Quản lý nhà nước về du lịch từ thực tiễn tỉnh ninh bình - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ HÒA

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TỪ
THỰC TIỄN TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số : 8380102

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG MINH ĐỨC

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi trong
luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

PHẠM THỊ HÒA


MỤC LỤC


4


Nguyên nhân dễ thấy đó chính là chất lượng dịch vụ chưa cao, số lượng khách lưu trú
đặc biệt là khách quốc tế còn ít, doanh số kinh doanh du lịch còn khiêm tốn... Thêm vào
đó, tỉnh còn có quá ít các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, khu vui chơi giải trí cao cấp đạt
chuẩn quốc tế. Về quản lý nhà nước, các ban ngành còn đang lúng túng, thực hiện kém
hiểu quả, thiếu sáng tạo, thiếu dứt khoát ở tất cả các khâu, đặc biệt là công tác truyền
thông, quảng bá du lịch, quản lý các cơ sở, quản lý chất lượng, uy tín còn chưa cao...
Tất cả những hạn chế nêu trên đang cản trở sự phát triển của ngành du lịch tỉnh
Ninh Bình, điều này dù chủ quan hay khách quan cũng đều xuất phát từ sự yếu kém,
thiếu nhanh nhạy trong công tác quản lý nhà nước về du lịch. Thực tiễn này đòi hỏi phải
có nhiều công trình nghiên cứu hơn nữa để đi sâu, đi rộng vào việc tìm ra những giải
pháp, những bước đi đúng đắn thúc đẩy vai trò của quản lý nhà nước về du lịch, giúp
tỉnh Ninh Bình có thể tận dụng được tối đa những lợi thế của mình, trở thành điểm đến,
điểm khám phá được nhiều du khách lựa chọn, tìm đến hơn nữa.
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: "Quản lý nhà nước về du lịch từ thực tiễn
tỉnh Ninh Bình” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Du lịch và quản lý nhà nước về du lịch là vấn đề được rất nhiều chuyên gia, nhà
khoa học và cả các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu. Tại Việt Nam, đã có một số công
trình nghiên cứu về lĩnh vực này ở nhiều cấp độ khác nhau:
- “Phát triển nhân lực ngành Du lịch Thủ đô và các địa phương phụ cận”- Báo
cáo tham luận Hội thảo quốc gia lần II "Đào tạo nhân lực du lịch theo nhu cầu xã hội”
tháng 11/2011 của ThS. Mai Tiến Dũng, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch Hà Nội. Trong Báo cáo tham luận của mình, ông đã tập trung vào lĩnh vực quản lý
nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch ở Hà Nội, và nghiên cứu rộng
ra địa bàn xung quanh Hà Nội như một mạng lưới liên kết vùng mà tâm điểm là Hà Nội.
Tác giả vừa là người nghiên cứu đồng thời vừa là nhà quản lý với cương vị Phó Giám
đốc Sở Văn hóa - thể thao và du lịch thành phố Hà Nội đã đưa ra những nhận định,

tập trung thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp kinh doanh du
lịch ở Hà Nội hiện nay dưới các góc độ: tổ chức bộ máy quản lý nhà nước,tổ chức các
doanh nghiệp du lịch, thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du
lịch. Trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá về thuận lợi, khó khăn, thời cơ, thách thức và
6


giải pháp, kiến nghị về chính sách vĩ mô đối với các cấp có thẩm quyền từ Trung ương
đến chính quyền và các ban ngành của Thành phố Hà Nội.
-Nguyễn Minh Đức (2007), “Quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại, du
lịch tỉnh Sơn La trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa'’", Luận án tiến sĩ kinh
tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Đây là một công trình nghiên cứu quản
lý nhà nước đối với hoạt động thương mại, du lịch ở một địa phương cụ thể. Luận án đã
phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ; đề xuất quan
điểm và giải pháp nhằm góp phần đổi mới và nâng cao trình độ quản lý nhà nước về
thương mại, du lịch ở tỉnh Sơn La. Tuy nhiên, tác giả chỉ nghiên cứu quản lý nhà nước
đối với hoạt động thương mại, du lịch thuộc khu vực Tây Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh
miền núi, trong đó có tỉnh Sơn La, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa, tiềm
năng phát triển du lịch khác nhiều so với khu vực Đông Bắc Bộ, trong đó có tỉnh Ninh
Bình.
- Nguyễn Thị Thanh Hiền (1995) “Quản lý nhà nước về du lịch trong giai đoạn
phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam"", Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn đã phân tích đặc điểm, vai trò của ngành du
lịch trong giai đoạn đầu phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam, đánh giá thực trạng
quản lý nhà nước về du lịch nói chung và đề xuất những giải pháp nhằm góp phần nâng
cao hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch. Tuy nhiên, tác giả chưa nghiên cứu vấn đề
quản lý nhà nước về du lịch
ở một địa phương cụ thể.
- Nguyễn Văn Mạnh (2007), “Để du lịch Việt Nam phát triển nhanh và bền vững
sau khi gia nhập WTO ”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 115. Bài viết này nghiên cứu

trường nói chung và ở tỉnh Ninh Bình nói riêng; Đánh giá tiềm năng và phân tích một
số yếu tố tác động đến phát triển du lịch sinh thái; Đề xuất một số giải pháp cơ bản phát
triển du lịch sinh thái ở Ninh Bình.
- “Hướng đột phá phát triển du lịch Ninh Bình trong Vùng Đồng bằng sông Hồng
và duyên hải Đông bắc”, Than luận tại Hội thảo: “Ninh Bình - 20 năm đổi mới và phát
triển”, tại thành phố Ninh Bình ngày 25/7/2012, website www.itdr.org.vn thứ tư, 22
tháng 8 năm 2012, 7:00 của Viện nghiên cứu phát triển du lịch. Bài viết tập trung vào

8


đánh giá sơ lược về hiện trạng du lịch và quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh Ninh Bình,
qua đó, đánh giá chung và đưa ra những hướng đột phá để phát triển du lịch.
- Lâm Thị Hồng Loan (2012), “Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh
Ninh Bình”, Luận văn thạc sĩ ngành Kinh tế chính trị, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng
giảng viên lý luận chính trị. Tác giả đề xuất các giải pháp phát triển du lịch theo hướng
bền vững ở tỉnh Ninh Bình.
Khác với các nghiên cứu trên, bài luận văn này sẽ nghiên cứu công tác quản lý nhà
nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thời gian gần đây nhất từ 2013 tới 2017,
một cách trực diện và toàn diện nhất, tức là chúng ta đề cập một cách trực tiếp và đầy
đủ về thực trạng công tác quản lý nhà nước từ trung ương đến các cấp ủy, chính quyền,
ban ngành, đoàn thể của tỉnh Ninh Bình và hệ quả của nó trên tất cả các khía cạnh của
đời sống kinh tế du lịch của tỉnh và ở các cấp độ từ chung đến riêng, từ vĩ mô đến vi
mô, cả ngắn hạn và dài hạn. Đây cũng chính là điểm mới của luận văn này so với các
công trình, đề tài khoa học từ trước tới nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Phân tích về lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Ninh Bình,
đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa
bàn tỉnh nhằm khắc phục những tồn tại, phát huy những hạn chế, thúc đẩy ngành du lịch

Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống,
đánh giá, dự báo, so sánh và phương pháp luật học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa, làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về quản
lý nhà nước đối với hoạt động du lịch.
- Phân tích, đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn từ 2013 đến 2017 về cả những ưu điểm, hạn
chế, nguyên nhân.
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm 2030.

10


- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan và các cá
nhân trong việc nghiên cứu hoạc định chính sách phát triển du lịch nói chung và du lịch
tỉnh Ninh Bình nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần chung là phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục... thì nội dung chính của luận văn được kết cấu như sau:
CHƯƠNG 1. Những vấn đề lý luận chung về quản lý nhà nước về du lịch
CHƯƠNG 2. Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh Ninh Bình
CHƯƠNG 3. Quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường quản lý nhà
nước về du lịch
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH
1.1.

Khái quát chung về quản lý nhà nước về du lịch

1.11.2. Đặc điểm của du lịch
Xuất phát từ những khái niệm về du lịch, có thể rút ra một số đặc điểm chủ yếu
của du lịch như sau:
Một là, du lịch là hoạt động mang tính chất một ngành kinh tế dịch vụ.
Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, khoa học - kỹ thuật,
xã hội...du lịch dần trở thành một ngành kinh tế độc lập, cung cấp các dịch vụ tham
quan, giải trí, nghỉ dưỡng... Tỉ trọng du lịch trong thu nhập quốc dân của các nước trên
thế giới đều tăng lên. Sở dĩ nói đây là một ngành dịch vụ, bởi lẽ du lịch là hoạt động
mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể và
cũng không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản
xuất và đời sống sinh hoạt của con người. Các hoạt động dịch vụ du lịch bao trùm lên
tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chuyên nghiệp, chi phối lớn đến quá trình phát triển
kinh tế nói chung.
Hai là, du lịch là loại hình dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần
cho khách du lịch trong thời gian đi du lịch.
Dịch vụ du lịch khác với ngành dịch vụ khác ở chỗ: dịch vụ du lịch nhằm thỏa
mãn những nhu cầu hàng hóa đặc thù của du khách trong thời gian lưu trú bên ngoài nơi
ở thường xuyên của họ về ăn, ở, nghỉ ngơi, tham quan, đi lại, thông tin về văn hóa, lịch
sử, tập quán, vui chơi giải trí và các nhu cầu khác chứ không thỏa mãn nhu cầu cho tất
13


cả mọi người dân. Thực tế trên toàn thế giới cho thấy, ở nhiều quốc gia, khi thu nhập
của người dân càng tăng lên, đủ nhu cầu ăn mặc thì du lịch trở thành không thể thiếu,
bởi vì nó vừa thỏa mãn nhu cầu tình cảm và lý trí, vừa là một hình thức nghỉ dưỡng tích
cực, nhằm tái tạo lại sức lao động của con người.
Ba là, thời gian và không gian xảy ra việc tiêu dùng và cung ứng dịch vụ du lịch
là đồng nhất.
Trong du lịch, việc tiêu dùng các dịch vụ và một số hàng hóa (đồ uống, thức ăn...)
xảy ra cùng một thời gian và cùng một địa điểm với việc sản xuất ra chúng; người cung

có những tác động nhất định lên môi trường. Tùy theo các tiêu chí mà du lịch được
phân thành nhiều loại hình khác nhau [26, tr11]:
Du lịch Quốc tế: Là sự di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác, du khách
phải ra khỏi vùng lãnh thổ biên giới và tiêu bằng ngoại tệ nơi họ đến du lịch.
Du lịch nội địa: Là sự di chuyển từ nơi này sang nơi khác trong cùng một phạm
vi lãnh thổ của một quốc gia.
Du lịch văn hóa: là du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tò mò, nâng cao hiểu biết của du
khách về những khu di tích lịch sử, những công trình kiến trúc, chế độ xã hội, văn hóa,
phong tục, tập quán của nơi đến du lịch.
Du lịch lễ hội, tôn giáo: Lễ hội là một nét truyền thống văn hóa, tâm linh không
thể thiếu được trong đời sống của con người, nó chứa đựng những giá trị tinh thần, văn
hóa, phong tục, tập quán đặc trưng, riêng biệt, đồng thời đem lại cho du khách sự bình
yên, sự khám phá, sự hòa quyện vào văn hóa với người dân địa phương, quên đi những
khó khăn, vất vả trong cuộc sống.
Du lịch tham quan, sinh thái: là loại hình du lịch giúp du khách mở mang sự
hiểu biết hữu hạn của con người về thế giới vật thể bên ngoài. Đối tượng tham quan là
các khu di tích lịch sử, tài nguyên du lịch tự nhiên, hoặc các công trình kiến trúc cổ...
Du lịch nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh: là loại hình du lịch mà ngoài thời gian tham
quan, du khách còn được thư giãn, nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe, do đó, loại hình du
lịch này thường gắn liền với việc vui chơi giải trí, thư giãn cùng các khu vui chơi,
chương trình giải trí, spa, mát xa... ra đời.

15


Du lịch thể thao: Loại du lịch này nhằm đáp ứng sự năng động, đam mê thể thao
của một bộ phận khách du lịch. Họ đi du lịch kết hợp giữa tham quan thiên nhiên - nơi
có những môn thể thao họ yêu thích và chơi những môn thể thao đó.
Du lịch khám phá: Loại hình du lịch này gần giống với du lịch tham quan,
tuy nhiên về tính chất nhu cầu của khách du lịch thì khác nhau: một loại du lịch với

Quản lý nhà nước có thể được hiểu theo hai bình diện:
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của hệ thống
các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của
quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp [12, tr 27].
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành của các cơ quan hành
chính nhà nước, đó là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà
nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật nhằm đạt
được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước [12, tr 27].
Trong luận văn, khái niệm quản lý nhà nước theo cả hai nghĩa rộng và hẹp đều
được khai thác tùy theo từng vấn đề, phạm vi, góc độ tiếp cận khác nhau để xem xét và
giải quyết vấn đề.
Xuất phát từ những trình bày trên về du lịch và quản lý nhà nước, có thể định
nghĩa: Quản lý nhà nước về du lịch là quá trình tác động của Nhà nước đến du lịch qua
các công cụ quản lý nhằm đảm bảo cho lĩnh vực này phát triển phù hợp với lợi ích của
Nhà nước, của xã hội, phát triển đúng định hướng của Nhà nước, tạo nên sự công bằng
trong hoạt động du lịch để du lịch thực sự là một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở sử
dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước trong điều kiện mở
cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Các cơ quan nhà nước, đặc biệt chủ yếu là các cơ quan nhà nước chuyên ngành
thực hiện sự quản lý đối với hoạt động du lịch. Cơ quan nhà nước chuyên ngành là cơ
quan được nhà nước thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ
máy. Hiện nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở Trung ương; Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Phòng Văn hóa - Thông tin các
huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố là các cơ quan nhà nước
chuyên ngành thực hiện hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch.

17


Về chủ thể quản lý nhà nước về du lịch: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về


buộc thực hiện, nếu không thực hiện thì sẽ tiến hành xử lý bằng nhiều hình thức, trong
đó có cả biện pháp cưỡng chế.
Về mức độ xã hội hóa hoạt động quản lý nhà nước về du lịch, mức độ này trong
lĩnh vực du lịch tương đối nhiều hơn so với các lĩnh vực khác. Một số doanh nghiệp, tổ
chức và cá nhân được Nhà nước giao quyền quản lý đối với một số hoạt động nghỉ
dưỡng như khai thác tài nguyên du lịch, quản lý các khu, địa điểm vui chơi - giải trí,
nghỉ dưỡng... Vì thế, việc quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch được xã hội hóa
một cách tối đa nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong công tác quản lý các hoạt động
du lịch.
1.1.3. Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch
Một là, Nhà nước là chủ thể tổ chức và quản lý các hoạt động du lịch.
Hai là, Nhà nước tổ chức và quản lý hoạt động du lịch bằng phương thức, hệ
thống công cụ như pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. nhằm phát
triển du lịch.
Ba là, quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch đòi hỏi phải có một bộ máy Nhà
nước mạnh mẽ, nhất quán, hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả và một đội ngũ cán bộ quản
lý nhà nước có trình độ, năng lực, đạo đức thật sự và không ngừng trau dồi.
Bốn là, quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch còn xuất phát từ chính nhu cầu
khách quan của sự gia tăng vai trò của chính sách, pháp luật. với tư cách là công cụ
quản lý.
1.1.4. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về du lịch
Nhà nước ra đời với tư cách là một công cụ quyền lực chung để duy trì trật tự xã
hội, do đó, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều phải được quản lý bởi Nhà nước, kể cả
du lịch nói riêng.
Sự quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch là đòi hỏi khách quan cần thiết, bởi
lẽ:
- Chính sách, pháp luật của Nhà nước giúp tạo dựng môi trường thuận lợi, an toàn
cho du lịch phát triển nhanh và hiệu quả hơn.


giới.. .nên du lịch có vai trò to lớn như một nhân tố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao
lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc. Du lịch quốc tế làm cho con người
sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau. Trong lịch sử đã có nhiều
hoạt động du lịch dưới vai trò là cầu nối hòa bình với những chủ đề khác nhau như: "Du
lịch là giấy thông hành của hòa bình" (1967), "Du lịch không chỉ là quyền lợi, mà còn là
20


trách nhiệm của mỗi người" (1983)... các chủ đề này đã kêu gọi hàng triệu người quý
trọng lịch sử, văn hóa và truyền thống của các quốc gia, giáo dục lòng mến khách và
trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị
giữa các dân tộc.
Ba là trong lĩnh vực văn hóa, xã hội:
Việc khai thác đưa những tài nguyên du lịch vào sử dụng luôn đòi hỏi phải đầu tư
về mọi mặt giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hóa - xã hội... Vì thế mà việc phát triển
du lịch sẽ làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở những vùng đó, giảm đi sự chênh lệch
về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng trong cả nước, đồng thời cũng góp
phần làm giảm đi sự tập trung dân cư ở một nơi.
Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo rất hiệu quả cho đất nước chủ nhà
về tất cả mọi phương diện, lĩnh vực mà không phải tốn kém nhiều tiền bạc. Dưới góc độ
kinh tế: du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu hiệu cho hàng hóa nội địa ra
nước ngoài thông qua du khách bằng phương thức tuyên truyền cho bạn bè, người
thân... Nếu mặt hàng đó được yêu thích, trở thành nhu cầu của con người tại các quốc
gia khác, các hàng hóa này sẽ được cung ứng cho họ qua các thương nhân, cá nhân đi
du lịch, công tác... .Dưới góc độ xã hội: du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo
hữu hiệu về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giới thiệu về con người,
phong tục, tập quán... nơi họ đã đến. Thông qua du lịch con người được thỏa mãn được
trí tò mò, thay đổi môi trường, có ấn tượng và cảm xúc mới, đồng thời mở mang kiến
thức, do đó góp phần hình thành phương hướng đúng đắn trong mơ ước sáng tạo, trong
kế hoạch cho tương lai của con người - du khách. Trong thời gian tiếp xúc với người

thông tin... Nhà nước thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức
thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch, vừa tạo ra môi trường pháp lý
thuận lợi, bình đẳng để các nhà kinh doanh du lịch yên tâm đầu tư, kinh doanh.
Về vai trò tổ chức, Nhà nước tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị kinh doanh du lịch,
đảm bảo công tác tổ chức, quy hoạch các khu, các điểm du lịch hoạt động hiệu quả.
Đồng thời, Nhà nước tổ chức lại hệ thống quản lý các cơ quan quản lý nhà nước về du
lịch từ trung ương đến cơ sở; đổi mới thể chế và thủ tục hành chính; sắp xếp, đào tạo và
đào tạo lại cán bộ công chức quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp; thiết lập các
mối quan hệ hợp tác về du lịch với các nước và các tổ chức du lịch quốc tế.
22


Về vai trò điều tiết các hoạt động du lịch và can thiệp thị trường, các chủ thể
kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng được Nhà nước bảo vệ quyền lợi
hợp pháp, khuyến khích và đảm bảo bằng pháp luật cạnh tranh bình đẳng, chống độc
quyền. Để thực hiện chức năng này, một mặt Nhà nước hướng dẫn, điều chỉnh các
doanh nghiệp du lịch hoạt động theo định hướng đã định ra, mặt khác, Nhà nước phải
can thiệp, điều tiết thị trường khi cần thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Hiện nay,
một trong những vấn đề gây trở ngại cho quá trình phát triển ở nước ta chính là cạnh
tranh bất bình đẳng và không lành mạnh, do đó, vai trò điều tiết các hoạt động du lịch
của Nhà nước lại càng cần phải mạnh mẽ và triệt để hơn nữa.
Về vai trò kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm, các hoạt động của mọi chủ thể
kinh doanh du lịch cũng như chế độ quản lý của các chủ thể đó (Về đăng kí kinh doanh,
chất lượng cũng như tiêu chuẩn sản phẩm...) đều được Nhà nước giám sát. Nhà nước
phát hiện những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm pháp luật và các quy định
của Nhà nước, từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh thích hợp nhằm tăng cường hiệu
quả của quản lý nhà nước về hoạt động du lịch. Nhà nước còn quản lý công tác đào tạo,
bồi dưỡng, bảo vệ tài nguyên môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, thuần
phong mỹ tục của dân tộc trong hoạt động phát triển du lịch; đồng thời, kiểm tra, đánh
giá sức mạnh của hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về du lịch cũng như năng lực của

nước về du lịch ở trung ương là Bộ Văn hóa - Thể thao và du lịch chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch. Các nội dung về tổ chức bộ
máy quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch quy định rõ nhiệm vụ, thẩm quyền,
trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Văn hóa - Thể thao và du lịch, các bộ, ngành liên quan,
Chính quyền cấp tỉnh, huyện, xã về quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch nhằm nâng
cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch.
Đối với các cấp chính quyền địa phương, Sở Văn hóa - Thể thao và du lịch là cơ
quan quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn cấp tỉnh và Phòng Văn hóa - Thông tin là
cơ quan quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn cấp huyện. Các cơ quan này có chức
năng tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành kế hoạch, quy hoạch về du
lịch; tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực hoạt động du lịch thông qua công tác
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về du lịch; sử dụng và áp dụng pháp luật
đúng đắn trong công tác quản lý nhà nước về du lịch, cụ thể như: Quản lý khai thác tài
24


nguyên du lịch, môi trường du lịch, quản lý lưu trú, ăn uống, khách sạn, quản lý lữ
hành, hướng dẫn du lịch... Tuy nhiên, đối với chính quyền địa phương, việc thành lập tổ
chức bộ máy quản lý nhà nước để quản lý hoạt động du lịch còn nhiều bất cập, cứng
nhắc và khuôn khổ. Vì thực tế hiện nay, do điều kiện, hoàn cảnh và nguồn tài nguyên du
lịch ở mỗi địa phương có khác nhau, có địa phương thì có nhiều danh lam thắng cảnh
hoặc di tích lịch sử được nhiều du khách trong nước và quốc tế lựa chọn và ngược lại.
Do vậy, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch thì phải có cơ chế
đặc thù để tạo điều kiện cho các địa phương có tiềm năng phát huy tối đa hiệu quả lĩnh
vực du lịch.
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật.
Quản lý nhà nước bao giờ cũng gắn liền với công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý
vi phạm pháp luật. Mục đích của thanh tra, kiểm tra không chỉ là rà soát vi phạm để xử
lý mà còn nhằm phát hiện, khắc phục những khó khăn để hoạt động du lịch nói riêng
được tốt hơn. Tuy nhiên, dù thanh tra, kiểm tra là cần thiết nhưng không được làm ảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status