Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
T¹ Quang TuÊn F4-K36
25 Nắm bắt được tình hình như vậy, Văn phòng Tổng công ty cũng như
các công ty địa phương đã có những nỗ lực lớn để khắc phục tình hình. Do
vậy đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong những năm gần đây :
Nếu như năm 2000, Bảo Việt mới chỉ nhận bảo hiểm cho 1413 đơn
vị thì đến năm 2003, số đơn vị được bảo hiểm đã lên tới 3102 đơn vị -gần
gấp 3 lần. Còn giá trị bảo hiểm cũng tăng nhưng tăng hơn gấp 14 lần. Có
thể nói giá trị bảo hiểm tăng nhanh như vậy một mặt là vì nền kinh tế Việt
Nam trong những năm vừa qua đang trên đà phát triển vượt bậc. Trong thời
gian đầu mở cửa, đã có những Công ty nước ngoài đầu tư nhưng chỉ đầu tư
với mức độ rất dè dặt mục đích của họ là muốn thăm dò thị trường Việt
Nam. Sau một thời gian nghiên cứu, thấy Việt Nam là nơi có cơ hội đầu tư
tốt nên những dự án lớn hơn về quy mô đã được ký kết.
Doanh thu của nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn tăng nhanh, với tốc độ
cao và khá đều. Năm sau doanh thu tăng hơn năm trước. Sở dĩ Bảo Việt
đạt được kết quả như vậy là do những nguyên nhân chủ yếu sau :
- Về khách quan : sự ban hành các quyết định của Bộ tài chính có liên quan
đến vấn đề bảo hiểm đã tạo ra ảnh hưởng lớn đối với việc kinh doanh bảo
hiểm của công ty. Điều đó được thể hiện là số đơn bảo hiểm cấp và doanh
thu trong năm 2003 tăng gần gấp đôi so với năm 2000. Những năm gần
đây số đơn bảo hiểm và doanh thu tăng không mạnh nguyên nhân chủ yếu
là do nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn của Công ty bị mất hẳn một phần doanh
thu về phía Công ty bảo hiểm Petrolimex và Bảo Minh. Mặc dù bị hao hụt
lớn nhưng nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn những năm gần đây vẫn duy trì
được doanh thu năm sau tăng hơn năm trước. Đó là kết quả nỗ lực không
thể phủ nhận của toàn bộ cán bộ trong nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn.
Những năm gần đây do chính sách của nhà nước ngày càng thông thoáng
được các nhà tái bảo chấp nhận.
Mặt khác, Tổng công ty đã có quan hệ rất tốt với Bộ tài chính, Tổng
cục đầu tư và phát triển, các ngân hàng, cục CSPCCC Giờ đây, Bảo Việt
cũng luôn luôn được sự ủng hộ của các ngân hàng. Các ngân hàng chỉ cho
các doanh nghiệp vay vốn khi họ đã tham gia bảo hiểm cho tài sản của
mình. Nhiều ngân hàng đã buộc các đơn vị vay tiền phải xuất trình giấy tờ
chứng nhận bảo hiểm thì mới cho vay tiền. Tổng công ty cũng đã theo dõi
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
T¹ Quang TuÊn F4-K36
27chặt chẽ các công trình đầu tư lớn, kịp thời thông báo cho địa phương.
Nhiều trường hợp đã phối hợp với Tổng cục đầu tư và phát triển thông qua
Bộ tài chính đề nghị Nhà nước cấp bổ sung vốn để tham gia bảo hiểm. Bảo
Việt đã phối hợp chặt chẽ với một số ngành có số lượng tài sản lớn như
bưu điện, y tế, công nghiệp để triển khai đồng bộ trong cả nước.
Bên cạnh đó, sự thành lập các công ty môi giới bảo hiểm, các công
ty bảo hiểm nước ngoài cũng có những đóng góp tích cực trong việc đem
lại dịch vụ bảo hiểm cho công ty
Doanh thu tăng còn được thể hiện qua bảng sau :
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
T¹ Quang TuÊn F4-K36
28Bảng : Cơ cấu doanh thu bảo hiểm Hoả hoạn tại Bảo Việt
Năm Đơn vị
1999 2000 2001 2002 2003
ty ngày càng tăng Năm 2003, tỷ lệ này có giảm đi một ít, nguyên nhân là
do doanh thu của bảo hiểm Hoả hoạn tăng không đáng kể trong khi đó
doanh thu của toàn Tổng công ty tăng (do sự tăng doanh thu của các nghiệp
vụ khác như : bảo hiểm hàng xuất, bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm thân xe ô
tô ).
Tuy nhiên, đến nay bảo hiểm Hoả hoạn đã là một nghiệp vụ quan
trọng đem lại nguồn doanh thu không nhỏ cho Bảo Việt.
2 Tình hình chi bồi thường
Ta đã biết được vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác bồi
thường trong bảo hiểm. Bồi thường chính xác, nhanh chóng là phương
pháp tốt nhất để tạo ra sự tín nhiệm của khách hàng vào công ty. Quán triệt
quan điểm đó, Bảo Việt đã đề ra những biện pháp về quản lý cũng như việc
tiến hành công tác này sao cho có hiêụ quả nhất.
Về biện pháp quản lý, quỹ chi bồi thường chiếm tỷ lệ phần trăm
đáng kể trong tổng số phí thu được. Hiện nay, biểu phí bảo hiểm Hoả hoạn
gồm các thành phần như sau :
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
T¹ Quang TuÊn F4-K36
29 - Chi bồi thường thường xuyên chiếm 65%.
- Chi dự trữ tổn thất lớn chiếm 10%
- Chi đề phòng và hạn chế tổn thất chiếm 5%
- Chi quản lý và thuế doanh thu chiếm 15%
- Chi hoa hồng, cộng tác viên chiếm 5%.
Như vậy phần trích lập quỹ dự trữ bồi thường ( bao gồm chi bồi
thường thường xuyên và chi dự trữ tổn thất lớn ) chiếm 75% tổng số phí.
Cách hoạch định như vậy là rất cần thiết đối với các nhà bảo hiểm. Nó
không những giúp cho việc nghiên cứu doanh thu bảo hiểm của nghiệp vụ
2000 3424.68 17653,00 19,4
2001 23972,76 41329,05 70,24
2002 71918,28 107877,42 50,14
2003 143849,34 230158,94 60,25
Nguồn số liệu:
Phòng bảo hiểm Hoả hoạn và kỹ thuật - Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam
Nếu như trong 2 năm ( 90-91 ) không xảy ra vụ tổn thất nào thì trong
các năm sau đã có nhiều vụ Hoả hoạn gây tổn thất lớn. Số tiền bồi thường
ngày càng tăng do những nguyên nhân chủ yếu sau :
- Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhiều công ty đã trang bị thêm
nhiều những máy móc hiện đại,với dây chuyền sản xuất lớn, có khả năng
tận dụng những nguyên vật liệu rẻ tiền hơn nhưng cũng dễ gây Hoả hoạn
hơn. Khi Hoả hoạn thường trên một diện rộng vì quy mô sản xuất lớn.
- Các doanh nghiệp mới chỉ đầu tư vốn vào xây dựng, sửa chữa tài sản, lắp
đặt các máy móc mới chứ chưa để ý đến việc mua sắm các thiết bị an toàn,
các biện pháp PCCC.
- Thêm vào đó số doanh nghiệp tham gia bảo hiểm tăng nên số vụ bồi
thường cũng như số tiền bồi thường tăng.
Ngoài ra, theo bảng trên có thể thấy công tác bồi thường của Bảo
Việt được đảm bảo. Tỷ lệ số tiền bồi thường thực tế so với quỹ dự trữ bồi