................................59
2.3.

Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thuế đối với Hộ kinh doanh ......64

2.3.1.

Kiến nghị liên quan đến các quy định của pháp luật về thuế đối với hộ

kinh doanh........................................................................................................64
2.3.2.

Giá trị gia tăng

HKD

Hô kinh doanh

NNT

Người nộp thuế

NSNN

Ngân sách nhà nước

TNCN

Thu nhập cá nhân

TMB

Thuế môn bài


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tình hình kinh tế quận Tân bình Tháng 04 năm 2016
Bảng 2.2. Số liệu duyệt bô môn bài 2018 chi cục thuế Tân Bình đối với hô
kinh doanh
Bảng 2.3. Theo dõi tình hình nộp thuế giá trị gia tăng tại quận Tân Bình 2017





lý bên cạnh việc thực thi pháp luật về thuế cho hiệu quả. Vấn đề này không chỉ của
riêng ai, cần phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò quản lý
nhà nước trong lĩnh vực thuế là rất quan trọng.
Ngoài ra, hiện tượng đáng báo động hiện nay của ngành thuế là Thất thu thuế,
nợ thuế, chi phỉ quản lý lớn mà nguyên nhân cũng bao gồm từ thực tiễn thực hiện
pháp luật về thuế trong đó có vấn đề thuộc về HKD. Pháp luật hiện hành quy định,
đối với HKD có mức DT từ 100 triệu đồng/năm trở lên, thì các loại thuế, phí phải
nộp bao gồm: Lệ phí môn bài, thuế GTGT, thuế TNCN, thuế TTĐB. HKD phải nộp
thuế dạng thuế khoán, xác định thuế phải nộp dựa trên DT; DT tính thuế là toàn bộ
tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ
tính thuế bao gồm cả DT khoán và DT trên hoá đơn (Đối với cá nhân kinh doanh sử
dụng hoá đơn của cơ quan thuế). Trên cơ sở mức DT khoán do cá nhân kinh doanh
tự khai; Mức DT khoán năm liền trước năm tính thuế; Chi cục Thuế phối hợp với
Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn để duyệt mức DT khoán ổn định, gửi cho
cá nhân kinh doanh và công khai theo quy định. Những quy định nêu trên đây chưa
thực sự phù hợp với giai đoạn hiện nay trong nền kinh tế thị trường, vi phạm nguyên
tắc bình đẳng, không khích lệ được sự tham gia kinh doanh của thành phần kinh tế cá
thể là hộ kinh doanh và chắc chắn ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước là thất thu
thuế, thiếu ngân sách trầm trọng. Tình trạng cán bộ thuế thoả hiệp với đối tượng nộp
thuế để giảm bớt số thuế phải nộp, nhất là trong trường hợp xác định doanh thu, mức
thuế khoán xem xét miễn giảm thuế còn tồn tại khá phổ biến.
Mặt khác, Các quy định của pháp luật khi áp dụng vào thực tiễn tại địa phương
quận Tân Bình Tp. Hồ Chí Minh, như đăng ký thuế, sử dụng hóa đơn, xác định
doanh thu, thuế môn bài vẫn còn nhiều hạn chế, vướng mắc; Trình độ, ý thức của cán
bộ thuế chưa cao, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hoạt động của các hộ kinh
doanh và sự quản lý nhà nước ở địa phương.
Vì vậy, Tác giả quyết định chọn đề tài: “ Pháp luật về thuế đối với hộ kinh
doanh từ thực tiễn Quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh” để làm đề tài nghiên

cập’ của Ngô Huy Cương trên tạp chí Khoa học đại học quốc gia Hà nội, Luật
học số 25(2009), bài viết này tác giả đề cập đến khái niệm, bản chất, đặc điểm
pháp lý của Hộ kinh doanh, điều kiện, thủ tục đăng ký kinh doanh của Hộ
3


kinh doanh qua việc đối chiếu so sánh văn bản pháp luật trong từng giai đoạn
lịch sử.
6. Bài báo khoa học ThS. Mai Thị Thanh Xuân, ThS. Đặng Thị Thu Hiền
(2013), “Nghiên cứu phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa
học Đại học
Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 3 (2013); Bài báo rất ấn tượng,
giúp người viết thấy rõ những rủi ro và phương thức giải quyết rủi ro mà hộ kinh
doanh Việt Nam đã, đang và sẽ đối mặt.
7. Bài báo khoa học: Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra các bất cập,
của TS. Ngô Huy Cương, Tạp chí khoa học đại học quốc gia Hà nội, luật học
số 25, năm 2009. Nội dung chỉ phản ánh những bất cập trong quy định về hộ
kinh doanh thông qua việc phân tích, bình luận, chứng minh về khái niệm “hộ
kinh doanh” và các quy định liên quan đến chủ thể kinh doanh này trong nền
kinh tế thị trường do Luật Doanh nghiệp 2005 điều chỉnh. Bài báo khoa học
này không nghiên cứu về quy định thuế đối với hộ kinh doanh theo pháp luật
Việt Nam.
8. Bài báo khoa học: “Cơ sở xác định thu nhập thuế trong pháp luật thuế thu
nhập cá nhân dưới góc độ công bằng” Tác giả Trần Minh Đức, Tạp chí khoa
học Nhà nước và pháp luật, số 2 năm 2012. Nội dung bài viết Tác giả tập
trung vào việc xác định thu nhập thuế cho tất cả các đối tượng chịu thuế về
thu nhập cá nhân cần theo một cơ sở nhất định và công bằng bình đẳng để đạt
hiệu quả cao nhất có thể. Đặc biệt trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế thế
giới ở nước ta cần hướng đến việc nộp thuế là nghĩa vụ của toàn dân.
9. Bài báo khoa học: “Vấn đề kiểm soát thu nhập pháp luật thuế thu nhập cá

vấn đề thực thi các quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân trên cơ sở
tác giả phân tích những mặt mạnh, yếu kém của một số tỉnh thành trong cả
nước từ đó đề ra những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thuế thu
nhập cá nhân trong đó có liên quan đến đối tượng chịu thuế là những hộ kinh
doanh ở nước ta.
14. Luận văn thạc sỹ, ‘Những vấn đề pháp lý cơ bản về đối tượng chịu thuế và
những trường hợp không thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường”, Tác giả:
Nguyễn Ngọc Thủy, trường đại học luật TP. Hồ Chí Minh 2014:Nội dung này
giúp làm rõ sáng tỏ nội dung Pháp luật về đối tượng chịu thuế Bảo vệ môi
5


trường và thực trạng một số tỉnh thành trên phạm vi cả nước; Pháp luật về đối
tượng chịu thuế Bảo vệ môi trường.
15. Luận văn thạc sỹ, ‘Pháp luật về thuế đối với Hộ kinh doanh từ thực tiễn quận
7- TP.HỒ Chí Minh’ của Tác giả: Nhữ Thị Hạnh, đơn vị Nghiên cứu là Học
viên khoa học xã hội 2015. Đe tài này đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận,
đặc điểm của pháp luật về quản lý thuế đối với Hộ kinh doanh và thực trạng
quy định, thực trạng thực hiện pháp luật quản lý thuế đối với Hộ kinh doanh
thuộc phạm vi địa bàn quận
16. Luận văn thạc sỹ, “Biện pháp tăng cường quản lý thu thuế Hộ kinh doanh cá
thể tại Chi cục Thuế quận Kiến An, Hải Phòng của tác giả Phạm Đức Hoàng,
năm 2014. Điểm nổi bật của luận văn chính là những giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật về thuế đối với Hộ kinh doanh, nội dung trên giúp người viết
xác định rõ cơ sở lý luận để giải quyết tốt chương 2 luận văn.
17. Luận văn Thạc sỹ Luật học: Pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân:
Thực trạng và định hướng hoàn thiện” của Tác giả Nguyễn Đăng Bỉnh, trường
Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2011. Luận văn nghiên cứu trên
góc độ cá nhân có thu nhập phải chịu thuế thu nhập cá nhân theo pháp luật
hiện hành trong đó có đối tượng là những cá nhân thuộc hộ kinh doanh, nhóm

hội nhập kinh tế thế giới hiện nay như thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả mong muốn
luận văn này sẽ góp phần giải quyết được nhiều điểm mới có giá trị phù hợp về mặt
lý thuyết pháp lý và thực trạng thi hành pháp luật, nhằm góp phần vào sự phát triển
của thành phần kinh tế tại Việt Nam, trong đó có thành phần kinh tế hộ kinh doanh
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những quy định của pháp luật về thuế đối với hộ kinh
doanh theo pháp luật Việt Nam, tập trung phân tích các quy định hiện hành. Trên cơ
sở đó, tác giả tiến hành phân tích thực trạng thực hiện pháp luật thuế đối với hộ kinh
doanh qua thực tiễn tại quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến
nay; Đưa ra các kiến nghị nhằm giải quyết những vấn đế nóng tại địa bàn của Quận
Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh, là một Quận có nhiều thế mạnh trong sự phát
7


triển chung của thành phố trong thời gian qua, hiện tại và tương lai; Với đặc thù là
quận có nhiều cư dân sinh sống đến từ nhiều vùng miền khác nhau của cả nước, có
mức thu nhập trung bình và hành nghề kinh doanh cá thể chiếm tỷ lệ phần trăm lớn
trong tất cả các quận huyện của thành phố.
Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập trung nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật
về thuế đối với HKD đáp ứng yêu cầu thực tiễn thực thi những văn bản pháp luật
Việt Nam hiện hành có liên quan, cụ thể là thuế khoán, thuế TNCN, thuế TTĐB và
thuế giá trị gia tăng.
-Phân tích đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về thuế đối với hộ kinh
doanh tại địa bàn quận Tân bình, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đưa ra những kiến nghị của chính tác giả nhằm hoàn thiện các quy định của

Ba, Phương pháp quy nạp, diễn dịch so sánh: Đối chiếu các quy định của pháp
luật về thuế qua các thòi kỳ mà cơ quan thuế quận Tân Bình đã thực hiện đối với hộ
kinh doanh.
Bốn, Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng nhằm khái quát hóa để đưa ra những
đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn vấn đề chấp hành thuế và quản lý thuế đối
với HKD trên địa bàn quận Tân Bình TP. Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa khoa học và phạm vi ứng dụng
Luận văn có những đóng góp mới sau đây:
Một, Góp phần hệ thống hoá và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về thuế
bằng việc bổ sung phân tích chứng minh những quy định hiện hành về thuế đối với
HKD nhỏ lẻ ở nước ta.
Hai, Phân tích, đánh giá thực trạng chấp hành pháp luật thuế đối với HKD trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010-2017 từ đó nhận diện được những
thành công, hạn chế và nguyên nhân căn bản.
Ba, Đe xuất một số kiến nghị thúc đẩy việc thực hiện tốt các quy định của pháp
luật về thuế đối với HKD trên địa bàn TP.HỒ Chí Minh phù hợp với tiềm năng đóng
góp về mọi mặt của chủ thể này cho sự phát triển chung của thành phố.
Bốn, Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành Luật
Kinh tế
7. Kết cấu của luận văn

9


Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được trình bày thành 02 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung vê pháp luật về thuế đối với hộ kinh doanh
Chương 2: Thực tiễn thi hành pháp luật về thuế đối với hộ kinh doanh trên địa
bàn quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến nay và một số kiến
nghị hoàn thiện.

Phải nhận thấy rằng “hô kinh doanh” tiếp tục được đổi thành cụm từ “ Hô kinh doanh
cá thể”, tức là được ghi nhận tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính
phủ về đăng ký kinh doanh, quy định: “Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia
đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động,
không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động
kinh doanh.” [13]. Đây là văn bản đầu tiên hướng dẫn thi hành luật DN tư nhân năm 1999
của thời kỳ đổi mới kinh tế đất nước thừa nhận một cá nhân hoặc một hô gia đình làm chủ
HKD cá thể. Tiếp theo đó 4 năm sau, pháp luật kinh tế nước ta được góp phần bởi Nghị
định số 109/2004/NĐ- CP ngày 02/4/2004, Chính phủ ban hành, quy định về đăng ký kinh
doanh, có định nghĩa: “Hô kinh doanh” là “Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ
gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười
lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt
động kinh doanh ’’[14].
Sau khi Luật DN năm 2005 ra đời, Nghị định số 88/2006/NĐ-CP, ngày 29/8/2006 của
Chính phủ quy định về đăng ký kinh doanh, cụm từ “Hô kinh doanh” cũng được sử dụng là
“HKD cá thể”. Tại khoản 1 Điều 36 Nghị định số 88/2006 NĐ-CP định nghĩa: “HKD do
một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ
được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có
con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.”.
Tiếp tục điều chỉnh hoạt đông kinh doanh trong nền kinh tế thị trường bằng Luật DN 2005,
hô kinh doanh cá thể không phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng, phức tạp hơn của thị
trường. Do đó, ngày 15 tháng 4 năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị định 43/2010/NĐ-CP
quy định về đăng ký kinh doanh, tại văn bản dưới luật này, cụm từ “hô kinh doanh cá thể”
được hủy bỏ và thay vào đó là cụm từ “Hô kinh doanh”. Cụm từ này lần đầu tiên được định
nghĩa như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm
người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử
dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình đối với hoạt động kinh doanh. ” [16, Điều 49]
Do sự đòi hỏi tất yếu của thị trường, các chủ thể kinh doanh phải được pháp luật điều
chỉnh một cách phù hợp hơn với đời sống kinh tế xã hôi, luật DN 2005 đã bị bãi bỏ, đồng

gây khó khăn không ít cho việc giải quyết tranh chấp có liên quan. Trong thực tiễn tư pháp
và trong thực tiễn thi hành pháp luật ở các cơ quan hành pháp, người ta thường xác định
quan hê thành viên trong gia đình thông qua sổ hô khẩu gia đình. Đây là một việc làm
không hợp lý, bởi vì sự tồn tại của sổ hô khẩu không còn phù hợp trong giai đoạn thực tế xã
hôi hiên nay. Sổ hô khẩu không cho biết rõ liêu các thành viên có tên trong sổ, có cùng trú
ngụ hay cùng kiếm sống hay không. Thiết nghĩ cần đưa vào nôi dung đăng ký kinh doanh
việc xác định các thành viên của hô gia đình khi đăng ký kinh doanh dưới hình thức hô kinh
doanh, bởi vấn đề xác định các thành viên như vậy có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo
vê lợi ích của các chủ nợ của hô kinh doanh. [39]

1
2


1.11.2. Đặc điểm của hộ kinh doanh
Thứ nhất: Cơ sở pháp lý và địa vị pháp lý của Hô kinh doanh không phải là doanh
nghiệp, không có con dấu.
Hô kinh doanh được thừa nhận trong văn bản quy phạm pháp luật thuộc cơ quan hành
pháp là Nghị định của Chính phủ chứ không phải trong văn bản Luật do Quốc hôi ban hành.
Từ văn bản đầu tiên là Nghị định số 27-HĐBT ngày 9/3/1988 của Hôi đồng Bô Trưởng, qui
định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ
công nghiệp xây dựng, vận tải cho đến Nghị định 78/2015/NĐ- CP hướng dẫn thi hành Luật
DN 2014 đều thừa nhận HKD không phải là doanh nghiệp. Ngoài ra, không quy định HKD
có tư cách pháp nhân. Nghĩa là, HKD không thỏa mãn theo điều kiên của một pháp nhân
được quy định tại điều 74, Bô Luật dân sự năm 2015. Theo điều 84 của Bô Luật dân sự
2005 và tham chiếu điều 74 của Bô Luật dân sự 2015 trong bốn dấu hiệu của pháp nhân thì
HKD không thỏa mãn hai đó là ‘’có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu
trách nhiệm bằng tài sản đó’’ và được phép ‘...nhân danh mình tham gia các quan hê pháp
luật một cách độc lập’. Như vậy, HKD không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ như doanh nghiệp
có tư cách pháp nhân. Mặc dù là chủ thể kinh doanh chuyên nghiệp nhưng hô kinh doanh

quy mô hoạt đông của nó. Nghị định 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ đã ghi rõ hô kinh
doanh chỉ được sử dụng dưới mười lao động’, tức là số lao đông tối đa sử dụng là chín lao
đông, không quy định cụ thể số lao đông này phải đăng ký với cơ quan chức năng nào. Theo
logic của vấn đề cần bàn thì tất yếu số lao đông này phải bị điều chỉnh theo quy định của
pháp luật về lao đông hiên hành. Hô kinh doanh chỉ được’ đăng ký kinh doanh tại một địa
điểm’, có nghĩa là chỉ được phép sở hữu một địa điểm kinh doanh trên phạm vi toàn quốc.
Nếu muốn mở rông quy mô hoạt đông, sử dụng trên mười lao đông thì bắt buộc chủ HKD
đó phải đăng ký thành lập doanh nghiệp, đây có thể xem là điểm khác biệt giữa hô kinh
doanh và các loại hình doanh nghiệp.
Thứ tư: Hô kinh doanh có quy mô nhỏ và chịu trách nhiêm vô hạn bằng tài sản của
mình về mọi hoạt đông do mình thực hiên.
Nhìn nhận dưới góc đô điều chỉnh của Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật DN 2015 thì HKD thực hiên đăng ký và hoạt đông kinh doanh theo quy định Chính
phủ. Mặc nhiên, những cơ sở kinh doanh nhỏ này sẽ không bị điều chỉnh bởi Luật DN 2015.
Trường hợp, khi HKD đạt đến quy mô có sử dụng thường xuyên từ mười lao đông trở lên;
Tham chiếu tại khoản 2 Điều 212 Luật DN 2015 thì HKD bắt buộc phải chuyển sang đăng
ký thành lập doanh nghiệp.
Xem xét vấn đề vốn góp của hộ kinh doanh. Ve phương diên pháp lý, không có quy
định điều kiên bắt buộc số tiền tối thiểu hay tối đa HKD muốn kinh doanh phải có về vốn
kinh doanh. Như vậy, tài sản kinh doanh và tài sản dân sự của chủ HKD không có sự tách
bạch, không có sự phân biệt rõ ràng về nghĩa vụ của chủ HKD trong việc định lượng vốn
góp vào mục đích kinh doanh như các tổ chức kinh tế là DN. Khía cạnh này dễ nhận thấy
tiềm ẩn nguy cơ đe dọa lợi ích xã hôi và các đối tác của HKD nếu không có một định lượng

1
4


thích hợp, xác định rõ tài sản góp vốn hay là vốn kinh doanh đối với HKD cũng như quy
định hiên hành đã xác lập chế đô trách nhiêm vô hạn như một đảm bảo cơ bản cho xã hôi


1
5


nói riêng và toàn xã hôi nói chung. Hô kinh doanh với số lượng lao đông lớn, phong phú về
loại hình sản xuất kinh doanh, trên thực tế luôn có mặt ở khắp các địa phương trong cả
nước, kể cả các vùng sâu, vùng xa hải đảo.
Ba là, Những hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh không ngừng thúc đẩy nền
kinh tế phát triển năng động, hiệu quả cao trong thực tiễn.
Tính tất yếu của quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường đã đem lại quyền và
lợi ích tốt nhất cho người tiêu dùng, với những đóng góp không nhỏ của mình, HKD đã
hình thành nên các đối trọng trên thị trường trong nước ngày một đa dạng về cung và cầu.
Không những làm tăng số lượng, chủng loại hàng hóa dịch vụ cho nền kinh tế mà còn hỗ trợ
đắc lực cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả hơn như làm đại lý, vê tinh cho các doanh
nghiệp, giúp tiêu thụ hàng hóa, gia công sản phẩm, cung cấp nguyên liêu đầu vào. Một số
cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt đông trong các làng nghề đã góp phần đáng kể vào việc giữ
gìn, bảo tồn và phát triển các ngành nghề truyền thống, một phần của nền văn hóa dân tộc
Việt Nam. Khai thác hợp lý tiềm năng trong khu vực dân cư như về trí tuệ, tay nghề, sức lao
đông, bí quyết ngành nghề, thu hút lao đông tại chỗ, phát huy lợi thế của từng vùng, tăng
thu nhập của dân cư, góp phần nâng cao mức sống, cải thiên đời sống của người dân. [28,
tr.15]
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của thuế và pháp luật thuế
1.1.21. Khái niệm thuế và pháp luật thuế
Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa thống nhất tuyệt đối về
khái niêm thuế. Đứng trên những góc nhìn khác nhau, theo quan điểm của mỗi nhà kinh tế
khác nhau sẽ có những định nghĩa về thuế khác nhau.
Đứng ở góc đô nhà nước thì “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và
pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng
cho mục đích công cộng.” [20, tr. 78]Có những ý kiến khác lại cho rằng: “Thuế là một

Một, thuế có tính bắt buộc, là khoản thu, khoản nộp bắt buộc của Ngân sách nhà
nước.
Tính bắt buộc của thuế xuất phát từ đẩu?. Từ việc nhà nước là người đảm bảo cung
ứng phần lớn hàng hóa công công cho xã hôi. Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để
người dân phải nộp thuế cho nhà nước. Tính bắt buộc của thuế thể hiên nghĩa vụ đóng góp
của mọi công dân đối với lợi ích công công của toàn xã hôi. Tính bắt buộc này thường được
ghi nhận trong hiến pháp của các quốc gia. Riêng ở nước ta, Hiến pháp Việt Nam năm 2013
quy định tại điều 47 như sau “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định ”. Khi xem
xét với chủ thể là cơ quan thuế thì thuế sẽ là khoản thu bắt buộc, theo Khoản 1, Điều 8, Luật
Quản lý Thuế quy định rõ trách nhiêm của cơ quan quản lý thuế là “Tổ chức thực hiên thu
thuế theo quy định của pháp luật”. Nghĩa là cá nhân cán bô cơ quan thu thuế không được
quyền lựa chọn đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế. Phải thực sự lấy
pháp luật làm cơ sở duy nhất để thực hiên. Trường hợp xem xét chủ thể là NNT thì họ phải
ý thức được rằng đây là khoản tiền mà pháp luật thuế quy định, bắt buộc phải nộp vào

1
7


NSNN. Quá trình đông viên nguồn thu từ thuế của Nhà nước là quá trình chuyển đổi quyền
sở hữu một bô phận thu nhập của các pháp nhân và thể nhân thành quyền sở hữu của Nhà
nước. Do đó Nhà nước phải dùng quyền lực để thực hiên quyền chuyển đổi. Tính quyền lực
tạo nên sự bắt buộc là một tất yếu khách quan, nhưng vì các hoạt đông thu nhập của thể
nhân và pháp nhân không gây cản trở cho xã hôi nên tính bắt buộc này là phi hình sự. Vì
vậy có thể nói việc đánh thuế không mang tính hình phạt và tính bắt buộc của thuế là hiển
nhiên, là tính tất yếu đặc trưng của nhà nước và pháp luật cũng như nhà nước với nhân dân.
Hai, thuế không mang tính đối giá và không hoàn trả trực tiếp
Có thể nhận thấy đặc điểm này đã phản ánh rõ sự khác nhau giữa thuế và lê phí. Lê
phí được coi là một khoản đối giá giữa Nhà nước với công dân, khi công dân thừa hưởng
những dịch vụ công công do nhà nước cung cấp phải trả một phần thu nhập của mình cho

Xét về yếu tố xã hôi thể hiên: Hê thống thuế phải dựa trên phong tục, tập quán của
mỗi quốc gia, kết cấu giai cấp cũng như đời sống thực tế của các thành viên trong từng giai
đoạn lịch sử. Ngoài ra, thuế còn thực hiên phân phối lại thu nhập trong xã hôi và đảm bảo
công bằng xã hôi. Như vậy hoạt đông của hê thống thuế của một quốc gia phụ thuộc vào
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các vấn đề kinh tế, xã hôi của quốc gia đó.
Bốn, thuế đảm bảo mục tiêu nuôi dưỡng nguồn thu, có xu hướng ngày càng đơn
giản.
Pháp luật thuế đảm bảo mục tiêu nuôi dưỡng, phát triển nguồn thu. Trong quy định
của pháp luật về thuế luôn tạo điều kiên để các chủ thể nộp thuế phát triển có chất lượng,
bền vững. Muốn vậy, chính sách pháp luật thuế phải luôn theo kịp phù hợp với thực tế hoạt
đông kinh doanh trên thị trường Việt Nam; Phải cân đối nguồn thu thông qua số thuế phải
nộp. Pháp luật về thuế có xu hướng ngày càng đơn giản, dễ hiểu, đảm bảo hiệu lực pháp lý
cao phù hợp với từng đối tượng chịu thuế (các chủ thể) trong các quan hê pháp luật về thuế.
Riêng hô kinh doanh có mô hình đơn giản, do vậy đòi hỏi những nhà làm luật phải xây
dựng các quy phạm pháp luật pháp luật về thuế đối với hô kinh doanh càng đơn giản, càng
dễ hiểu thì tính thực tiễn, ứng dụng của nó càng cao.
1.1.23. Vai trò pháp luật thuế trong nền kinh tế thị trường.
Thứ nhất, Pháp luật thuế tạo căn cứ pháp lý hình thành nguồn thu ổn định cho
ngân sách nhà nước.
Nhìn nhận dưới góc đô khoa học pháp lý, pháp luật thuế là tập hợp các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hê xã hôi thuộc lĩnh vực về thu thuế và nộp thuế, khi các chủ
thể tuân thủ quy định pháp luật thuế thì nguồn thu từ thuế mới được bảo đảm. Ở quốc gia
nào cũng vậy, nhà nước muốn thực hiên tốt chức năng, nhiêm vụ của mình thì phải có kinh
phí, phải được cấp trực tiếp từ nguồn NSNN, điều này càng thể hiên tầm quan trọng của
pháp luật Thuế để điều tiết mọi hoạt đông của xã hôi. Theo số liêu của tổng cục thống kê
trên 90% nguồn thu ngân sách lấy từ thuế, tại Khoản 2, Điều 7 Luật NSNN số
83/2015/QH13 cũng quy định: ‘ ’NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế,

1
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status