CHÍNH SÁCH của NHÀ nước TRONG VIỆC QUẢN lý và PHỤC hồi RỪNG NGẬP mặn ỨNG PHÓ với BIẾN đổi KHÍ hậu ở VIỆT NAM - Pdf 50

CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ PHỤC HỒI
RỪNG NGẬP MẶN ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
Hoàng Anh Vũ, Lê Thị Hương Giang
Tóm tắt. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động mạnh nhất của biến đổi khí hậu,
trong đó vùng ven biển là nơi chịu tác động trực tiếp và nặng nề nhất. Kết quả của nhiều nghiên cứu cho
thấy rừng ngập mặn có vai trò to lớn trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu như: chắn sóng, chắn gió,
bảo vệ đê biển,... Tuy nhiên, hệ thống chính sách của Nhà nước để trồng mới, phục hồi và bảo vệ rừng
ngập mặn ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý và còn nhiều khoảng trống. Đây chính là
nguyên nhân làm suy giảm cả quy mô và diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam trong những năm qua.
Từ khóa: Rừng ngập mặn, chính sách, biến đổi khí hậu.

1. MỞ ĐẦU
Với hơn 3.260 km bờ biển, Việt Nam là một nước chịu tác động mạnh của thiên tai và có
tính nhạy cảm cao đối với các rủi ro môi trường. Vùng ven biển là nơi chịu tác động nặng nề
nhất của biến đổi khí hậu như: nước biển dâng, bão, lũ lụt và triều cường,... Ngoài ra, vùng ven
biển còn phải hứng chịu những hậu quả về môi trường của biển đổ vào và sông đổ ra. Rừng ngập
mặn (RNM) ở vùng ven biển nên thường xuyên và trực tiếp chịu ảnh hưởng của các tác động nói
trên.
RNM là nguồn sống của một bộ phận khá lớn người dân Việt Nam, mang lại lợi ích và
giá trị to lớn về kinh tế – xã hội – văn hóa – môi trường, đóng góp rất quan trọng cho sự nghiệp
công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. RNM còn có vai trò quan trọng trong việc chống lại
biến đổi khí hậu như: nạp, tiết nước ngầm, lắng đọng trầm tích, độc tố, tích lũy chất dinh dưỡng,
điều hòa vi khí hậu, hạn chế lũ lụt, sản xuất sinh khối, duy trì đa dạng sinh học, chắn sóng, chắn
bão bảo vệ bờ biển.
Tuy nhiên, RNM ở Việt Nam đang ngày càng bị thu hẹp về diện tích và suy giảm về số
lượng loài. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do khai thác không hợp lý của người dân. Bên
cạnh đó, chính sách quản lý của Nhà nước còn thiếu, chưa hữu hiệu và chưa đáp ứng kịp thời với sự
phát triển kinh tế và diễn biến của biến đổi khí hậu. Việc thực hiện các chính sách của Nhà nước
cũng là vấn đề cần xem xét khi triển khai ở địa phương.
2. HIỆN TRẠNG RỪNG NGHẬP MẶN Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam, những nguồn tài nguyên từ rừng ngập mặn đã được sử dụng bởi người dân

giảm độ cao của sóng từ 1m ở ngoài khơi xuống còn 0,05m khi vào tới bờ đầm cua và bờ đầm
không bị xói lở [2]. Còn nơi không có RNM ở gần đó, cùng một khoảng cách như thế thì độ cao
của sóng cách bờ đầm 1,5km là 1m, khi vào đến bờ vẫn còn 0,75m và bờ đầm bị xói lở.
Khả năng làm giảm sức mạnh của sóng thần phụ thuộc 2 quá trình vật lí của sóng thần: quá
trình tấn công của sóng và dòng chảy kéo theo sau đó. Ngoài ra còn phải kể đến đặc điểm của
RNM. Vai trò bảo vệ của RNM phụ thuộc vào đặc điểm thực vật (mật độ, chiều cao, đường kính rễ
cây và thân cây…) và đặc điểm sóng thần (chiều cao sóng, độ sâu nước…). Có chức năng như
barrier hay đê chắn sóng, làm giảm bớt sức mạnh và làm chậm dòng chảy của sóng do những cơn
bão lớn và sóng thần. Nếu RNM đủ cao, nó có thể đẩy lùi sóng ra phía biển.
Nếu không có RNM, sóng thần sẽ tiến thẳng vào bờ với sức mạnh và chiều cao tối đa. Nó
được xác định bởi độ lớn và cơn địa chấn tự nhiên tạo ra bởi sóng thần và các nhân tố địa
phương: đặc điểm vùng bờ, địa hình ngoài khơi, độ dốc bờ biển…

2


3.3. Bảo vệ đê biển
Từ đầu thế kỷ XX, dân cư ở các vùng ven biển phía Bắc đã biết trồng một số loài cây
ngập mặn như trang và bần chua để chắn sóng bảo vệ đê biển và vùng cửa sông. Mặc dù thời kỳ
đó đê chưa được bê tông hoá và kè đá như bây giờ nhưng nhờ có RNM mà nhiều đoạn đê không
bị vỡ khi có bão vừa (cấp 6 ÷ 8).
Theo một số nghiên cứu giá trị RNM bảo vệ bờ biển ở một số nơi trên thế giới được ước tính
khoảng 300.000 USD/km, căn cứ vào chi phí xây dựng bờ/kè nhân tạo [5]. Trồng 12.000 ha
RNM tiêu tốn 1,1 triệu USD nhưng tiết kiệm được 7,3 triệu USD duy tu đê biển [6].
3.4. Tác dụng của RNM trong việc bảo vệ đất bồi, hạn chế xâm nhập mặn
Rễ cây ngập mặn chằng chịt, đặc biệt là những quần thể thực vật tiên phong mọc dày đặc
có tác dụng làm giảm vận tốc dòng chảy tạo điều kiện cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn ở các vùng
cửa sông ven biển. Chúng vừa ngăn chặn có hiệu quả hoạt động công phá bờ biển của sóng, đồng
thời là vật cản làm cho trầm tích lắng đọng. Ví dụ như, hàng năm vùng cửa sông Hồng tại Ba Lạt
tiến ra biển 60 ÷ 70m, một số xã ở tỉnh Tiền giang, Bến tre đất bồi ra biển 25 ÷ 30m, Trà vinh,

là nguyên liệu làm bột giấy.
Rừng ngập mặn không những mang lại những giá trị tạo sinh kế cho người dân địa phượng
dựa vào sự đa dạng của hệ động thực vật phong phú có trong rừng, mà còn bảo vệ mùa màng, tài
sản, bảo vệ chính cuộc sống của người dân. Vì vậy trong công cuộc ứng phó biến đổi khí hậu của
cộng đồng ven biển không thể thiếu vai trò to lớn của rừng ngập mặn.
4. CÁC CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN RNM Ở VIỆT
NAM
4.1. Những văn bản quy định của pháp luật
 Luật Thủy sản của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, 2003.
 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, 2004.
 Luật bảo vệ môi trường của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, 2005.
 Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013.
 Quyết định số 327/CT ngày 15-9-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về một số chủ
trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước.
 Quyết định số 773/TTg ngày 21-12-1994 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình khai
thác, sử dụng đất hoang hoá, bãi bồi ven sông, ven biển và mặt nước ở các vùng đồng bằng.
 Nghị định 01/NĐ - CP của Chính phủ ngày 4/1/1995 về việc Giao đất nông, lâm nghiệp,
nuôi trồng thủy sản cho các lâm, nông trường.
 Nghị định số 109/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/9/2003 về Bảo tồn và phát triển bền
vững các vùng đất ngập nước.
 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 3/3/2006 về việc Thi hành Luật bảo vệ
và phát triển rừng.
 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 845/TTg ngày 22/12/1995 phê duyệt “Kế hoạch
hành động Đa dạng sinh học của Việt Nam”.
 Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 11/1/2001 về Quy chế
quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên.

4



không có rừng trong khu rừng phòng hộ để sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp theo quy
hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Chủ rừng là hộ gia định cá nhân
được sử dụng không quá 40% diện tích đất không có rừng trên đất rừng ngập mặn để sản xuất
nông nghiệp ngư nghiệp kết hợp.

5


 Quyết định số 60 ngày 30/9/2010 của Thủ tướng chính phủ Ban hành các nguyên tắc, tiêu
chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 20112015.
5. ĐÁNH GIÁ CHUNG
5.1. Việc thực hiện quản lý ở Trung ương
Theo Nghị định số 109/2003/NĐ-CP, Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý các vùng
đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia liên quan đến nhiều ngành và nhiều tỉnh. Diện
tích đất ngập nước còn lại do các Bộ khác (Bộ NN & PTNT; Bộ Thủy sản) trực tiếp quản lý,
nhưng mối quan hệ sinh thái của nhiều kiểu đất ngập nước (ĐNN) lại khá chặt chẽ và phụ thuộc
lẫn nhau. Hiện chưa có ủy ban quốc gia quản lý ĐNN trong khi việc quản lý hệ sinh thái RNM
liên quan tới nhiều Bộ, ngành. Sự phối hợp trong quản lý giữa các Bộ, ngành ở Trung ương và
đặc biệt ở địa phương còn thiếu chặt chẽ.
Ở Trung ương và địa phương hầu như không có bộ phận riêng theo dõi và giám sát RNM
trừ một số tỉnh có diện tích RNM lớn. Điều quan trọng là chưa có những văn bản quy định về cơ
chế phối hợp giữa các ngành ở Trung ương và địa phương trong việc quản lý hệ sinh thái RNM.
Việt Nam chưa có luật riêng về đất ngập nước nói chung và RNM nói riêng, còn thiếu các
quy định, pháp luật về quản lý, bảo tồn, sử dụng khôn khéo và phát triển bền vững RNM và thiếu
các chế tài để thi hành. Những quy định điều chỉnh trực tiếp hoạt động quản lý và bảo tồn đất
ngập nước chủ yếu do Bộ và các địa phương ban hành, còn thiếu các văn bản mang tính pháp lý
cao như Nghị định của Chính phủ. Hiện nay, mới chỉ có Nghị định 109/2003/NĐ-CP của Chính
phủ ban hành là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất liên quan trực tiếp đến phân công trách
nhiệm quản lý đất ngập nước và RNM. Các văn bản do Uỷ ban Nhân dân các địa phương ban
hành còn nặng nề về biện pháp hành chính, thiếu các chế tài huy động sự tham gia của cộng

huyện đã dẫn đến việc phá RNM khá tùy tiện.
- Việc quản lý hệ sinh thái RNM chưa được coi trọng đúng mức, nhất là ở địa phương có
diện tích RNM không lớn và chưa chú trọng xây dựng một hệ thống quản lý RNM từ trung ương
tới địa phương.
- Đội ngũ cán bộ quản lý ở địa phương không những thiếu mà còn có nhiều hạn chế về kiến
thức hệ sinh thái RNM dẫn đến hạn chế năng lực nghiệp vụ trong việc giải quyết các vấn đề thực
tiễn. Do vậy ở nhiều địa phương đã xảy ra việc chặt phá RNM trên diện rộng để phát triển nuôi
trồng thủy sản.
- Ngoài ra, chính quyền địa phương ở các vùng miền khác nhau có cách quản lý RNM khác
nhau, vì vậy, hiệu quả thu được cũng khác nhau: RNM ở miền Bắc chủ yếu do xã trực tiếp quản lý,
hầu hết không giao cho các hộ mà thông qua các tổ bảo vệ kiêm nhiệm hoặc chuyên trách đóng
chốt ở rừng. Như vậy, vai trò của cộng đồng trong xã chưa được chú ý đúng mức trong quản lý bảo
vệ rừng. Các thể chế chính sách riêng cho RNM hầu như rất ít, chủ yếu theo các chính sách chung
của Nhà nước. Ở miền Nam, các chính sách về RNM đa dạng và cụ thể hơn như thực hiện giao
đất, khoán rừng cho người dân theo Nghị định 01/NĐ-CP của Chính phủ ngày 4/1/1995 về việc
Giao đất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản cho các lâm, nông trường, các chính sách hưởng
lợi được tăng cường hơn. Ví dụ: ở Cà Mau, UBND tỉnh Cà Mau có qui định rõ diện tích nuôi tôm
và rừng theo trường hợp cụ thể, lợi ích nuôi tôm dân được hưởng hoàn toàn. Đối với rừng sau khai
thác được chia sản phẩm có thể lên tới 60-70%.
6. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

7


RNM có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, chống lại BĐKH, bảo tồn đa
dạng sinh học, phát triển sinh kế của người dân và nhiều lợi ích khác mà chúng ta chưa chú ý như
lưu trữ cacbon, bảo vệ cả hệ thống sản xuất nông nghiệp sau đê,... Chính vì vậy, việc bảo vệ và
phục hồi hệ sinh thái RNM trong giai đoạn hiện nay là hướng làm đúng đắn nhằm duy trì điều kiện
môi trường – kinh tế - xã hội cho thế hệ sau.
Trong tình hình hiện nay, Chính sách của Nhà nước là một trong những nhân tố quan

Othman, M.A. (1994), Value of mangroves in coastal protection, Hydrobiologia, 285, pp. 277282.
Reid,H. & Huq,S. (2005), Climate change - biodiversity and livelihood impacts. Tropical forests
and adaptation to climate change, Turrialba, Costa Rica, March 2004, pp. 57-70.
Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng Nam Bộ (2006), Báo cáo Dự án Rà soát quy hoạch hệ thống
rừng phòng hộ ven biển đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2006 – 2010 và tầm nhìn đến 2020.

8


9




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status