551 Ứng dụng chiến lược marketing ngân hàng vào việc phát triển sản phẩm tín dụng mới tại Ngân hàng đầu tư và phát triển (BIDV) Thăng Long  - Pdf 27

4
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có
những thay đổi tích cực, làm thay đổi đến mọi khía cạnh của đời sống xã
hội. Chúng ta đã đạt được một số thành tựu đáng kể trong Ngoại thương, đặc
biệt trong xuất khẩu gạo. Những con số báo cáo hàng năm là kết quả thật
đáng tự hào của ngành nông nghiệp nước ta, thể hiện quyết tâm của nhân
dân và đường lối chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Vị thế của Việt
Nam đã được nâng lên, sánh vai cùng các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế
giới.
Tuy nhiên, do những yếu tố chủ quan và khách quan, thực tiễn tại Việt
Nam trong thời gian qua cho thấy, hoạt động xuất khẩu gạo ở nước ta vẫn
còn nhiều bất cập, tồn tại nhiều vấn đề bức xúc trước những biến động thất
thường của tình hình chính trị và thị trường thế giới như định hướng, tổ chức
quản lý, tìm đầu ra cho sản phẩm, nâng cao giá và khả năng cạnh tranh... Kết
quả là, tuy khối lượng và kim ngạch xuất khẩu có tăng nhưng nhìn chung
tiềm năng vẫn chưa được khai thác một cách tối ưu, mang lại hiệu quả cao
nhất.
Trong tình hình đó, nghiên cứu Marketing để tìm ra các giải pháp nhằm
nâng cao hoạt động xuất khẩu gạo là một đòi hỏi cấp thiết và đáng quan tâm
nhằm đẩy mạnh hơn nữa sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu vào phân tích đặc điểm, tình hình xuất khẩu gạo củaViệt
Nam hiện nay theo quan điểm Marketing-mix đồng thời nêu lên các điểm
mạnh, điểm yếu theo mô hình SWOT. Qua thực tiễn hoạt động xuất khẩu
gạo của Việt Nam, đề tài đưa ra giải pháp dưới góc độ vĩ mô và theo quan
điểm Marketing-mix nhằm thúc đẩy việc xuất khẩu gạo, phù hợp với tiến
trình phát triển kinh tế của nước ta.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng những kiến thức đã tích luỹ trong suốt quá trình học tập

Nêu ra một số định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động
xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Nguyễn Văn Thoan,
các cô chú cán bộ của Vụ Xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại cùng các thầy
cô và bạn bè đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.
6
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ GẠO XUẤT KHẨU TRÊN THẾ
GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
1.1. Tổng quan về thị trường gạo thế giới
Vấn đề tập trung của đề tài này là hoạt động xuất khẩu gạo của Việt
Nam ra thị trường thế giới. Xét theo quan điểm Marketing là có tính hướng
ngoại. Để đẩy mạnh xuất khẩu, Việt Nam phải luôn hướng ra môi trường
kinh doanh và lấy thị trường làm cơ sở định hướng. Thị trường ở đây được
hiểu là tập hợp những nhà nhập khẩu gạo hiện tại và tiềm năng. Mặt khác,
nhu cầu của thị trường gạo lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên ngoài.
Chính vì vậy, các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam không chỉ tập trung vào các
nhà nhập khẩu gạo mà còn phải hướng vào các đối thủ khác để đánh giá kịp
thời khả năng cạnh tranh của họ. Nghiên cứu thị trường gạo quốc tế, nghiên
cứu các nước xuất, nhập khẩu gạo chủ yếu trên thị trường là một đòi hỏi cấp
thiết để ứng dụng vào tình hình cụ thể của Việt Nam, nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh của gạo xuất khẩu nước ta trên thị trường thế giới.
1.1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung cầu gạo thế giới
Trong số các loại lương thực bao gồm gạo, lúa mì, ngô, kê, lúa mạch...
thì gạo và lúa mì là hai loại thực phẩm chiếm vị trí quan trọng trong khẩu
phần ăn hàng ngày của con người. Theo thống kê của Tổ chức Lương thực
và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), sản xuất lúa gạo và lúa mì đạt mức
tương đương nhau. Nhìn chung, sản lượng lúa gạo có thể duy trì sự sống cho
hơn 53% tổng số dân trên thế giới. Qua đó cho thấy tầm quan trọng của gạo
đối với vấn đề an ninh lương thực của loài người, đặc biệt khi đặt trong bối
cảnh biến động của yếu tố nhân khẩu học.

Trung Đông 3.048 3.370 2.905 2.279
Bắc Phi 5.463 4.261 5.889 6.063
Châu Phi còn lại 10.540 10.845 10.950 11.481
Nam Á 165.170 172.526 183.311 179.426
Châu Á còn lại 358.864 358.485 36.281 354.965
Châu Đại Dương 1.324 1.362 1.101 1.761
Nguồn: Vụ Xuất nhập khẩu – Bộ Thương mại
1.1.1.2. Vấn đề tiêu dùng gạo trên thế giới
Trên thế giới, phần lớn gạo được sản xuất nhằm phục vụ nhu cầu tiêu
thụ trong nước, chỉ 4% sản lượng toàn cầu được đem ra buôn bán, trao đổi
giữa các nước với nhau. Lúa gạo được sản xuất tập trung hoá cao độ, trong
đó châu Á chiếm tới 90% tổng lượng sản xuất, 50% lượng nhập khẩu và
72% lượng xuất khẩu.
Mức tiêu thụ gạo toàn cầu hiện nay luôn phụ thuộc vào tình hình canh
tác và khả năng cung cấp của các nước sản xuất lúa gạo. Trên quy mô toàn
thế giới, lượng gạo tiêu dùng tăng đáng kể từ 222,4 triệu tấn năm 1974 lên
398,6 triệu tấn năm 2000, tăng 180% và dự đoán năm 2001 là 400,8 triệu
tấn. Để đảm bảo tiêu thụ ổn định cần đạt mức sản xuất hàng năm gấp 1,5 đến
2 lần mức tăng dân số. Như vậy, mức tiêu thụ gạo luôn bị khống chế bởi khả
8
năng sản xuất và phụ thuộc vào số dân toàn cầu nên nhìn chung nếu tính
theo đầu người thì không tăng.
Trên thế giới, châu Á là khu vực tiêu thụ gạo nhiều nhất với 362,1 triệu
tấn, tức 90% so với lượng tiêu dùng toàn cầu vào năm 2001 (403 triệu tấn).
Điều này được giải thích bằng tập quán coi gạo là lương thực chính yếu ở
châu Á, nơi tập trung trên 60% dân số toàn thế giới. Tuy nhiên, trong những
năm gần, dân số các nước này tăng mạnh trong khi diện tích trồng lúa giảm
đáng kể do quá trình đô thị và công nghiệp hoá. Thêm vào nữa, các thiên tai
như lụt, bão, hạn hán... thường hay xảy ra nên các nước này cũng phải nhập
khẩu gạo phục vụ cho nhu cầu trong nước. Các châu lục khác tiêu thụ 10%

hàng đầu của chính phủ nước này. Trái với một số nước khác chú trọng tới
các dự án phát triển cây trồng bằng cách tăng cường sử dụng có hiệu quả
hơn đất trồng và các nguồn tài nguyên khác như nguồn nước, khí hậu…
Trung Quốc tập trung chủ yếu vào công nghệ và khoa học. Trung Quốc đã
và đang đi tiên phong trong các giống lúa lai mới và đang dẫn đầu về thử
nghiệm lúa biến đổi gien. Tuy diện tích trồng lúa của Trung Quốc mấy năm
gần đây liên tiếp giảm do nhu cầu gạo chất lượng thấp giảm và lợi nhuận từ
những loại cây khác tăng lên, sản lượng gạo Trung Quốc năm 2001 dự kiến
đạt 136,40 triệu tấn, tăng so với 130,9 triệu tấn năm 2000 nhờ năng suất
tăng.
Từ năm 1992-1993, cùng với công cuộc đổi mới, hiện đại hoá đất nước,
Trung Quốc đã có nhiều cố gắng đẩy mạnh sản xuất lúa. Đến năm 2000, tiêu
thụ gạo trung bình tính theo đầu người vẫn bình ổn (96 kg/người/năm) mặc
dù tổng tiêu thụ tăng do dân số tăng. Nhu cầu về chất lượng cũng ngày càng
tăng. Gạo chất lượng cao như Japonica được trồng chủ yếu ở miền Bắc đã
ngày càng trở nên phổ biến hơn. Tiêu thụ gạo nói riêng và lương thực nói
chung sẽ tăng theo xu hướng của nền kinh tế. Gạo chất lượng kém ngày càng
được chuyển sang dùng trong công nghiệp hoặc cho những người có thu
nhập thấp. Một trong những chiến lược của Trung Quốc là phát triển ngành
chăn nuôi và gạo vụ sớm sẽ là thức ăn tốt cho gia cầm vì chất lượng phù hợp
và giá thành rẻ.
Theo số liệu của Bộ Thương mại, năm 2000 Trung Quốc tiêu thụ 137,3
triệu tấn gạo chiếm 34% tổng lượng gạo tiêu thụ toàn cầu. Ước tính năm
2001 lượng tiêu thụ là 134,3 triệu tấn. Con số này nói chung không thay đổi
nhiều so với các năm trước. Với dự kiến nhu cầu tiêu thụ sẽ đạt được 220
triệu tấn gạo vào năm 2010 và 260 triệu tấn vào năm 2030, Trung Quốc đặt
mục tiêu phát triển các giống lúa mới, năng suất cao để đạt trung bình 8
tấn/ha so với 6,5 tấn/ha hiện nay.
* Ấn Độ
10

nhu cầu trong nước. Chính phủ Inđônêxia đang dự kiến vay Ngân hàng phát
triển Hồi giáo 102,5 triệu USD để nhập khẩu số gạo trên.
11
Biểu đồ 1.1. Dân số và tiêu thụ gạo của 3 nước tiêu thụ lớn nhất
4%
9%
16%
58%
22%
Indon
ªxia
Ên
§é
Trung
Quèc
Kh¸c
36%
22%
33%
Dân số
Tiêu thụ gạo
1.1.2. Cơ cấu của thị trường gạo thế giới
1.1.2.1. Đặc điểm và triển vọng của thị trường gạo thế giới
* Đ ặ c đ i ể m c ủ a t h ị t rườ ng gạ o t h ế g i ới
- Gạo là loại lương thực chủ yếu để nuôi sống hơn 50% dân số toàn
cầu, tập trung nhiều nhất ở châu Á. Chính vì vậy, thị trường gạo thế giới
mang đặc tính nhạy bén vì mỗi khi có sự biến động về nhu cầu ở những
nước tiêu thụ gạo chính như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Bănglađét,
Pakistan... thì cung cầu và giá gạo trên thị trường thế giới lại thay đổi. Việc
Chính phủ Ấn Độ có kế hoạch giải toả 3 triệu tấn gạo vào cuối năm 2001 là

cơ chế chính sách. Xuất khẩu gạo từ châu Âu và châu Mỹ có xu hướng giảm
do việc thắt chặt các quy định của thương mại thế giới làm hạn chế chính
sách trợ giá xuất khẩu.
Xu hướng trong những năm tới sẽ có nhiều nước tham gia vào xuất
khẩu lúa gạo, tạo sự sôi động và cạnh tranh gay gắt trên thị trường lúa gạo
thế giới, đặc biệt ở châu Á, do chính sách của nhiều nước cho phép khu vực
tư nhân tham gia vào xuất nhập khẩu gạo. Ngoài ra, trong những năm tới,
giao dịch các loại gạo có chất lượng cao có xu hướng tăng mạnh trong khi
giao dịch gạo phẩm cấp thấp sẽ giảm dần.
Gạo một mặt là hàng hoá thiết yếu đối với đời sống và sản xuất, mặt
khác là hàng hoá nhạy cảm và xuất khẩu có tính chiến lược ở một số nước,
có xu hướng cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt giữa các nước tham gia
xuất khẩu. Các nước xuất khẩu luôn luôn tăng sản lượng lúa gạo không chỉ
để thoả mãn cho nhu cầu tăng dân số mà còn nhằm mang lại nguồn ngoại tệ
đáng kể. Vì vậy, trong tình hình hiện nay, các nước đều đẩy mạnh các hoạt
động xuất khẩu để giảm hao phí và hư hao, đầu tư chiều sâu để tăng nhanh
năng suất và sản lượng. Để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, các
nước trang bị ngày càng tốt hơn từ việc chọn giống, thu hoạch, bảo quản,
chế biến, vận tải, bao gói và điều kiện giao hàng thích hợp với đòi hỏi của
thị trường thế giới.
1.1.2.2. Tình hình nhập khẩu gạo
* Tình h ì nh chung
Nhập khẩu gạo của thế giới nhìn chung có xu hướng tăng lên nhưng
không ổn định trong những năm gần đây, tuỳ thuộc vào sản lượng lương
thực trong năm và khả năng thanh toán của những nước nhập khẩu. Đa số
các nước xuất khẩu gạo đạt sản lượng cao kỷ lục đã làm giảm mạnh giá gạo
trên thị trường thế giới.
Lượng nhập khẩu gạo của toàn thế giới cũng như từng nước thường
xuyên biến động và mang tính thời vụ rõ rệt. Vì sản xuất gạo phụ thuộc vào
điều kiện thiên nhiên, tỷ lệ dự trữ, tồn kho lương thực nên thường bất ổn.

mạ
i
Châu Á luôn là khu vực nhập khẩu gạo nhiều nhất với khoảng hơn
55%
l
ượng
gạo nhập khẩu toàn thế giới nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ tại các
nước này. Châu Phi chiếm tỷ trọng hơn 20% lượng gạo nhập khẩu và

chiều hướng tăng lên trong thời gian qua tuy mức tăng không lớn. Trên
thự
c
tế các nước nghèo ở châu lục này tiêu dùng gạo khá nhiều nhưng khả
năng
tài chính lại bị hạn chế rất đáng kể. Do vậy, ở các nước này tuy thiếu
gạo
nhưng khả năng nhập khẩu có hạn. Châu Mỹ cũng có khối lượng nhập
khẩu
chiếm khoảng 20% với nhu cầu ổn định và có xu hướng tăng lên.
Nhập khẩu gạo trên thế giới cũng biến động theo nhóm nước. Tuỳ theo
mức độ thường xuyên, các nước chia theo hai nhóm: nhóm nước nhập khẩu
gạo thường xuyên và không thường xuyên. Nhóm thứ nhất bao gồm các
nước luôn có nhu cầu nhập khẩu gạo do mất cân đối giữa sản xuất và tiêu
dùng, sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu về gạo. Nhóm nước này bao gồm
Malaixia (hàng năm cần nhập khoảng 400 ngàn tấn), Canađa (180 ngàn tấn),
Angiêri (250 ngàn tấn)... Nhóm thứ hai bao gồm những nước sản xuất gạo
nhưng không thường xuyên cung cấp đủ cho tập quán tiêu dùng trong nước.
Lượng gạo nhập khẩu ở các nước này không đều qua các năm. Tiêu biểu cho
nhóm này là Inđônêxia, Trung Quốc, Nhật Bản...
* M ộ t số n ước nhậ p gạ o c h ủ y ế u trên t h ế g iới

4) Braxin
Đây là nước duy nhất ở khu vực Nam Mỹ có mức nhập khẩu gạo khá
lớn. Tình hình nhập khẩu mặt hàng này ở Braxin trong đối ổn định và có xu
hướng tăng trong thời gian qua. Cụ thể năm 1989, lượng nhập khẩu của
Braxin là 0,5 triệu tấn, năm 1998 tăng lên 1,2 triệu tấn. Năm 1999, nước này
tiếp tục là nước nhập khẩu gạo lớn trên thế giới với mức nhập khoảng 1 triệu
tấn. Năm 2000, sản lượng nhập khẩu giảm xuống còn 0,7 triệu tấn và sẽ tiếp
tục giảm trong năm 2001.
1.1.2.3. Tình hình xuất khẩu gạo trên thế giới những năm qua
* Tình h ì nh chung
Theo số liệu của Vụ Xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại, tổng lượng gạo
xuất khẩu của thế giới trong những năm gần đây tăng và tăng khá. Nếu như
năm 1975, thế giới xuất khẩu chỉ có 7,7 triệu tấn gạo thì năm 1989 số lượng
gạo xuất khẩu đạt 13,9 triệu tấn, mức cao nhất so với các năm trước đó. Tuy
nhiên, trong hai năm tiếp theo, số lượng gạo xuất khẩu giảm xuống còn 11,6
triệu tấn và 12,1 triệu tấn. Đến năm 1998, số lượng gạo xuất khẩu tăng cao
nhất là 27,7 triệu tấn. Trong 3 năm qua, sản lượng gạo xuất khẩu có xu
hướng giảm xuống: năm 1999 là 24,9 triệu tấn, năm 2000 là 22,9 triệu tấn và
dự báo năm 2001 là 22,2 triệu tấn. Nhìn chung, mức tăng trưởng chưa thật
ổn định, có năm giảm so với năm trước và chưa thực sự phản ánh khả năng
dư thừa của những nước xuất khẩu và sự biến động không ngừng tình hình
cung cầu của thị trường gạo trên thế giới. Số lượng xuất khẩu gạo của thế
giới tăng lên nhờ những cải biến về mặt kỹ thuật, giống lúa và các chính
sách mới của các nước xuất khẩu gạo làm cho lượng gạo có xu hướng tăng
lên trong những năm gần đây.
Xuất khẩu gạo thế giới tập trung ở một số nước đang phát triển, chiếm
75% đến 80% tổng số lượng xuất khẩu. Là châu lục sản xuất và tiêu thụ gạo
nhiều nhất, với tiềm năng, điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc trồng lúa,
châu Á vẫn luôn là khu vực xuất khẩu nhiều nhất. Bình quân hàng năm, châu
Á cung cấp khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu cho thị trường thế giới, đồng

thời cũng cung cấp cho cung gạo của thế giới gần 1/3 tổng lượng gạo chất
lượng thấp. Thị phần của Thái Lan nhìn chung tương đối ổn định. Giá bán
thường cao hơn so với các nước xuất khẩu gạo khác như Việt Nam hay
Pakistan. Giá chuẩn quốc tế cũng thường căn cứ vào giá gạo của Thái Lan
(FOB Băngcốc).
2) Trung Q uố c
Không chỉ là một nước sản xuất, tiêu dùng, nhập khẩu gạo lớn trên thế
giới, Trung Quốc cũng là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Trung Quốc
nhập khẩu gạo chất lượng cao song xuất khẩu gạo có chất lượng bình thường
hoặc thấp. Năm 2000, mặc dù có hạn hán, quốc gia này đã vươn lên thứ ba
trong số các nước xuất khẩu gạo với số lượng là 2,95 triệu tấn, chỉ sau Thái
Lan và Việt Nam, tăng 9% so với năm 1999 (2,7 triệu tấn) nhưng giảm so
với mức 3,7 triệu tấn năm 1998. Vị trí này không ổn định trong các năm do
sự biến động thất thường giữa cung cầu gạo của nước này. Dự kiến năm
2001, Trung Quốc sẽ tiếp tục giảm số lượng xuất khẩu xuống còn 1,8 triệu
tấn. Tuy nhiên, với ưu thế giá gạo rẻ và chất lượng ngày một được cải thiện,
gạo Trung Quốc đã có chỗ đứng trên thị trường thế giới, đặc biệt là tại châu
Phi và Nhật Bản.
3) M ỹ
Năm 2000, số lượng xuất khẩu gạo của Mỹ đạt 2,76 triệu tấn, đứng thứ
tư trong số các nước xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, những năm trước đây, Mỹ
vẫn đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan mặc dù chỉ chiếm khoảng 1,5%
tổng số lượng lúa toàn cầu và xếp thứ 11 về sản xuất gạo.
Là nước xuất khẩu gạo truyền thống với thị trường rộng lớn trên khắp
các châu lục, chất lượng gạo của Mỹ nổi tiếng là cao (loại A), đứng đầu thế
giới và có sức cạnh tranh ưu việt hơn hẳn các loại gạo khác, kể cả của Thái
Lan. Trong những năm đầu thập niên 90, Mỹ cung cấp khoảng 20% thị phần
gạo thế giới mà chủ yếu là các nước Mỹ Latinh (Mêhicô và Braxin). Xuất
khẩu gạo của Mỹ có được thành công nhờ vào hai lợi thế:
+ Thứ nhất, sự phát triển vượt bậc về công nghệ sản xuất, chế biến đến

thị trường châu Á và châu Phi, đặc biệt là thị trường Trung Đông. Những
năm gần đây, số lượng gạo xuất khẩu của Ấn Độ không ổn định do gặp
nhiều thiên tai. Hoạt động xuất khẩu gạo của Ấn Độ đang có khó khăn vì
Bănglađét, thị trường tiêu thụ gạo phẩm cấp thấp chủ yếu của Ấn Độ, bắt
đầu thực hiện thả nổi việc đấu thầu mua gạo từ tháng 1/2000 với điều kiện
thanh toán nghiêm ngặt. Cụ thể là số lượng gạo xuất khẩu của Ấn Độ từ 4,5
triệu tấn năm 1998, chiếm 16,2% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới,
năm 1999 còn 2,4 triệu tấn, năm 2000 chỉ còn 1,3 triệu tấn.
Hiện nay, Bộ Thương mại Ấn Độ thông báo sẽ tiến hành thử nghiệm
AND để đảm bảo sự thuần chủng cho giống gạo Basmati Ấn Độ và sẽ
khuyến khích xuất khẩu gạo cao cấp này. Bên cạnh đó, Ấn Độ cho phép
Tổng công ty lương thực quyết định giá xuất khẩu song không được thấp
hơn giá bán cho người dân Ấn Độ sống dưới mức nghèo khổ. Các nhà xuất
khẩu Ấn Độ cho rằng gạo Ấn Độ có cơ hội thâm nhập vào các thị trường
nước ngoài nếu như giá thấp như giá các xuất xứ khác. Bộ Thương mại Ấn
Độ cũng đã xem xét kế hoạch xoá bỏ hạn chế xuất khẩu đối với các sản
phẩm như gạo, lúa mì, đường và hành. Gạo xay xát hiện đang được tự do
xuất khẩu, mặc dù các tư nhân muốn xuất khẩu vẫn buộc phải đăng ký hợp
đồng với Cơ quan phát triển nông nghiệp và xuất khẩu thực phẩm chế biến.
Hiện tại, Ấn Độ đang thu hút các nhà nhập khẩu gạo như Nam Phi, Nigiêria,
Arập-Xêút. Mục tiêu của Ấn Độ trong những năm tới là giảm bớt chi phí của
Chính phủ, khuyến khích xuất khẩu và bảo đảm an toàn lương thực, đặc biệt
là cố gắng xuất khẩu 3 triệu tấn gạo vào niên vụ 2000/2001.
1.2. Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam
1.2.1. Vị trí chiến lược của xuất khẩu gạo trong nền kinh tế quốc dân
Việt Nam là một nước đông dân, trong đó gạo là lương thực chính và
khó có thể thay thế. Qua đó cho thấy tầm quan trọng của sản xuất gạo đối
với nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, khi đất nước đã có thể đảm bảo an
ninh lương thực, xuất khẩu gạo trong điều kiện kinh tế hiện nay có ý nghĩa
quyết định đối với quá trình hội nhập của nước ta và được thể hiện trên

sản xuất theo quy mô vùng. Hiện nay, ở nước ta đã và đang hình thành
những vùng lúa tập trung chuyên sản xuất gạo xuất khẩu bao gồm cả hai khu
vực chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Mỗi
vùng phù hợp với những loại giống lúa khác nhau. Như vậy, cơ cấu nông
nghiệp sẽ thay đổi phát huy theo lợi thế của từng vùng.
Khi đẩy mạnh xuất khẩu gạo, cơ cấu ngành nghề cũng sẽ thay đổi.
Hàng loạt các nghề phụ liên quan đến sản xuất và chế biến gạo như xay sát,
bảo quản, đánh bóng... cũng phát triển theo. Đây là điều kiện thuận lợi đối
với nền kinh tế dư thừa lao động như nước ta, giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp
trong nông thôn và góp phần cải thiện đời sống nhân dân.
Trong những năm gần đây, sản lượng lúa thu hoạch tăng cao. Xuất
khẩu gạo tạo điều kiện mở rộng tiêu thụ sản phẩm, tránh ứ đọng, tồn kho.
Khi khâu tiêu thụ được giải quyết sẽ tạo tâm lý an tâm, khuyến khích nông
dân tăng cường, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Như vậy,
xuất khẩu đã tác động ngược trở lại đối với sản xuất, là một tiền đề cho sản
xuất phát triển, tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp và khả năng tiêu
dùng của một quốc gia như Việt Nam.
Khi tham gia xuất khẩu gạo, Việt Nam có điều kiện cạnh tranh, cọ xát
với các sản phẩm cùng loại trên thị trường quốc tế. Đây vừa là thuận lợi, vừa
là khó khăn đối với mặt hàng gạo của Việt Nam vì chất lượng của ta còn
kém hơn so với các nước xuất khẩu khác, đặc biệt là Thái Lan. Tuy nhiên,
để đảm bảo sự tồn tại của gạo Việt Nam trên thị trường, các doanh nghiệp
buộc phải tổ chức, xem xét lại khâu sản xuất, hình thành một cơ cấu sản xuất
thích hợp, hạ giá thành sản phẩm đồng thời nâng cao chất lượng. Các kênh
phân phối cũng phải tổ chức lại một cách hợp lý, giảm thiểu chi phí nhằm
mang lại lợi nhuận tối đa.
1.2.1.3. Xuất khẩu gạo tác động tích cực đối với việc giải quyết công ăn việc
làm và cải thiện đời sống của nhân dân
Như trên đã phân tích, khi xuất khẩu gạo được đẩy mạnh sẽ kéo theo
những ngành nghề khác hỗ trợ cho sản xuất như các hoạt động thương mại,

đầu của Đảng và Nhà nước. Từ khi thực hiện đổi mới sau nghị quyết 10 của
Bộ Chính trị về đổi mới kinh tế nông nghiệp đến nghị quyết 6 của Ban chấp
hành Trung ương khoá VI, cùng với việc ban hành một loạt các chính sách
kinh tế mới, nông nghiệp nước ta đã có nhiều khởi sắc. Cơ chế của nền nông
nghiệp từ tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hoá theo hướng CNH-
HĐH đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, đặc biệt là trong xuất khẩu
gạo.
Năm 1989 là năm đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử xuất khẩu gạo của
nước ta, khi Việt Nam đứng ở vị trí thứ 3, sau Thái Lan và Mỹ, trong số
những nước xuất khẩu gạo trên thị trường thế giới. Số lượng gạo xuất khẩu
tăng dần từ 1,327 triệu tấn vào năm 1989 lên tới 1,478 triệu tấn năm 1990,
giảm nhẹ vào năm 1991 với 1 triệu tấn do những biến động từ thị trường
Nga và Đông Âu sau khi CNXH Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu
sụp đổ. Sau năm này, số lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam không ngừng
tăng. Năm 1995, Việt Nam xuất khẩu 2,025 triệu tấn và xếp vào vị trí thứ 4
trong các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Sau quyết định bãi bỏ lệnh
cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam, khối lượng gạo xuất khẩu có xu hướng
tăng nhanh. Việt Nam tiếp tục vươn lên hàng thứ 3 về xuất khẩu gạo vào
năm 1996 với số lượng hơn 3 triệu tấn, vượt qua Mỹ và chỉ xếp sau Thái
Lan, Ấn Độ. Kết quả này thực đáng ghi nhận vì vào năm này, Việt Nam phải
đối đầu với một loạt các thiên tai như bão nhiệt đới, lũ lụt... Các năm tiếp
theo, lượng gạo xuất khẩu vẫn tăng đều mà đỉnh cao là năm 1999 với 4,559
triệu tấn, thu về kim ngạch hơn 1 tỷ USD. Đến năm 2000, do những biến
động trên thị trường thế giới, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm
xuống, chỉ còn 3,47 triệu tấn, kim ngạch thu về đạt 667 triệu USD. Năm
2001, kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều khó khăn nên dự đoán Việt Nam chỉ
xuất khẩu 3,470 triệu tấn. Số liệu về xuất khẩu gạo giai đoạn 1989-2001
được thể hiện cụ thể trong bảng sau:
Bảng 1.4. Kết quả xuất khẩu (1989-2001)
Năm Số lượng

ngạch xuất khẩu cao nhất cũng là năm số lượng gạo xuất lớn nhất, tuy giá
gạo Việt Nam trên thị trường thế giới không cao (221 USD/MT).
Về thị trường, khách hàng thường xuyên của gạo Việt Nam phần lớn là
các nước đang phát triển. Một số nước châu Âu mua gạo Việt Nam để
chuyển sang các nước châu Phi dưới hình thức viện trợ nhân đạo. Các nước
còn lại nhập khẩu gạo Việt Nam với mục đích tiêu dùng trong nước. Qua
nhiều năm, thị phần gạo Việt Nam đã tăng và có những cải thiện đáng kể.
Kể từ năm 1989, Việt Nam đã chuyển từ nước nhập khẩu sang xuất
khẩu gạo, cải thiện đời sống của một bộ phận lớn dân cư, gia tăng sức mua
xã hội, giảm bớt thâm hụt thương mại, là tiền đề chống lạm phát có kết quả,
từ đó tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế Việt Nam trong
những năm sau này. Kết quả trong xuất khẩu gạo là một trong những thành
quả nổi bật nhất về mặt kinh tế trong những năm cuối thế kỷ 20, là bước
khởi đầu cho quá trình chuyển đổi, vững bước tiến lên CNH-HĐH, vận hành
nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của nước ta. Thành tựu này
đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng lương thực, tạo cho nhân dân niềm tin vào
sự lãnh đạo và đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, góp phần ổn
định tình hình phức tạp và nhiều biến động trong nước.
Có được những thành quả nói trên là nhờ vào sự điều chỉnh và đề ra
chính sách mới đúng đắn, sự năng động của nông dân cùng với những nỗ lực
của các nhà xuất khẩu, các nhà xay xát, chế biến và cả những thuận lợi, may
mắn do hoàn cảnh khách quan. Nhưng yếu tố chủ yếu nhất vẫn là cơ chế,
chính sách đã được hoàn thiện trong nhiều năm và sẽ liên tục được phát huy
trong những năm tới.
Nhìn chung trong thời gian qua, hoạt động xuất khẩu gạo đã có những
đóng góp rất quan trọng vào công cuộc phát triển chung của nền kinh tế.
Xuất khẩu gạo bước đầu có những thành công nhất định, chứng tỏ đường lối
đúng đắn của Đảng ta khi thực hiện chính sách mở cửa, đẩy mạnh tiến trình
hoà nhập của Việt Nam trên thị trường thế giới. Xuất khẩu gạo đã mang lại
hiệu quả kinh tế xã hội to lớn như đã phân tích là tạo nguồn thu ngoại tệ,

nhân nước ngoài ép giá.
Nói tóm lại, đi đôi với những thành tựu đạt được về xuất khẩu gạo
chúng ta còn rất nhiều khó khăn và thách thức phải vượt qua. Điều đó đòi
hỏi tất cả các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình này phải nghiên cứu,
tìm tòi những giải pháp khắc phục, đồng thời có những đổi mới thích hợp
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu gạo ở nước ta.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT
NAM THEO QUAN ĐIỂM MARKETING-MIX
2.1. Các khái niệm cơ bản về Marketing
2.1.1. Khái niệm chung về Marketing
Hiện nay trong các tác phẩm về Marketing trên thế giới, có đến trên
2.000 định nghĩa về Marketing. Các định nghĩa đó về thực chất không khác
nhau và mỗi tác giả của các định nghĩa đều có quan điểm riêng của mình.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu vấn đề xuất khẩu gạo ở tầm vĩ mô, xin nêu ra một
định nghĩa khá phù hợp với khái niệm và thuật ngữ của Marketing:
“Marketing là tập hợp các phương thức (nghiên cứu thị trường, các chiến
lược...) mà một cơ quan, tổ chức sử dụng để gây ảnh hưởng lên thái độ,
hành vi của tập hợp người tiêu dùng đáng quan tâm theo chiều hướng thuận
lợi cho việc thực hiện các mục tiêu của cơ quan, tổ chức đó”.
Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, ngoài việc cân bằng cán cân thương mại,
những mục tiêu này bao gồm:
- Thứ nhất, sự ổn định vững chắc của kinh tế đất nước.
- Thứ hai, sự phân bố thu nhập đồng đều giữa người sản xuất, nhà xuất
khẩu.
2.1.2. Khái niệm về Marketing-mix và các thành phần cơ bản của
Marketing-mix
Theo Kotler, Marketing-mix là tập hợp những công cụ Marketing được
sử dụng để theo đuổi những mục tiêu Marketing của mình trên thị trường
mục tiêu. Marketing-mix bao gồm bốn yếu tố chính: chiến lược sản phẩm,
chiến lược giá cả, chiến lược phân phối và chiến lược xúc tiến và hỗ trợ kinh

lưới phân phối, các vấn đề dự trữ, kho bãi, phương thức vận chuyển... Hiểu
theo nghĩa rộng, phân phối có nghĩa là tập hợp tất cả các phương thức và
hoạt động chuyển hàng hoá và dịch vụ từ người bán đến người mua. Chiến
lược này chú trọng đến các mục tiêu:
+ Mở rộng thị trường tiềm năng.
+ Tăng cường chất lượng các kênh thương mại.
+ Giảm thiểu chi phí trong phân phối.
* Chiến l ư ợc xúc tiến và h ỗ t r ợ kinh doanh
Là chiến lược bao gồm mọi hoạt động nhằm truyền bá những thông tin
về sản phẩm như quảng cáo, kích thích tiêu thụ và các hoạt động khuyến mại
khác... tới người tiêu dùng. Chiến lược này nhằm đẩy mạnh các luồng thông
tin hai chiều giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Như vậy, Marketing-mix là loại Marketing phối hợp hài hoà các yếu tố
cơ bản của nó sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của môi trường kinh
doanh nhằm thu được lợi nhuận tối ưu.
Về nội dung có thể đưa ra mô hình
sau:
MM
P
1
P
2
P
4
P
3
Đỉnh chóp của Marketing-mix toả ra 4 trục chính xuống các điểm của
4P là MM-P
1
, MM-P

đưa ra liên quan đến cả 4 yếu tố trong Marketing-mix, bởi vì các yếu tố này

Trích đoạn O Cơ hội và T Thỏch thức Định hướng và mục tiờu xuất khẩu gạo Nhúm giải phỏp vĩ mụ Chiến lược Marketing-m
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status