VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH NGỌC THỦY
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI
DƯỚI 18 TUỔI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ THỌ
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRỊNH TIẾN VIỆT
HÀ NỘI - 2018
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI DƯỚI 18 TUỔI .............................................. 8
1.1 Khái quát về người phạm tội dưới 18 tuổi ...................................................... 8
1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung, mục đích và ý nghĩa áp dụng hình phạt đối
với người phạm tội dưới 18 tuổi ........................................................................... 15
1.3 Quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trong
pháp luật hình sự một số nước trên thế giới ........................................................ 19
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI
NGƯỜI PHẠM TỘI DƯỚI 18 TUỔI ............................................................. 27
biến ngày càng phức tạp, trong đó, tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện ngày
càng có xu hướng gia tăng nhanh cả về số vụ lẫn tính chất, mức độ nguy hiểm cho
xã hội như tội phạm về ma túy, tội giết người, tội cố ý gây thương tích, tội cướp tài
sản, tội hiếp dâm, tội chống người thi hành công vụ, tội gây rối trật tự công cộng...
Năm 2013, Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã thụ lý giải quyết
44 vụ án hình sự với 64 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2014 thụ lý giải quyết
52 vụ án hình sự với 68 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2015 thụ lý giải quyết
16 vụ án hình sự với 19 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2016 đã thụ lý giải
quyết 27 vụ án hình sự với 31 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2017 đã thụ lý
giải quyết 24 vụ án hình sự với 31 bị cáo là người chưa thành niên.
Chính sách hình sự của Nhà nước ta thể hiện rõ bản chất nhân đạo và dân chủ
của nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trước ki Bộ luật Hình sự năm
2015 ra đời, Nhà nước sử dụng khái niệm người chưa thành niên phạm tội để chỉ
những người dưới 18 tuổi phạm tội và quy định hình phạt áp dụng đối với chủ thể của
tội phạm này. Bộ luật Hình sự năm 2015 là bước phát triển mới so với các quy định
của pháp luật hình sự trước đây về quy định trách nhiệm hình sự đối với người dưới
18 tuổi phạm tội, trong đó cụ thể hóa các hình phạt và áp dụng triệt để nguyên tắc
1
nhân đạo của pháp luật hình sự phù hợp với đặc thù của chủ thể phạm tội này. Đặc
biệt, khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội (người phạm tội dưới 18 tuổi) là khái
niệm mới, thay thế cho khái niệm người chưa thành niên phạm tội trước đây. Do đó,
rất cần được nghiên cứu về khái niệm cũng như các quy định của Bộ luật Hình sự
năm 2015 áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi.
Về mặt thực tiễn, Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018,
nhưng các quy định về cơ bản trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ luật Hình sự năm
1999 nên rất cần đánh giá, tổng kết từ thực tiễn để có những giải pháp phù hợp góp
phần áp dụng có hiệu quả các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997; Trần Văn Dũng,
Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003; Nguyễn Minh
Khuê, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Luận văn thạc
sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006; Trịnh Thị Yến, Quyết định
hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội, Luận văn thạc sĩ luật học,
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; Đỗ Ngọc Thùy (2011), Hình phạt tù
đối với người chưa thành niên phạm tội – Lý luận và thực tiễn áp dụng, Luận văn
Thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Thu Huyền
(2012), Hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
theo Luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật Đại học Quốc
gia Hà Nội…
Ngoài ra, còn có các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học luật uy tín
như: Lương Ngọc Trâm (2014), “Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về hình phạt
áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Tòa án nhân dân (19); TS.
Trần Văn Dũng, Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm
tội, Tạp chí Luật học, số 5/2000; PGS. TS. Dương Tuyết Miên, Quyết định hình phạt
đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Luật học, số 4/2002; TS. Trương
Minh Mạnh, Phân loại tội phạm với việc quy định trách nhiệm hình sự của người chưa
thành niên, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2002; PGS. TS. Trần Văn Luyện, Những điểm mới
về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 12/2000; ThS. Đặng Thanh Sơn, Pháp luật Việt Nam về tư pháp người chưa
thành niên, Số chuyên đề của Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tháng 12/2008; ThS. Đinh
Văn Quế, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 6/2007; ThS. Đoàn Tấn Minh, Bàn về phạm vi sử dụng thuật ngữ
“người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9(5)/2008; ThS.
Trương Hồng Sơn, Một số quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về vấn đề
quyền của người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí điện tử ngày 20/8/2009
(Http://hvcsnd.edu.vn/); TS. Trịnh Tiến Việt, Những khía cạnh pháp lý hình sự về các
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ phân tích, làm rõ các khái niệm, đặc điểm của người
phạm tội dưới 18 tuổi; khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hình sự, hình phạt và
áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi.
Luận văn khái quát quá trình hoàn thiện pháp luật về áp dụng hình phạt đối
4
với người phạm tội dưới 18 tuổi ở Việt Nam, tập trung làm rõ và đánh giá các quy
định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội
dưới 18 tuổi.
Luận văn phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế , chỉ ra những
nguyên nhân của hạn chế trong áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18
tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Luận văn đề xuất những giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu
quả tổ chức thực hiện pháp luật về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới
18 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận về hình phạt áp
dụng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi và các quy định của pháp luật hình sự
Việt Nam, pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về áp dụng hình phạt đối với
người phạm tội dưới 18 tuổi. Đồng thời, luận văn nghiên cứu tình hình áp dụng hình
phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trong những năm gần đây từ năm 2013
đến năm 2017 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ đối tượng nghiên cứu trên, luận văn có phạm vi nghiên cứu như sau:
Nghiên cứu về một số vấn đề lý luận liên quan đến áp dụng hình phạt đối với
người phạm tội dưới 18 tuổi (như: khái niệm và đặc điểm của người phạm tội dưới
so sánh luật để làm rõ các vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt đối với người phạm
tội dưới 18 tuổi.
Chương 2 tác giả sử dụng phương pháp phân tích và phương pháp so sánh
luật để làm rõ các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trước khi ban hành Bộ
luật Hình sự năm 2015 và các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về áp dụng
hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, đánh giá những thành tựu, những
hạn chế của các quy định.
Chương 3 tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và
phương pháp so sánh kết hợp với việc sử dụng hệ thống bảng thống kê, dẫn chứng
cụ thể để đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nhằm làm rõ những thành tựu đã đạt được và những hạn
chế cần khắc phục. Từ đó, đề xuất các giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật,
nâng cao hiệu quả thi hành quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới
18 tuổi của Bộ luật Hình sự năm 2015 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn sẽ góp phần làm rõ và hoàn thiện lý luận về áp dụng hình phạt đối
6
với người phạm tội dưới 18 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam. Đây sẽ làm tài
liệu tham khảo lý luận cần thiết cho các nhà khoa học nghiên cứu về các vấn đề liên
quan đến luận văn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn sẽ góp phần nâng cao nhận thức của xã hội, của những người áp
dụng pháp luật về vấn đề người phạm tội dưới 18 tuổi và hình phạt áp dụng đối với
họ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng
như công tác giáo dục, cải tạo chủ thể tội phạm là người dưới 18 tuổi hiện nay trên
địa bàn tỉnh nói riêng và trong cả nước nói chung.
1999 về người phạm tội dưới 18 tuổi nhưng không sử dụng cụm từ “người chưa
thành niên phạm tội” mà sử dụng cụm từ “người phạm tội dưới 18 tuổi”. Việc quy
định như vậy nhằm cụ thể hóa và thống nhất cách hiểu về độ tuỏi của người chưa
thành niên phạm tội. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, các cụm từ
“người chưa thành niên”, “người chưa đủ 18 tuổi” được sử dụng với cùng một nội
hàm và ngữ nghĩa như “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”
(Khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015) , “Người lao động chưa thành niên là
người lao động dưới 18 tuổi” (Điều 161 Bộ luật Lao động năm 2012)…
Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành
niên bị tước quyền tự do (Quy tắc Havana) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông
qua ngày 14/12/1990 ghi nhận cụ thể: “Người chưa thành niên là người dưới 18
tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được
tước quyền tự do của người chưa thành niên” [9, quy tắc 2.1 mục a].
Do cụm từ “người chưa thành niên phạm tội” được pháp luật hình sự sử dụng
phổ biến trước đây nên đã có nhiều nhà khoa học định nghĩa người chưa thành niên
phạm tội như: “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18
tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm về
tâm sinh lý và có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
8
hội bị luật hình sự cấm” [4, trang 9]; “Người chưa thành niên phạm tội là người mà
tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định
là tội phạm chưa đến tuổi trưởng thành nhưng có năng lực trách nhiệm hình sự và
đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định” [49, trang 14-15]; Người chưa
thành niên phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ 14 tuổi nhưng
chưa đủ 18 tuổi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Bộ luật Hình sự quy
định là loại tội phạm mà người đó phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm
phải”[49, trang 16]…
có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm
tội sẽ là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Mặt khác, người có năng lực trách
nhiệm hình sự cũng phải đạt đến độ tuổi nhất định. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
không thống nhất trong pháp luật hình sự của các nước trên thế giới, nó dao động từ
7 đến 17 tuổi như pháp luật Singapore, Ấn Độ, Kenya, Jamaica quy định tuổi chịu
trách nhiệm hình sự là 7 tuổi; Scotland quy định là 8 tuổi; Hà Lan, Canada quy định
là 12 tuổi, Việt Nam quy định là đủ 14 tuổi trở lên..
Về khái niệm, người chưa đủ 18 tuổi được xác định là những người mà tại
thời điểm cần xác định tuổi của họ đến trước ngày sinh nhật lần thứ 18 của họ. Điều
12 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm,
trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm
người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt
tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại
một trong các điều sau đây:
a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội
mua bán người dưới 16 tuổi);
b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều
173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);
c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái
phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua
bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);
d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);
10
11
những cơ xúc động mạnh, những phản ứng nóng nảy vô cớ, mất kiểm soát và có
những hành vi bất thường. Do đó, họ dễ thực hiện các hành vi lệch chuẩn.
Về mặt tâm lý, ở lứa tuổi này, con người ra thường có nhu cầu độc lập cao.
Họ không muốn phụ thuộc vào người khác, quá tự tin vào khả năng của chính mình,
muốn tự khẳng định mình. Điều này thể hiện bằng các dạng hành vi ngang bướng,
cố chấp, bảo thủ, tự ái, phô trương, mạo hiểm, côn đồ. Tuy nhiên, họ cũng có nhu
cầu khám phá thế giới rất cao. Đồng thời, khả năng nhận thức, nhất là nhận thức
pháp luật và kinh nghiệm sống chưa nhiều, dẫn đến họ dễ bị kích động, lôi kéo vào
việc khám phá những điều chưa lành mạnh, trái với quy định của pháp luật và đạo
đức xã hội.
Như vậy, vể mặt sinh lý và về mặt tâm lý, người dưới 18 tuổi đều có nguy cơ
phạm tội rất cao. Tuy nhiên, đây là đặc tính tự nhiên của con người và điều này có
thể hiểu được, cần sự đối xử nhân đạo đối với họ. Chính vì vậy, không chỉ riêng
Việt Nam mà pháp luật quốc tế, pháp luật hình sự các quốc gia khác cũng dành dự
quan tâm, đối xử đặc biệt đối với họ để răn đe, giáo dục, cải tạo họ thành người có
ích cho xã hội nếu lỡ gây ra lỗi lầm.
1.1.2 Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
Về mặt khoa học, khái niệm trách nhiệm hình sự được định nghĩa theo nhiều
phương diện khác nhau như “trách nhiệm hình sự là “hậu quả pháp lý của việc
phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của
mình trước nhà nước” [41, trang 41]; “trách nhiệm hình sự là một dạng trách
nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng
tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực
hiện”[24, trang 14]; “trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội
phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều
biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định” [5, trang 609]...
Thứ tư, trách nhiệm hình sự chỉ được thể hiện tại bản án của Toà án đã có
hiệu lực pháp luật bằng việc kết tội và áp dụng đối với người phạm tội một hoặc
nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định.
Thứ năm, đối với chủ thể của tội phạm là cá nhân, trách nhiệm hình sự áp
dụng đối với người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật hình sự
13
quy định. Trách nhiệm hình sự đối với cá nhân mang tính cá biệt đối với mỗi người
vi phạm, mặc dù nhiều người cùng thực hiện hành vi vi phạm giống nhau, có vai trò
như nhau nhưng trách nhiệm hình sự đối với mỗi cá nhân thực hiện hành vi phạm
tội là riêng biệt.
Đây là trách nhiệm hình sự của mọi loại tội phạm. Tuy nhiên, đối với người
phạm tội dưới 18 tuổi, như phân tích trên, họ có những điểm đặc biệt trong phát
triển tâm sinh lý, thêm vào đó, trách nhiệm hình sự đối với họ chủ yếu mang tính
cải tạo, giáo dục là chủ yếu, tính chất trừng trị chỉ là thứ yếu. Do đó, trách nhiệm
hình sự của người phạm tội dưới 18 tuổi có những nét đặc thù riêng, theo hướng có
lợi hơn so với với người phạm tội từ đủ 18 tuổi trở lên (người phạm tội đã thành
niên) như:
Về mức độ, trách nhiệm hình sự của người phạm tội dưới 18 tuổi có tính chất
giảm nhẹ hơn so với người phạm tội đã thành niên.
Về điều kiện áp dụng các chế định ở Phần chung của Bộ luật Hình sự như
xóa án tích, giảm mức hình phạt…. đối với người phạm tội phạm tội dưới 18 tuổi
thấp hơn so với điều kiện áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội như án đã
tuyên đối với người phạm tội dưới 16 tuổi không được tính để xác định tái phạm, tái
phạm nguy hiểm…
Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự, người phạm tội dưới 18 tuổi, đặc biệt
là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với
một số tội phạm nhất định như tội cướp tài sản, tội giết người…
họ cùng thực hiện hành vi có mức độ nguy hiểm ngang nhau. Và chỉ một số hình
phạt được áp dụng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, không áp dụng hình phạt bổ
sung hay hình phạt tù chung thân, hình phạt tử hình đối với chủ thể tội phạm này.
Như vậy, có thể khái quát, hình phạt áp dụng đối với người phạm tội dưới 18
tuổi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước được quy định trong Bộ
luật Hình sự, do Tòa án quyết định cụ thể áp dụng đối người phạm tội từ đủ 14 tuổi
đến dưới 18 tuổi bị tuyên án được thể hiện bằng sự tước bỏ, hạn chế quyền, lợi ích của
người đó nhằm giáo dục, cải tạo, trừng trị họ để họ trở thành thành người có ích cho
xã hội, góp phần bảo vệ chế độ, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp
pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội, của toàn xã hội và của Nhà nước.
Do đó, có thể định nghĩa: Áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18
tuổi được hiểu là việc xác định hình phạt cụ thể được áp dụng đối với người phạm
tội dưới 18 tuổi sau khi đã tuyên án đối với họ, bao gồm: loại hình phạt áp dụng,
mức độ hình phạt áp dụng. Như vậy, sau khi tuyên án đối với người phạm tội dưới
18 tuổi, Tòa án sẽ xác định cụ thể hình phạt được áp dụng đối với họ. Tuyên án và
áp dụng hình phạt là quá trình liên tiếp nhau. Tuyên án là điều kiện cần và áp dụng
hình phạt là điều kiện đủ để xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
nói chung và người phạm tội dưới 18 tuổi nói riêng. Có thể có tuyên án nhưng
không có áp dụng hình phạt khi Tòa án xác định người phạm tội thuộc trường hợp
miễn trách nhiệm hình sự. Nhưng về cơ bản và phổ biến vẫn là tuyên án và áp dụng
hình phạt đối với người phạm tội.
17
Hoạt động áp dụng hình phạt đối với người phạm tội có những đặc điểm
chính sau:
Thứ nhất, đây là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự do Tòa án
thực hiện. Chỉ có Tòa án mới có chức năng áp dụng hình phạt đối với người phạm
tội. Các cơ quan tư pháp khác hoặc chỉ có chức năng tham gia vào việc làm rõ tội
cho loại chủ thể tội phạm này như khiển trách, hòa giải tại cộng đồng…
Ba là, về mức hình phạt cụ thể, người phạm tội dưới 18 tuổi phải chịu mức
hình phạt nhẹ hơn người đã thanh niên nếu họ phạm tội trong cùng điều kiện.
1.3 Quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới
Người dưới 18 tuổi phạm tội là một thực tế mà đỏi hỏi pháp luật hình sự của
các quốc gia trên thế giới đều phải điều chỉnh. Mặc dù xuất phát từ nguyên tắc nhân
đạo trong pháp luật quốc tế và quốc gia nhưng việc phạm tội của người dưới 18 tuổi
không thể không bị truy cứu để đảm bảo an toàn xã hội, đảm bảo sự ổn định và phát
triển của xã hội. Tuy nhiên, xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội - chính trị, truyền
thống pháp luật và các yếu tố chi phối khác mà mỗi quốc gia có quan điểm riêng và
quy định nó pháp luật trong pháp luật hình sự của mình để giải quyết vấn đề người
phạm tội dưới 18 tuổi.
Người chưa thành niên phạm tội là một hiện tượng, thực tế tồn tại ở tất cả
các quốc gia trên thế giới. Mỗi quốc gia đều giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự
đối với người chưa thành niên phạm tội bằng những cách thức khác nhau tùy theo
điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống pháp luật và quan điểm của nhà lập pháp.
* Quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi trong
pháp luật hình sự Liên bang Nga
Bộ luật Hình sự Liên bang Nga được ban hành năm 1996 và được sửa đổi, bổ
sung năm 2010 hiện đang có hiệu lực. Trong Bộ luật này, người phạm tội dưới 18
tuổi được gọi là người chưa thành niên phạm tội như cách gọi trong Bộ luật Hình sự
năm 1999 của Việt Nam. Cũng giống như pháp luật hình sự Việt Nam, Bộ luật Hình
sự Liên bang Nga cũng ban hành một chế định (một chương riêng) quy định về
trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội tại Mục 5 Chương 14 [38,
trang 126].
Điều 87 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định: “người chưa thành niên là
người thực hiện tội phạm đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi”. Với chủ thể tội phạm
này, quan điểm của Nhà nước và pháp luật Liên bang Nga là nhằm mục đích giáo dục,
là không quá 10 năm Điều 88 (trong khi đó thời hạn phạt tù đối người thành niên
quy định tại Điều 57 là không quá 20 năm).
Chỉ khi thật cần thiết Bộ luật Hình sự Liên bang Nga mới cho phép áp dụng
20
hình phạt tù đối với người phạm tội. Và ngay cả khi còn có thể áp dụng án treo thì
Bộ luật Hình sự Liên bang Nga vẫn cho phép áp dụng trong trường hợp tái
phạm:“Trong trường hợp phạm nhân là người chưa thành niên được hưởng án
treo, mà trong thời gian thử thách lại phạm một tội mới, nhưng không đặc biệt
nghiêm trọng thì Tòa án sẽ căn cứ vào những tình tiết của vụ án và nhân thân người
phạm tội có thể lặp lại quyết định về hình phạt án treo đối với người đó sau khi đã
xác định thời hạn thử thách mới và buộc người này phải thực hiện những trách
nhiệm đã được quy định đối với được hưởng án treo căn cứ vào khoản 5 Điều 73
Bộ luật này” [38, trang 130].
Việc quyết định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
được Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định rất chặt chẽ tại Điều 89. Theo đó,
việc quyết định áp dụng hình phạt ngoài việc tuân thủ các căn cứ chung như: tính có
lỗi của hành vi phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội; các tình tiết tăng
nặng giảm nhẹ thì khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên, Tòa án
có thẩm quyền còn phải căn cứ vào các yếu tố:
Thứ nhất, tính đến hoàn cảnh sinh sống và giáo dục, mức độ phát triển tâm
sinh lý, các đặc điểm khác về nhân thân khác và cả tầm ảnh hưởng của những người
lớn tuổi hơn đối với người phạm tội chưa thành niên.
Thứ hai, căn cứ độ tuổi chưa thành niên và xem đây như một tình tiết giảm
nhẹ được cân nhắc cùng với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ hình phạt khác. Tức
là, tuổi càng nhỏ thì việc giảm nhẹ càng phải được lưu ý và đây là tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự.
Các quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
hành những biện pháp bảo vệ để thay đổi tính cách của người chưa thành niên phạm
tội và tạo ra một môi trường giáo dục để điều chỉnh người chưa thành niên đã mắc
phải sai lầm” [50]. Theo đó, việc xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội phải
phải “chân tình, có lợi” cho người chưa thành niên và “cần có mọi cố gắng để bảo
vệ cho được những thuộc tính cao đẹp nhất của người chưa thành niên và làm cho
người chưa thành niên có niềm tin”. Do đó, trên thực tế, người chưa thành niên ở
Nhật Bản ít bị xét xử về hình sự và áp dụng hình phạt mà chủ yếu được xử lý bằng
các biện pháp cải tạo phi hình sự. Vì vậy, nghiên cứu Bộ luật hình sự Nhật Bản cho
thấy không quy định riêng về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên,
22
mà chỉ có nguyên tắc chung phục vụ cho thực tiễn khi xét xử phải theo hướng giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt không quá nghiêm khắc mà thôi.
* Quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi theo
pháp luật hình sự Vương quốc Thụy Điển
Pháp luật hình sự hiện hành của Vương quốc Thụy Điển là Bộ luật hình sự năm
1962 và được sửa đổi, bổ sung lần gần đây nhất năm 2009. Bộ luật Hình sự Vương
quốc Thụy Điển thể hiện chính sách hình sự hết sức nhân đạo của Nhà nước Thụy Điển
và không quy định hình phạt tử hình, hình phạt cao nhất chỉ là tù chung thân.
Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển quy định tuổi chịu trách nhiệm hình
sự là đủ 15 tuổi trở lên và người chưa thành niên theo pháp luật hình sự của Thụy
điển là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 21 tuổi.
Các hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội quy định trong Bộ luật
Hình sự Vương quốc Thụy Điển bao gồm: phạt tiền, phạt tù có thời hạn, hình phạt
có điều kiện, buộc phải chịu thử thách và đưa vào cơ sở chăm sóc đặc biệt. Khi
quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Bộ luật Hình sự
Vương quốc Thụy Điển quy định: Tòa án phải đặc biệt cân nhắc đến độ tuổi của
người đó, hình phạt áp dụng phải nhẹ hơn hình phạt quy định đối với tội phạm