DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP GIÚP HS HỌC TỐT MÔN ĐỊA LÝ LỚP 4 - Pdf 50

DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP GIÚP HS HỌC
TỐT MÔN ĐỊA LÝ LỚP 4
I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính
tích cực chủ động học tập của học sinh, thì phương pháp dạy học được xem như là một cách
thức hoạt động của GV trong việc chỉ đạo tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ
động trong học tập và đạt các mục tiêu dạy học ở tất cả các môn học nói chung và phân môn địa
lí trong chương trình lớp 4 nói riêng .
Phân môn địa lí là một môn học mới trong chương trình tiểu học lớp 4, có phạm trù rộng lớn và
có tính thực nghiệm. Nó không chỉ dừng lại ở việc mô tả các sự vật hiện tượng địa lí trên bề mặt
Trái đất mà còn giải thích, phân tích, so sánh tổng hợp các yếu tố địa lý cũng như giúp HS thấy
được mối quan hệ giữa chúng với nhau. Đồng thời nó còn giáo dục các em việc phát hiện, khai
thác, sử dụng, bảo vệ và cải tạo tài nguyên thiên nhiên, môi trường một cách hợp lí nhằm góp
phần tích cực vào việc xây dựng kinh tế- xã hội, quốc phòng an ninh của Tổ quốc.
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy chương trình lớp 4, trong đó có phân môn địa lí. Tôi nhận thấy
nhiều giáo viên và HS còn cho rằng phân môn địa lí là môn phụ, môn học thuộc lòng, chỉ cần
cho các em tìm hiểu kiến thức thông qua các câu hỏi trong SGK và cho HS đọc nhiều lần để rút
ra kết luận của bài học. Với phương pháp dạy học như vậy dẫn đến các em có thói quen ghi nhớ
kiến thức máy móc. Chính vì thế việc ghi nhớ các kiến thức của các em không lâu bền, các em
dễ nhằm lẫn các kiến thức và quan trọng hơn là không biết phát huy tính tích cực học tập của
từng học sinh. Giáo viên không phân hóa đối tượng trong quá trình dạy học.
Để giúp giáo viên khắc phục tình trạng này và vận dụng những phương pháp dạy học mới vào
dạy học tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập nhằm
giúp học sinh học tốt môn địa lí lớp 4” để rút ra những kinh nghiệm trong quá trình phân hóa đối
tượng cho HS, giúp HS tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức trong việc học phân môn địa lí ở
lớp 4.
II. m« t¶ gi¶I ph¸p :
1. Những hạn chế khi chưa sử dụng phương pháp dạy học tích cực
– Giáo viên dạy theo phương pháp truyền thống. Học sinh tiếp thu kiến thức thụ động. Giờ học
còn mang nặng lý thuyết, chưa nhẹ nhàng và phong phú, sôi nổi.
– Giáo viên mới chỉ truyền thụ kiến thức SGK theo các tiết học, việc hướng dẫn HS tự giác học



So
sánh
với
phương
pháp
học
thụ
động?
+ Dạy học thụ động hướng dẫn của GV mang tính áp đặt, HS-SV ít tích cực. Với dạy học tích
cực hướng dẫn của GV mang tính định hướng, HS-SV tự lực, năng động.
Hình 2. Biểu đồ mô tả dạy học thụ động và dạy học tích cực

Những
biểu
hiện

bản
của
phương
pháp
dạy
học
tích
cực
+ Đối với GV: Cho thấy sự chuẩn bị, chọn lọc các phương pháp phù hợp; biết gợi mở, dẫn dắt
HS khám phá kiến thức; thời gian hoạt động ít nhưng thời gian quan sát theo dõi nhiều.
+ Đối với HS: Đóng vai trò chủ động, là trung tâm trong việc tìm hiểu tri thức mới, tự quyết định
phong cách, nhịp độ của việc học, đồng thời biết vận dụng tốt kiến thức vào công việc thực tiễn,

– Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn” Hoạt động theo nhóm (4người /nhóm) Mỗi người ngồi
vào vị trí như hình vẽ minh họa. Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,…). Viết vào ô mang số của
bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề…). Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài
phút. Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các
câu trả lời. Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn.
2- Kĩ thuật “Các mảnh ghép”
– Kĩ thuật “Các mảnh ghép” Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên
kết giữa các nhóm nhằm: Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp – Kích thích sự tham gia tích cực
của HS để nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (không chỉ hoàn thành nhiệm vụ
ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2).
– Cách tiến hành kĩ thuật “Các mảnh ghép” Vòng 1- Vòng 2 1 11 11 1 2 22 22 2 3 33 3 33.
VÒNG 1: Hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người. Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (Ví dụ:
nhóm 1: nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B; nhóm 3: nhiệm vụ C). Đảm bảo mỗi thành viên trong
nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao. Mỗi thành viên đều trình bày
được kết quả câu trả lời của nhóm.


VÒNG 2: Hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới (1 người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2 và 1
người từ nhóm 3…). Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm
mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Sau khi chia sẻ thông tin vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho
nhóm ở vòng 2 để giải quyết. Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng.
3-Sơ đồ tư duy
* Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy, là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin
vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não, là một phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả:
+ Mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng.
+ Bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng.
Sơ đồ tư duy là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng hay kết quả làm
việc của cá nhân/ nhóm về một chủ đề.
Viết tên chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm.
• Từ chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viết một nội

– Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý
tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một
triển lãm tranh.
– HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’ và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung.
– Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối ưu.
6- Kĩ thuật “ Trình bày một phút”: Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học
và đặt những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn
và cô đọng với các bạn cùng lớp.


7- Kĩ thuật “Chúng em biết 3”:
– GV nêu chủ đề cần thảo luận.
– Chia HS thành các nhóm 3 người và yêu cầu HS thảo luận trong vòng 10 phút về những gì
mà các em biết về chủ đề này.
– HS thảo luận nhóm và chọn ra 3 điểm quan trọng nhất để trình bày với cả lớp.
– Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên.
8- Kĩ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”
– GV đưa ra một câu chuyện / một vấn đề / một bức tranh / một thông điệp /… mới chỉ được
giải quyết một phần và yêu cầu HS / nhóm HS hoàn tất nốt phần còn lại.
– HS/nhóm HS thực hiện nhiệm vụ được giao.
– HS/nhóm HS trình bày kết quả.
– Gv hướng dẫn cả lớp cùng bình luận, đánh giá
* Ví dụ: Áp dụng các kĩ thuật giảng dạy cho một bài cụ thể :
Bài 9. Thành phố Đà Lạt
CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU
1. Khởi động:
– HS nghe bài hát : Đà Lạt tôi yêu
– HS kể những cảnh đẹp của Đà Lạt .
2. Trải nghiệm – Khám phá:
– HS kể những điêu em biết về Đà Lạt ?



Phương pháp hình thành biểu tượng Địa lí.
Phương pháp sử dụng bản đồ.
Phương pháp sử dụng bảng số liệu.
* Vận dụng các phương pháp trong dạy và học Địa lí nhằm phát huy tính tích cực chủ động của
HS trong học tập
1. Phương pháp hình thành biểu tượng Địa lí:
Các biểu tượng Địa lí là những hình ảnh về các sự vật hiện tượng Địa lí tri giác phản ánh vào
trong ý thức của học sinh, được giữ lại trong trí nhớ và có khả năng tái tạo theo ý muốn. Biểu
tượng là hình ảnh cụ thể và bao giờ cũng có tính riêng lẻ. Đối với học sinh tiểu học, biểu tượng
Địa lí được phân làm 2 loại:
– Biểu tượng kí ức (còn gọi là biểu tượng tái tạo) là sự phản ánh đối tượng đã tri giác trong quá
khứ.
– Biểu tượng tưởng tượng (còn gọi là biểu tượng sáng tạo) là sự phản ánh những đối tượng tuy
không tri giác trực tiếp, nhưng được tư duy tạo ra trên cơ sở những đối tượng có liên quan đã tri
giác được.
Các biểu tượng Địa lí được học ở tiểu học là các biểu tượng cụ thể mà các em có thể quan sát
được trực tiếp ngoài thực địa hay qua tranh ảnh như: núi, đồi, rừng rậm nhiệt đới, đồng bằng,
ruộng bậc thang, rừng ngập mặn, thành phố, nông thôn, hồ, thác,…
Để sử dụng thành công phương pháp này, giáo viên phải tổ chức cho học sinh được quan sát
trực tiếp đối tượng tại thực địa hoặc qua tranh ảnh, băng hình. Học sinh được quan sát một cách
có mục đích, có kế hoạch để có được biểu tượng đúng về đối tượng Địa lí thông qua các bước
sau đây:
Đối với việc hình thành biểu tượng kí ức:
Bước 1: Lựa chọn đối tượng quan sát.
Bước 2: Xác định mục đích quan sát.
Bước 3: Tổ chức hướng dẫn cho học sinh quan sát đối tượng thông qua hệ thống câu hỏi, bài
tập được sử dụng dựa trên mục đích quan sát và trình độ hiểu biết của học sinh.
Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả quan sát về đối tượng. Sau đó giáo viên cùng

thang như thế nào, cô mời các em cùng quan sát hình 1/ sgk/ 77, thảo luận và trả lời các câu hỏi
sau:
Câu 1: Xác định tên ảnh hình 1 trang 77 là gì?
Câu 2: Ruộng bậc thang thường làm ở đâu?
Câu 3: Trên ruộng bậc thang người dân ở Hoàng Liên Sơn thường những trồng cây gì?
Câu 4: Tại sao phải làm ruộng bậc thang?
Bước 4: Tổ chức cho học sinh trình bày kết quả.
– Đại diện các nhóm trình bày (có thể gọi bất kì mỗi nhóm trả lời 1 câu, các nhóm khác đóng
góp ý kiến, bổ sung để hoàn chỉnh câu trả lời).
– Học sinh nhận xét, giáo viên nhận xét. Giáo viên chốt ý: để trồng lúa nước trên đất dốc,
người dân xẻ sườn núi thành những bậc phẳng gọi là ruộng bậc thang. Trên ruộng người ta
thường trồng lúa, ngô, chè, rau,…Trồng trọt là nghề chính của người dân Hoàng Liên Sơn, vừa
phát triển về kinh tế gia đình vừa giúp cho việc giữ nước, chống xói mòn nên độ màu mỡ của
đất rừng không bị rửa trôi. Giáo viên có thể mở rộng: ở nước ta ruộng bậc thang xuất hiện hơn
100 năm qua, tập trung ở một số vùng núi cao như Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu đặc biệt có nhiều
ở Sa Pa.
* Đối với việc hình thành biểu tượng tưởng tượng:
Bước 1: Giáo viên tìm hiểu xem học sinh có những biểu tượng nào có liên quan với biểu tượng
sắp học.
Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh, phân tích, tổng hợp đối tượng tưởng tượng.
Bước 3: Tổ chức hướng dẫn học sinh làm việc thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập được sử
dụng theo từng trường hợp cụ thể.
Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo, hoàn thiện kết quả làm việc thông qua hệ thống câu hỏi
và bài tập. Sau đó, giáo viên cùng học sinh liên hệ so sánh những điểm giống nhau và khác
nhau giữa đối tượng tưởng tượng và đối tượng quan sát. Mô tả biểu tượng một cách sinh động
nhằm giúp học sinh tưởng tượng ra biểu tượng về một đối tượng toàn vẹn theo bước phân tích
và tổng hợp.
* Ví dụ minh họa: Ví dụ 1: Bài 4. Trung du Bắc Bộ
Hoạt động 2: Tìm hiểu về chè và cây ăn quả ở Tây Nguyên: Học sinh quan sát và nêu quy trình
chế biến chè.

đưa các câu hỏi trên bảng phụ yêu cầu một em đọc nội dung câu hỏi:
Câu 1: Nhà em đang ở được làm bằng gì? Bếp có chung với phòng ngủ hay không?
Câu 2: Sàn nhà và mặt đất có cách nhau không?
Câu 3: Theo em, có loại nhà nào mà giữa sàn nhà và mặt đất có Ø khoảng cách nhau?
Câu 4: Có loại nhà làm bằng gỗ, tre, nứa,… không? Đó gọi là nhà gì?
Câu 5: Tại sao có loại nhà này ở miền núi?
Bước 4: Đại diện các nhóm trình bày, học sinh nhận xét, bổ sung. Giáo viên tuyên dương những
nhóm có ý kiến đúng, phong phú về nội dung (học sinh nêu được những điểm khác nhau giữa
nhà em ở đồng bằng khác với nhà sàn ở miền núi và học sinh xác định nhà sàn là nhà như thế
nào ? Tại sao người dân tộc miền núi phải làm nhà sàn để ở?).
Giáo viên kết luận: cho học sinh xem tranh sgk/73 (photo phóng to hoặc hình ảnh trên giáo án
điện tử).
Giáo viên chốt ý: Dân tộc ở Hoàng Liên Sơn thường sống tập trung thành bản, các bản nằm
cách xa nhau. Họ sống ở nhà sàn, họ làm nhà sàn để chống ẩm thấp và thú dữ. Nhà sàn được
làm bằng các vật liệu tự nhiên như gỗ, tre, nứa…Bếp được đặt ở giữa nhà không chỉ là nơi đun
nấu mà còn để sưởi ấm khi mùa đông giá rét và hiện nay, một số nhà sàn đã được lợp bằng
ngói trên mái nhà.
2. Phương pháp sử dụng bản đồ: Bản đồ địa lí là hình vẽ thu nhỏ bề mặt Trái Đất hoặc một bộ
phận của bề mặt Trái Đất trên mặt phẳng dựa vào các phương pháp toán học, phương pháp
biểu hiện bằng kí hiệu để thể hiện các thông tin địa lí. Đối với lớp 4, các em đã được làm quen
với bản đồ và biết một số yếu tố trên bản đồ ( tên bản đồ, phương hướng, tỷ lệ bản đồ, ký hiệu
bản đồ,…).
Để sử dụng phương pháp này, giáo viên hướng dẫn học sinh theo các bước sau:
Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bản đồ.
Bước 2: Xem bảng chú giải để có biểu tượng địa lí cần tìm trên bản đồ.
Bước 3: Tìm vị trí địa lí của đối tượng trên bản đồ dựa vào kí hiệu.
Bước 4: Quan sát đối tượng trên bản đồ, nhận xét và nêu đặc điểm đơn giản của đối tượng.
Bước 5: Xác lập mối liên hệ địa lí đơn giản giữa các yếu tố và các – thành phần như địa hình và
khí hậu; địa hình, khí hậu, sông ngòi; thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người … trên
cơ sở học sinh biết kết hợp những kiến thức bản đồ và kiến thức địa lí để so sánh và phân tích.

Câu 4 : Với độ cao đó , Đà Lạt có khí hậu như thế nào?
Câu 5: Tại sao Đà Lạt được chọn làm nơi du lịch nghỉ mát?
– Các nhóm thảo luận, dự kiến thời gian 4 phút.
– Giáo viên theo dõi giúp đỡ nhóm có học sinh yếu.
Bước 4: Đại diện các nhóm trình bày.
– Nhìn vào lược đồ trên bảng, các nhóm lần lượt trình bày (có thể yêu cầu 2 nhóm bất kì trình
bày, các nhóm khác nhận xét bổ sung, giáo viên nhận xét) và chốt ý.
3. Phương pháp sử dụng bảng số liệu: Bảng số liệu là các số liệu được tập hợp thành bảng gọi
là bảng số liệu.
Ở lớp 4 các em bước đầu làm quen với bảng số liệu đơn giản. Để giúp học sinh khai thác kiến
thức từ bảng số liệu, người giáo viên cần xác định kiến thức trong bài cần nắm qua bảng số liệu
và đưa ra một số câu hỏi dựa vào bảng số liệu và trình độ của học sinh để các em tìm ra kiến
thức. Qua đó, giúp học sinh phát triển kĩ năng so sánh, đối chiếu, phân tích… các số liệu. Để
thực hiện phương pháp này, giáo viên hướng dẫn học sinh làm việc qua các bước sau:
Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bảng số liệu.
Bước 2: Đọc nhan đề của bảng số liệu.
Bước 3: Xem tên các cột, nắm được ý nghĩa đơn vị và thời điểm đi kèm với các số liệu ở từng
cột.
Bước 4: Đối chiếu các số liệu theo hàng dọc, hàng ngang của bảng số liệu để rút ra nhận xét.
* Ví dụ minh họa: Bài 21. Thành phố Hồ Chí Minh:
Hoạt động 1: Tìm hiểu về Thành phố Hồ Chí Minh thành phố lớn nhất cả nước
Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bảng số liệu.
Bước 2: Đọc nhan đề của bảng số liệu.
Bước 3: Xem tên các cột, nắm được ý nghĩa đơn vị và thời điểm đi kèm với các số liệu ở từng
cột.
Yêu cầu học sinh : Quan sát bảng số liệu về diện tích và số dân của một số thành phố, em hãy
trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Nêu diện tích và dân số của thành phố Hồ Chí Minh?
Câu 2: Hãy so sánh diện tích và dân số của thành phố Hồ Chí Minh với các thành phố khác?
Câu 3: Diện tích và dân số ở thành phố Hồ Chí Minh gấp khoảng mấy lần thành phố Hà Nội?

– Chỉ được thành phố Đà Nẵng trên bản đồ – lược đồ.
B. Đồ dùng
– Bản đồ địa lý Việt Nam – Lược đồ thành phố Đà Nẵng .
– Một số tranh ảnh cảng thành phố Đà Nẵng – nơi du lịch.
– Bài hát: Đà Nẵng thành phố tôi yêu (Trúc Nam).
– Phiếu bài tập (hoạt động 2).
C. Hoạt động dạy học:
1. Khởi động (2′)
– GV cho HS nghe bài hát “Đà Nẵng thành phố tôi yêu “
? Bài hát ca ngợi thành phố nào? <Thành phố Đà Nẵng>
– GV bổ sung: Bài hát “Đà Nẵng thành phố tôi yêu ” của Trúc Nam
? Thế ở lớp mình những em nào đã được đến thành phố Đà Nẵng rồi?
<HS trả lời>
2. Trải nghiệm (2′)
– Học sinh kể những điều đã biết về thành phố Đà Nẵng
=> GV giới thiệu bài: Thành phố Đà Nẵng
3. Khám phá, tìm hiểu kiến thức
* Hoạt động 1: Thảo luận nhóm đôi (3′)
Bản đồ địa lý Việt Nam
– Tìm vị trí thành phố Đà Nẵng trên bản đồ địa lý Việt Nam?
Lược đồ thành phố Đà Nẵng
– Xác định vị trí, giới hạn thành phố Đà Nẵng trên lược đồ thành phố Đà Nẵng?


– Nêu các loại đường giao thông có ở Đà Nẵng?
– Học sinh báo cáo kết quả
– Kết luận: Đà Nẵng là đầu mối giao thông lớn ở duyên hải miền trung vì thành phố Đà Nẵng là
nơi đến và nơi xuất phát của nhiều tuyến đường giao thông quan trọng như đường sắt, đường
bộ, đường thủy, đường hàng không. Đó là điều kiện thuận lợi để Đà Nẵng trở thành 1 thành phố
cảng.

– Chất lượng giáo dục về các mặt được nâng cao: HS tích cực, tự giác trong học tập, HS tự điều
khiển các nhóm học tập sôi nổi, tự tổ chức được các hoạt động tập thể như : Giao lưu PTNLHS,
hoạt động ngoài giờ lên lớp ….
– Giáo viên tích cực nghiên cứu bài dạy, tổ chức linh hoạt sáng tạo các tiết dạy, các tiết dạy tổ
chức nhẹ nhàng sôi nổi và mang lại hiệu quả cao.
– HS mạnh dạn hơn trong giao tiếp, các kỹ năng sống được rèn luyện tạo cho HS tác phong
nhanh nhẹn, tự tin hơn trong học tập. HS hăng hái, chủ động, tự giác tham gia các hoạt động
HT, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên những cái đã biết. Sáng tạo vận dụng
kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống.
– HS ham thích học môn Địa lí vì các em thấy được nhiều điều cần khám phá cuộc sống và thế
giới xung quanh.
– Chất lượng giảng dạy đã được nâng cao, kết quả kiểm tra định kì cuối kì I vừa qua đạt kết quả
cao. Cụ thể: 100% học sinh biết làm quen với những dạng bài. Trong đó( qua kiểm tra chất
lượng) có:


+ Học sinh đạt điểm giỏi: 15 học sinh – đạt 50 %
+ Học sinh đạt điểm khá: 12 học sinh – đạt 40 %
+ Học sinh đạt điểm trung bình: 3 học sinh – đạt 10%
+ Không có học sinh điểm kém
2. Bài học kinh nghiệm :
Vì vậy, sau thời gian nghiên cứu và thực hiện: “Vận dung dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt
động học tập của học sinh” mà tôi đã áp dụng, tôi rút ra được một số kết luận và bài học kinh
nghiệm như sau :
Một là: Người GV phải nhiệt tình nghiên cứu và có được những hiểu biết về các nội dung đổi
mới thì mới điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tích cực hóa để thực hiện tốt nội dung dạy
học hiện nay.
Hai là: Tích cực tổ chức các hoạt động tập thể để học sinh được rèn các kỹ năng giao tiếp – tổ
chức các hoạt động sẽ góp phần lớn cho việc dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học
tập của học sinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status