Nghiên cứu nhu cầu về tài khoản cá nhân và các biện pháp marketing cho SGD ngân hàng VCB để phát triển sản phẩm tài khoản cá nhân - Pdf 50

MỤC LỤC

Dịch vụ trả và nhận lương tự động.................................................................................5
Dịch vụ trả và nhận lương tự động làdịch vụ chi trả lương, thưởng, thù lao định kỳ
cho cán bộ, công nhân viên, và các đại lý của doanh nghiệp bạn một cách nhanh
chóng, anh toàn, chính xác. Dịch vụ này tiện ích cho cá người quản lý doanh
nghiệp và người nhận lương...................................................................................5
Dịch vụ quản lý tài khoản tiền giao dịch chứng khoán..................................................5
Dịch vụ quản lý tài khoản tiền giao dịch chứng khoán được cung cấp nhằm quản lý tài
khoản tiền giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư. Mọi giao dịch mua, bán chứng
khoán, chi trả cổ tức, đặt cọc, nộp tiền trúng thầu, ứng trước tiền bán chứng
khoán, lưu ký chứng khoán… được hạch toán tự động giữa tài khoản tiền giao
dịch chứng khoán của nhà đầu tư và tài khoản tiền gửi cuả công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư giao dịch..........................................................................................5
Sử dụng tài khoản cá nhân khách hàng còn được tiếp cận với nhiều các dịch vụ gia
tăng khác trên tài khoản cá nhân như dịch vụ ngân hàng trực tuyến iB@nking,
dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động SMS-B@nking, dịch vụ thẻ, dịch vụ
cho vay tiêu dùng, phát hành sec…........................................................................5
Dịch vụ quản lý tài khoản tiền giao dịch chứng khoán................................................12
Là vụ kết nối trực tuyến tài khoản tiền gửi của nhà đầu tư tại ngân hàng với tài khoản
đầu tư chứng khoán của họ tại Công ty chứng khoán. Dịch vụ này một mặt hỗ trợ
các công ty chứng khoán và nhà đầu tư thực hiện quy định của nhà nước về việc
tách bạch trong quản lý tài khoản tiền của nhà đầu tư mặt khác tạo điều kiện cho
nhà đầu tư có thể linh hoạt trong sử dụng đồng vốn của mình thông qua các tiện
ích thanh toán nổi trội trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại Vietcombank. Đây
cũng là cơ hội cho nhà đầu tư tiếp cận và sử dụng các dịch vụ đa dạng khác của
ngân hàng..............................................................................................................12
Những tiện ích khi sử dụng..........................................................................................12
Tiếp cận với các sản phẩm/dịch vụ gia tăng khác của VCB dành cho khách hàng cá
nhân: cho vay tiêu dùng, trả và nhận lương qua tài khoản, thanh toán hoá đơn tự
động, chuyển và nhận tiền quốc tế, dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân hàng trực tuyến
VCB-iB@nking, dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động VCB SMS-B@nking

nước ngoài, thực hiện đối xử công bằng giữa tổ chức tín dụng trong nước và tổ chức
tín dụng nước ngoài.Trong xu thế thị trường, cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế. Để
có thể tồn tại và đứng vững trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt này, các ngân
hàng thương mại Việt nam đã điều chỉnh chiến lược hoạt động kinh doanh theo hướng
mở rộng các hoạt động sản phẩm dịch vụ của ngân hàng hiện đại. Việc thanh toán
qua ngân hàng giữa các tổ chức kinh tế với nhau ngày càng được sử dụng phổ biến.
Trong khi đó, cơ sở về điều kiện vật chất để thực hiện dịch vụ tài chính ngân hàng là
hiện đại hoá công nghệ thông tin ngân hàng, nhưng vấn đề quan trọng nhất, có tính
quyết định để thực hiện được các dịch vụ, đó là việc mở và thanh toán qua tài khoản
tiền gửi cá nhân. Do đó, cần phải phát triển dịch vụ tài khoản cá nhân. Kinh tế thị
trường ở trong nước đang phát triển rất nhanh nên việc gửi tiền, nhận tiền, thanh toán,
thấu chi cá … với mỗi cá nhân trở nên rất cần thiết. Thanh toán bằng tiền mặt hiện
nay lại có nhiều rủi ro và không dễ dàng, tiện dụng và an toàn khi sử dụng sẩn phẩm
tài khoản cá nhân . Để phát triển hoàn thiện sẩn phẩm này nên em đã chọn đề tài “ :
Nghiên cứu nhu cầu về tài khoản cá nhân và các biện pháp marketing cho SGD ngân
hàng VCB để phát triển sản phẩm tài khoản cá nhân”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Qua chuyên đề này em muốn tìm hiểu về nhu cầu, hành vi về dịch vụ tài khoản
cá nhân và các công cụ thanh toán không dùng tièn mặt. Trên cơ sở đó cùng với việc
1


phân tích tổng quan về thị trường tài khoản cá nhân em sẽ đua ra một số đề xuất
marketing cho SGD ngân hàng ngoại thương Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu : nhu cầu tài khoản cá nhân và các công cụ thanh toán
không dùng tền mặt
Phạm vi nghiên cứu : những người lao động trẻ tuổi(độ tuổi từ 18 tới 35)
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện chuyên đề em đã vận dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:

Ghi nợ trực tiếp/ghi có trực tiếp
Chỉ thị hiện hành (chỉ dẫn từ phía chủ tài khoản đối với ngân hàng để chuyển
một khoản tiền nhất định sau một khoảng thời gian nhất định sang một/nhiều tài
khoản khác)
Thẻ ghi nợ hay thẻ ATM
Có một số phương thức để tiếp cận các khoản tiền gửi tại tài khoản cá nhân:
Các chi nhánh của ngân hàng
Các đối tác liên kết
Máy rút tiền tự động (ATM)
Thông qua điện thoại và ngân hàng trực tuyến
Nghiệp vụ ngân hàng thư
Không giống như các tài khoản tiền gửi tiết kiệm trong đó lý do chủ yếu để gửi
tiền là để sinh lãi, chức năng chính của tài khoản cá nhân là giao dịch, vì thế phần
lớn các nhà cung cấp tài khoản cá nhân hoặc là không trả tiền lãi hoặc là trả lãi ở
mức lãi suất thấp hơn trên số dư có.
3


Chính sách tính phí để thực hiện các giao dịch tài chính phụ thuộc vào một loạt
các yếu tố, bao gồm các mức lãi suất tổng thể đối với việc cho vay và tiết kiệm.Các
khoản phí giao dịch tài chính có thể được tính theo từng khoản mục giao dịch hoặc
tính theo tỷ lệ cố định cho một số lượng giao dịch nhất định nào đó (thông thường
tính trên cơ sở hàng tháng).Thông thường, đối với một loạt các loại khách hàng nào
đó, tổ chức tài chính có thể không thu phí đối với các giao dịch tài chính cơ bản,
chẳng hạn như đối với tầng lớp sinh viên, thanh niên, người già hay các khách hàng
có số tiền gửi rất lớn chẳng hạn. Một số tổ chức tài chính còn đưa ra các giao dịch
miễn phí nếu khách hàng duy trì số dư trung bình rất cao trong tài khoản của mình.
Các khoản phí dịch vụ khác được áp dụng đối với sự bội chi, hay khi số dư tiền gửi
không đủ để thanh toán séc, cũng như khi sử dụng mạng liên ngân hàng bên ngoài
v.v.

Có thể dễ dàng tra cứu thông tin tài khoản qua hệ thống Ngân hàng điện tử .
Có thể rút tiền nhanh chóng và thuận lợi ở nhiều nơi bằng thẻ ATM.
Thấu chi tài khoản cá nhân
Thấu chi tài khoản cá nhân là khoản vay linh hoạt dành cho khách hàng có nhu
cầu chi tiêu vượt số tiền trên tài khoản cá nhân mở tại ngân hàng. Khách hàng chỉ
trả lãi trên số tiền và số ngày thực tế sử dụng.Thấu chi tài khoản cá nhân là sản
phẩm đảm bảo khả năng thanh toán cho bạn ngay cả khi tài khoản của bạn không
còn tiền.
Dịch vụ trả và nhận lương tự động
Dịch vụ trả và nhận lương tự động làdịch vụ chi trả lương, thưởng, thù lao
định kỳ cho cán bộ, công nhân viên, và các đại lý của doanh nghiệp bạn một cách
nhanh chóng, anh toàn, chính xác. Dịch vụ này tiện ích cho cá người quản lý doanh
nghiệp và người nhận lương
Dịch vụ quản lý tài khoản tiền giao dịch chứng khoán
Dịch vụ quản lý tài khoản tiền giao dịch chứng khoán được cung cấp nhằm
quản lý tài khoản tiền giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư. Mọi giao dịch mua,
bán chứng khoán, chi trả cổ tức, đặt cọc, nộp tiền trúng thầu, ứng trước tiền bán
chứng khoán, lưu ký chứng khoán… được hạch toán tự động giữa tài khoản tiền
giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư và tài khoản tiền gửi cuả công ty chứng
khoán - nơi nhà đầu tư giao dịch
Sử dụng tài khoản cá nhân khách hàng còn được tiếp cận với nhiều các dịch
vụ gia tăng khác trên tài khoản cá nhân như dịch vụ ngân hàng trực tuyến
iB@nking, dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động SMS-B@nking, dịch vụ thẻ,
dịch vụ cho vay tiêu dùng, phát hành sec…
1.2. Thị trường tài khoản cá nhân tại Việt Nam
Theo thống kế sơ bộ của Ngân hàng Nhà nước, trong vài năm gần đây, số
lượng tài khoản cá nhân tại các ngân hàng đã tăng với tốc độ rất cao, hơn
100%/năm. Vào năm 2000, số lượng tài khoản tiền gửi và tài khoản thanh toán tại
các ngân hàng mới chỉ khoảng 100.000, nhưng năm 2001 là trên 200.000 và tính
5

ngân hàng liên doanh. Và số lượng đang còn nhiều thêm. Sau một thời kỳ tạm
ngưng, ngân hàng trung ương đã chấp thuận một số ngân hàng mới trong năm
ngoái.
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng trong cả nước đều chấp nhận cho khách hàng
mở tài khoản cá nhân bao gồm các ngân hàng thương mại cổ phần quốc doanh như
6


Vietcombank, Techcombank, BIDV…, các ngân hàng thương mại cổ phần như:
DongA Bank, ACB, VIB Bank, MB, VP Bank,… và cả các ngân hàng và chi nhánh
ngân hàng nước ngoài như HSBC, ANZ… Không chỉ giới hạn ở các ngân hàng mà
còn có ở các tổ chức phi ngân hàng như Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện trực
thuộc VNPT, hay mới nhất là công ty Vinapay với mạng thanh toán Paynet, tổng
Công ty Truyền thông đa phương tiện Việt Nam VTC cũng đã tham gia vào thị
trường để thanh toán trực tuyến trên phạm vi một số trang web mua bán trực tuyến
tại Việt Nam. Sự liên kết của một số ngân hàng cũng góp phần làm phong phú sản
phẩm cho thị trường và hứa hẹn có sự cạnh tranh khốc liệt hơn nữa trong tương lai.
Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, nhóm ngân hàng cổ phần hiện
chiếm khoảng trên 20% tổng vốn huy động và thị phần tín dụng. Nhóm chi nhánh
ngân hàng nước ngoài và liên doanh với trên 40 ngân hàng chiếm khoảng 10% tổng
vốn huy động và thị phần tín dụng. Nhóm ngân hàng này hiện chủ yếu phục vụ cho
khách hàng là cá nhân, công ty nước ngoài đang đầu tư tại Việt Nam. Còn lại thuộc
về các ngân hàng thương mại quốc doanh với khoảng gần 70% thị phần huy động
vốn và tín dụng.
2. Tình hình kinh doanh sản phẩm tài khoản cá nhân của VCB
2.1. Hoạt động kinh doanh vủa VCB
2.1.1..Lịch sử hình thành và phát triển của VCB
Thành lập 01/04/1963, Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam được Nhà nước
xếp hạng là 1 trong số 23 doanh nghiệp xếp hạng đặc biệt. Vietcombank luôn giữ
vai trò chủ lực trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam với uy tín trong các

Các sản phẩm dịch vụ chủ yếu:
Với thế mạnh truyền thống trong lĩnh vực ngân hàng bán buôn, kinh doanh
vốn và tài trợ thương mại, Vietcombank đã đa dạng hóa dịch vụ, mở rộng đối tượng
phục vụ là khách hàng cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo định hướng
ngân hàng bán lẻ. Vietcombank là một trong những ngân hàng có nhiều sản phẩm
dịch vụ nhất trên thị trường ngân hàng Việt Nam hiện nay.
Các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng cá nhân bao gồm: tài khoản; thẻ; tiết
kiệm và đầu tư; chuyển và nhận tiền và cho vay cá nhân. Trong đó dịch vụ thẻ là
một trong những mảng kinh doanh trọng yếu.
Các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng doanh nghiệp bao gồm: dịch vụ thanh
toán; dịch vụ tài khoản; dịch vụ bảo lãnh và dịch vụ cho vay. Vietcombank dẫn đầu
về thị phần thanh toán xuất nhập khẩu trong hệ thống các ngân hàng Việt Nam.
2.1.2.. Hoạt động kinh doanh của VCB
Trong năm 2008, tổng tài sản của Vietcombank đạt 220.000 tỷ đồng, cao hơn
20.000 tỷ đồng so với chỉ tiêu điều chỉnh đã được Đại hội đồng Cổ đông thông qua,
tăng trưởng dư nợ tín dụng ước đạt 16,4%, tăng trưởng huy động vốn khoảng 12%.Tỷ
lệ nợ xấu của Vietcombank ước đạt 4,5%, thấp hơn chỉ tiêu xin điều chỉnh (5,8%
Năm 2008, Vietcombank đạt lợi nhuận trước thuế 3.352 tỷ đồng, tăng 300 tỷ
đồng so với năm 2007. Con số này đã bao gồm lợi nhuận từ việc góp vốn vào các
8


ngân hàng khác. Trong cơ cấu lợi nhuận trên, thu nhập từ lãi chiếm 70%, thu nhập
từ các mảng hoạt động khác như kinh doanh ngoại tệ, thẻ, liên doanh, liên kết, góp
cổ phần… chiếm 30%.
Năm 2009, Vietcombank đặt kế hoạch kinh doanh thận trọng với mục tiêu tổng
tài sản tăng 11%, huy động vốn từ thị trường 1 tăng 15%, tăng trưởng tín dụng 18%,
lợi nhuận cố gắng bằng năm 2008. Hiện Ngân hàng đang đẩy nhanh việc hoàn tất
thủ tục niêm yết cổ phiếu tại HOSE.


vốn có thế mạnh chuyên doanh trong hoạt động bán buôn. Từ con số vài nghìn
khách hàng lẻ những năm đầu thập kỷ 90, tới nay, số lượng khách hàng cá nhân của
Vietcombank đã đạt con số 3 triệu và tương ứng với gần 3 triệu tài khoản cá nhân
(chiếm trên 30% thị phần tại Việt Nam) và không ngừng phát triển cả về số lượng
và chất lượng. Từ một vài sản phẩm bán lẻ truyền thống đơn giản, đến nay
Vietcombank đã phát triển được hàng chục loại hình sản phẩm khác nhau trên nhiều
loại hình dịch vụ truyền thống cũng như hiện đại.
Các dịch vụ mà VCB cung cấp trên tài khoản cá nhân
Dịch vụ thẻ :
Hoạt động thẻ của Vietcombank đã có thương hiệu với việc luôn giữ vững vị trí
hàng đầu trong phát triển dịch vụ, cung cấp tiện ích mới, tiên tiến và an toàn. Tới cuối
năm 2008, Vietcombank đã phát hành gần 200.000 thẻ tín dụng quốc tế, khoảng 3
triệu thẻ Vietcombank Connect 24; phát triển hơn 1.200 máy ATM và gần 10000 đơn
vị chấp nhận thẻ. Thị phần thanh toán thẻ chiếm 50%, thị phần phát hành thẻ quốc tế
chiếm 40% và thị phần phát hành thẻ ghi nợ chiếm trên 30% thị trường Việt Nam.
9


Cơ cấu các sản phẩm thẻ của Vietcombank đã đầy đủ, bao gồm thẻ ghi nợ và
thẻ tín dụng, nội địa và quốc tế; hoạt động thanh toán và phát hành thẻ luôn được
song song chú trọng với công tác chăm sóc khách hàng. Hiện tại, Vietcombank chấp
nhận thanh toán tất cả 5 loại thẻ tín dụng phổ biến nhất trên thế giới (Visa,
MasterCard, American Express, Diner Club và JCB); phát hành thẻ tín dụng
Vietcombank Visa, Vietcombank MasterCard Cội nguồn, Vietcombank American
Express, thẻ ghi nợ Vietcombank Visa Debit, Vietcombank MTV và Vietcombank
Connect 24.
Tài khoản tiền gửi thanh toán:
Tài khoản tiền gửi thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách
hàng với mục đích chính là thanh toán qua ngân hàng ,mục đích hưởng lãi chỉ là thứ
yếu.

SMS banking hay phương thức thanh toán hoá đơn tự động (billing payment) đối
với các dịch vụ phổ thông như điện, nước, viễn thông, bảo hiểm.
Dịch vụ thanh toán hóa đơn tự động (billing payment)
Với một tài khoản cá nhân được mở tại VCB khách hàng sẽ được hưởng các
dịch vụ quan trọng như thanh toán hóa đơn điện, nước, viễn thông, bảo hiểm với đa
số các nhà cung cấp dịch vụ tên tuổi trên thị trường.với các tiện ích :
Không phải bị động về mặt thời gian (bất cứ lúc nào cũng có thể phải dừng
công việc để tiếp nhân viên thu cước phí)
Không phải lo mang tiền mặt
Có nhiều điểm giao dịch, thuận tiện cho việc đóng cước phí (hiện bên cạnh hệ
thống các chi nhánh, các điểm giao dịch Vietcombank còn có khoảng 900 máy ATM
được đặt tại nhiều trung tâm hành chính, trung tâm mua sắm và các khu dân cư
trong cả nước)
An toàn bảo mật cao
Phù hợp với xu thế hiện nay
Dịch vụ thấu chi tài khoản cá nhân
Thấu chi tài khoản cá nhân là khoản vay linh hoạt dành cho khách hàng có nhu
cầu chi tiêu vượt số tiền trên tài khoản cá nhân mở tại ngân hàng. Khách hàng chỉ
trả lãi trên số tiền và số ngày thực tế sử dụng.Thấu chi tài khoản cá nhân là sản
phẩm đảm bảo khả năng thanh toán cho bạn ngay cả khi tài khoản của bạn không
còn tiền
Những tiện ích khi sử dụng thấu chi tài khoản cá nhân :
Bạn được sử dụng thấu chi tại tất cả các điểm giao dịch (quầy, ATM) và đơn vị
chấp nhận thẻ của VCB trên toàn quốc.
Bạn có thể được thấu chi tối đa lên tới 30 triệu đồng với thời hạn sử dụng lên
đến 12 tháng
Bạn chỉ phải trả lãi theo đúng số tiền và số ngày thấu chi thực tế
Bạn có thể kiểm soát tức thời hoạt động rút, trả nợ vay bằng dịch vụ VCBiB@nking và VCB SMS-B@nking
Thủ tục đơn giản, hiệu quả
11

vụ, Vietcombank gia tăng tiện ích cho khách hàng sử dụng VCB-iBanking với các
giao dịch chuyển khoản, thanh toán các dịch vụ du lịch, cước phí điện
thoại/internet, tiền vé máy bay, v.v...
VCB SMS-B@nking là dịch vụ Ngân hàng qua điện thoại di động giúp khách
hàng truy vấn thông tin ngân hàng bất kỳ lúc nào bằng cách dùng điện thoại di động
của mình nhắn theo cú pháp quy định gửi tới tổng đài 8170
12


2.3 Yếu tố ảnh hưởng tới kinh doanh tài khoản cá nhân
2.3.1. Môi trương marketing vĩ mô
Môi trường marketing vĩ mô là những yếu tố ảnh hưởng trên bình diện xã hội
rộng lớn, nó tác động đến quyết định marketing của các công ty trong toàn ngành
thậm chí trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân và do đó ảnh hưởng cả đến các lượng
thuộc môi trường marketing vi mô. Các yếu tố cơ bản của môi trường marketing vĩ
mô bao gồm: nhân khẩu; kinh tế; tự nhiên; công nghệ; chính trị; và văn hóa. Đối với
hoạt động kinh doanh dịch vụ tài khoản cá nhân Vietcombank, các yếu tố của môi
trường marketing vĩ mô có những tác động rất mạnh mẽ, đó là sự phát triển của
kinh tế,tình hình chính trị, thói quen tiêu dùng tiền mặt trong dân cư, chính sách
phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của chính phủ và sự phát triển của công
nghệ ngân hàng.
Sự phát triển của nền kinh tế
Tốc độ phát triển kinh tế của nền kinh tế đặc điểm của nền kinh tế cũng tác
động đến việc mở và sử dụng tài khoản cá nhân .Khi nền kinh tế phát triển gắn liền
với việc tiền tệ ổn định ,thu nhập của dân cư tăng lên … Nhu cầu giao dịch trao đổi
trong xã hội không ngừng tăng lên. Từ đó, phát sinh nhu cầu cần có những phương
thức thanh toán nhanh, gọn, tiện lợi, an toàn thì việc mở và sử tài khoản tiền gửi cá
nhân cũng tăng lên. Chu kỳ suy thoái của nền kinh tế ,tình trạng bất ổn, biến động
về lạm phát, ngân sách, giá cả cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của ngân hàng nói chung và sử dụng tài khoản thanh toán của cá nhân nói

còn gây ra bất tiện cho khách hàng
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước thì trên 90% các khoản chi tiêu tiêu
dùng cá nhân vẫn được thanh toán bằng tiền mặt, điều này ở một số nước đang phát
triển ở khu vực như Singapore không xảy ra, thanh toán tiền mặt chỉ dùng cho tiêu
dùng nhỏ lẻ, chính vì thế nên thị trường thẻ nước này rất phát triển. Hơn nữa tỷ
trọng thanh toán thẻ lại chủ yếu diễn ra ở một số thành phố lớn, trong khi 90% dân
cư Việt nam sinh sống ở các vùng nông thôn. Ngay cả so với các hình thức thanh
toán qua ngân hàng thì con số thanh toán thẻ cũng rất khiêm tốn. Chẳng hạn tại
thành phố Hồ Chí Minh, thanh toán bằng uỷ nhiệm chi chiếm 86% tổng doanh số
thanh toán qua ngân hàng; séc là 0,8%; uỷ nhiệm thu là 0,7% còn thẻ chỉ có 0,43%.
Con số tương ứng trên địa bàn Hà nội là 56,1% cho uỷ nhiệm chi; 2,2% cho séc;
0,28% cho uỷ nhiệm thu và khoảng 1% cho thẻ. Rõ ràng thanh toán thẻ ít quá mức
bởi thanh toán qua tài khoản cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt nam cũng lên
tới 5% tổng thanh toán chung.
Tiêu dùng tiền mặt của người dân trước hêt tạo ra rủi ro cho chính họ, nó cũng
làm cho các ngân hàng khó mà thâm nhập và phát triển các sản phẩm ngân hàng bán
14


lẻ cho thị trường. Thanh toán bằng tiền mặt tạo ra các chi phí xã hội lớn liên quan
đến in ấn và lưu thông tiền tệ, gây lãng phí và còn là mầm mống cho tham nhũng và
mảnh đất màu mỡ cho kinh tế ngầm phát triển.
Các chính sách của chính phủ trong hoạt động thanh toán
Với mỗi điều kiện kinh tế xã hội nhất định có một hệ thống pháp luật tương
ứng. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi các yếu tố pháp lý phải rất rõ ràng và chặt chẽ
đảm bảo cho hoạt động kinh doanh, trong đó có hoạt động mở và sử dụng tài khoản
cá nhân nhằm hạn chế rủi ro. Một môi trường pháp lý hoàn thiện, chặt chẽ đầy đủ
hiệu lực mới có thể đảm bảo quyền lợi của cá nhân có tài khoản tiền gửi thanh toán.
Chình vì vậy, vai trò quản lý của Chính phủ mà cơ quan trực tiếp là NHNN
Việt Nam có vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt

phí thấp, tính thuận tiện cao hơn nhiều so với thanh toán tiền mặt.
Đặc biệt, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, công nghệ
thông tin tiên tiến trở thành một lợi thế cạnh tranh vượt trội cho các ngân hàng, đáp
ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng song song với việc mở rộng thị
trường, tối đa hoá lợi nhuận.Công nghệ trong kinh doanh dịch vụ thẻ ATM cũng
đang có sự phát triển vượt bậc. Chiếc thẻ ATM bé nhỏ giờ đây đã được tích hợp và
bổ sung thêm nhiều dịch vụ tiện ích mới, khả năng bảo mật cũng tăng lên nhanh
chóng khi chuyển từ công nghệ thẻ từ sang công nghệ thẻ chip. Với một con chip
được gắn trên thẻ, chiếc thẻ ATM hiện đại như là một chiếc máy tính thu nhỏ. Các
ngân hàng cũng đang đua nhau mở rộng mạng lưới và hiện đại hóa hệ thống ATM
và hê thống những điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) để tạo ra lợi thế cạnh tranh
trên thị trường. Có thể nói, công nghệ phát triển chính là yếu tố kích thích mạnh
nhất việc tiêu dùng sản phẩm thẻ ATM.
2.3.2. Môi trường marketing vi mô
Môi trường marketing vi mô là những những yếu tố có quan hệ trực tiếp với
từng công ty và tác động đến khả năng phục vụ khách hàng của nó. Những lực
lượng này gồm có: các lực lượng bên trong công ty (ngoài bộ phận marketing), các
lực lượng bên ngoài công ty bao gồm các nhà cung ứng, các nhà môi giới
marketing, các đối thủ cạnh tranh, công chúng trực tiếp và khách hàng.
Vietcombank là một trong những ngân hàng sớm nhất ở Việt Nam rất chú trọng
phát triển dịch vụ tài khoản cá nhân cùng các dịch vụ thanh toán không dung tiền mặt
của mình. Việc mở rộng việc sử dụng tài khoản cá nhân và các công cụ thanh toán
không dùng tiền mặt đỏi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận trong
ngân hàng để tạo ra một dịch vụ hoàn hảo cũng như các dịch vụ gia tăng có giá trị cao
cho khách hàng. Việc phối hợp để phát triển dịch vụ là một yêu cầu tất yếu trong kinh
doanh dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ tài khoản cá nhân nói riêng
16


Về phần các nhà các nhà môi giới marketing, Vietcombank có sự hợp tác trong

Ở Việt Nam trước đây, các ngân hàng hầu như không có hoạt động marketing
hoặc chỉ là những hoạt động nhỏ lẻ, thiếu chiến lược lâu dài. Chỉ khi có sự tham gia
17


của các ngân hàng nước ngoài và sự tăng lên nhanh chóng số lượng các ngân hàng
thương mại cổ phẩn, thị trường mới trở nên cạnh tranh và hoạt động marketing ngân
hàng mới được quan tâm đúng mức và được thực hiện bài bản hơn rất nhiều. Trong
vài năm gần đây, ngân hàng là những tổ chức thực hiện các hoạt động marketing
nhiều nhất
Sở giao dịch ngân hàng VCB tại 32-33 Ngô Quyền là một trong những chi
nhánh lớn nhất của VCB. Sở giao dịch Vietcombank phát huy tốt hiệu quả hoạt
động marketing cho các dịch vụ ngân hàng bán lẻ và nhiều sản phẩm mới hướng
đến khách hàng cá nhân mà Sở giao dịch đang triển khai.
3.1.Sản phẩm
SGD đã kết nối toàn bộ hệ thống cho phépquản lý dữ liệu khách hàng tại trung
tâm dữ liệu ngân hàng. Điều này giúp khách hàng có thể mở tài khoản tại một chi
nhánh, trong khi có thể giao dịchở bất kỳ chi nhánh nào của ngân hàng trên toàn
quốc, với thời gian chuyểnmột khoản tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác chỉ
mất khoảng vài giây .Rồi rất nhiều các sản phẩm đi kèm mà các ngân hàng phát
triển trên cơ sở công nghệ hiện đại như mở tài khoản tiết kiệm điện tử, kiểm tra tài
khoản thông qua Internet, điện thoại với một mã số cá nhân, tự động thông báo khi
tài khoản có giao dịch... Hoặc như mới đây, cho phép nhiều người có thể mở
chung một tài khoản, ủy quyền cho người khác sử dụng tài khoản (thực tế các vấn
đề này đã được các ngân hàngáp dụng từ trước), cho phép phát triển thêm các tiện
ích mới, như mở tài khoản gửi tiền cho con cái đi du học hoặc học xa nhà, mà vẫn
kiểm tra được mức chi tiêu của con cái...
Bên cạch các dịch vụ truyền thống trên tài khoản cá nhân như dịch vụ thẻ
thanh toán, tài khoản tiền gửi thanh toan, nhận trả lương tự động, thấu chi , SGD
chú trọng tới việc gia tăng các tiện ích cho khách hàng và phân đoạn khách hàng

dịch và cung cấp các dịch vụ chủ yếu vẫn là giao dịch trực tiếp tại quầy, các hình
thức giao dịch từ xa dựa trên nền tảng CNTT chưa phổ biến. Dịch vụ ngân hàng
điện tử đã được triển khai nhưng chưa rộng rãi, lượng khách hàng sử dụng còn ít,
mới chỉ hoạt động ở mức độ thử nghiệm, giao dịch thanh toán thương mại điện tử
còn hạn chế. Hình thức thanh toán qua điện thoại di động sử dụng tài khoản ngân
hàng còn ít được ứng dụng. SGD phân phối các sản phẩm chủ yếu qua các phòng
giao dịch nên mạng lưới cung cấp các dịch vụ trên tài khoản cá nhân còn mỏng.
Hiện nay SGD dang một mặt nâng cấp các kênh phân phối truyền thống như
các phòng ,điểm giao dịch . Mặt khác , SGD đang ứng dụng các kênh phân phối
hiện đại như

19


Nâng cấp hệ thống ATM thành những “ngân hàng thu nhỏ” trải đều khắp
Phát triển loại hình ngân hàng qua máy tính và ngân hàng tại nhà nhằm tận
dụng sự phát triển của máy tính cá nhân và khả năng kết nối internet.
Phát triển loại hình ngân hàng qua điện thoại
3.4 Các hoạt động xúc tiến
Các chương trình khuyến mại làm thẻ, quảng cáo thương hiệu, huy động vốn
với lãi suất cao, các chương trình quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng,...
liên tục được áp dụng rộng rãi
Thiết kế các loại áp phích, tờ rơi về các sản phẩm, dịch vụ mới và các chương
trình khuyến mãi
Gửi thư, tìm kiếm khách hàng
Phát hành tạp chí của SGD
Tổ chức các hoạt động PR, tài trợ cho các chương trình hoạt động xã hội
3.5.Các chính sách về con người
Tổ chức tuyển dụng, đào tạo nhiều cán bộ mới để bổ sung cho các Phòng
nghiệp vụ.

mô, thanh toán bằng tiền mặt tạo ra các chi phí xã hội lớn liên quan đến in ấn và lưu
thông tiền tệ, gây lãng phí và còn là mầm mống cho tham nhũng và mảnh đất màu
mỡ cho kinh tế ngầm phát triển
1.2.Sự phát triển của công nghệ cùng các tiện ích khi sử dụng tài khoản cá nhân
Sau 20 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã xây dựng được một hạ
tầng công nghệ thông tin và hệ thống công nghệ thông tin tương đối đồng bộ và hiện
21


đại. Nhiều tiện ích ngân hàng đã được khai thác và sử dụng phục vụ nhu cầu phát triển
kinh tế, xã hội và chủ động hội nhập với khu vực và thế giới. Nhờ công nghệ các dịch
vụ ngân hàng phát triển đa dạng và phong phú, cho đến nay các ngân hàng triển khai và
phát triển nhiều sản phẩm mới, đặc biệt là dịch vụ ngân hàng điện tử: internetbanking,
mobil-banking, phonebanking, dịch vụ thẻ, thanh toán điện tử. Công nghệ mới đã
mang lại tiện ích tối đa cho khách hàng và cho nền kinh tế. Giai đoạn 1990 – 1998
được xem là giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới đối với ngành ngân hàng và các dịch vụ,
ứng dụng chính như: khuyến khích mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng, lắp đặt
ATM, tham gia hệ thống chuyển tiền quốc tế SWIFT, xử lý giao dịch tức thời trên
mạng máy vi tính, thanh toán bù trừ điện tử, chuyển tiền điện tử, thanh toán liên ngân
hàng, thanh tra giám sát từ xa, phòng ngừa rủi ro. Từ 1998 đến nay, ngành ngân hàng
triển khai dự án hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán. Nội dung đổi mới
trong giai đoạn này là tổ chức trung tâm thanh toán quốc gia, thiết lập hệ thống kế toán
khách hàng, xử lý tự động tức thời các giao dịch, hình thành hệ thống thanh toán tự
động trong nội bộ các NHTM lớn, liên kết mạng thanh toán quốc gia giữa các ngân
hàng và giữa ngân hàng với khách hàng. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
được thực hiện xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế.
Trong những năm gần đây, khi bản thân các ngân hàng hiện đại hóa công nghệ
của mình, giúp hoạt động giao dịch thanh toán trở nên thuận lợi hơn, thì nhận thức
của người dân đã có sự thay đổi. Đơn cử trong thanh toán giá trị lớn, chẳng hạn như
mua bán nhà, nếu đã mở tài khoản tại ngân hàng, người mua chỉ cần làm một lệnh

những người nghiền mua sắm.Trong việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ, những người
trẻ tuổi này luôn muốn thể hiện bản thân bằng những sản phẩm độc đáo, sang trọng
và có thương hiệu, có đẳng cấp trên thị trường. Họ có nhiều tiền hơn và chịu chi
tiêu nhiều vào những thứ có thể tạo cho họ phong cách. Họ thường lựa chọn những
sản phẩm thời thượng theo trào lưu thị hiếu, các sản phẩm tiêu dùng nhanh. Họ
chịu ảnh hưởng của các trào lưu trong xã hội, họ thích tham gia vào nhiều diễn đàn
để thể hiện khả năng hòa nhập cũng như thể hiện địa vị bản thân. Họ quan tâm và
yêu thích công nghệ, họ dành nhiều thời gian cho thế giới ảo và chịu nhiều ảnh
hưởng từ cộng đồng mạng. Họ cũng thường xuyên tham khảo thông tin từ bạn bè và
gia đình, họ ít trung thành với chỉ một nhãn hiệu nào đó mà thường xuyên thay đổi
nhãn hiệu theo các quảng cáo họ được xem. Nắm bắt được tâm lý và lối sống của
đối tượng khách hàng này là chìa khóa để tạo ra những sản phẩm tài khoản cá nhân
độc đáo đáp ứng không chỉ nhu cầu thanh toán của họ.
2.2..Các kết quả nghiên cứu về nhu cầu sử dụng tài khoản cá nhân và các
dịch vụ trên tài khoản cá nhân của người lao động trẻ
Để hiểu rõ nhu cầu của những người lao động trẻ, một cuộc nghiên cứu sơ cấp
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status