DT078 - Các chính sách của Việt Nam trong việc thu hút FDI nói chung và từ Nhật Bản nói riêng - Pdf 81

A. LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang có một vai trò đặc
biệt quan trọng không chỉ đối với các nước đang và kém phát triển mà thậm
chí cả đối với những nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản...
Riêng đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, đang trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì FDI đã góp phần tạo nguồn vốn lớn
cho phát triển kinh tế đất nước, giúp nước ta có được những công nghệ mới
hiện đại, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo động lực mới cho nền kinh tế...
Qua đó có thể thấy được tầm quan trọng của FDI đối với sự phát triển kinh tế
nước ta. Nhận thức được điều đó, nước ta đã có những chính sách nhằm thu
hút các nhà đầu tư nước ngoài. Điều đó được thể hiện rõ nét nhất trong việc
ban hành Luật Đầu tư nước ngoài ngày 29/12/1987 và các luật đầu tư sửa đổi
cùng các thông tư, nghị định khác. Kể từ đó đến nay các nhà đầu tư nước
ngoài ở các quốc gia khác nhau lần lượt đã tiến hành các hoạt động đầu tư tại
Việt Nam, trong số đó phải kể đến nhà đầu tư Nhật Bản.
Trong suốt 20 năm trở lại đây Nhật Bản luôn đứng trong nhóm các
quốc gia dẫn đầu về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam. Một số lĩnh vực Nhật Bản
đầu tư đang trở thành sức sống của nền công nghiệp Việt Nam như sản xuất ô
tô, công nghiệp điện tử... Lợi ích to lớn mà các nhà đầu tư Nhật Bản mang lại
là không thể phủ nhận. Chính vì thế cho nên việc nhìn nhận và đánh giá một
cách nghiêm túc về đầu tư trực tiếp của Nhật Bản là một việc làm cần thiết.
Điều đó giúp cho nước ta có thể học hỏi được những bài học kinh nghiệm đã
giúp cho Nhật Bản sửa chữa những mất cân đối của nền kinh tế và tạo cho
nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng hài hoà với nền kinh tế toàn cầu, từ đó giúp
Việt Nam có thể xây dựng được một môi trường đầu tư hấp dẫn không chỉ đối
với các nhà đầu tư Nhật Bản mà cả các nhà đầu tư khác. Bởi một thực tế cho
thầy hiện nay môi trường đầu tư của nước ta còn nhiều hạn chế đặc biệt là về
hệ thống luật pháp, thủ tục hành chính.
Với những lý do trên, nhóm thảo luận E30 chúng em nhận thấy việc
nghiên cứu về đề tài này rất bổ ích nhưng cũng rất khó khăn. Hơn nữa, với
vốn kiến thức hạn hẹp, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng

một tiềm năng nhu cầu hàng hoá lớn cả cho đời sống và cho sản xuất. Đây là
một điểm hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư Nhật Bản.
Yếu tố kinh tế: Việc Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường đã
làm kích thích sản xuất hàng hoá, tăng cường khả năng cạnh tranh. Thêm vào
đó, “Việt Nam đã đưa ra các liều thuốc hiệu nghiệm để chữa chạy nền kinh
tế” (Lời của bà Yaeko Matsuzaki, nhà nghiên cứu của tổ chức mậu dịch quốc
tế Nhật Bản), công cuộc đổi mới cải cách kinh tế đã giúp cho Việt Nam phát
triển hơn theo xu hướng ổn định, tạo điều kiện tốt hơn cho các nhà kinh doanh
Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam.
Yếu tố chính trị: Việt Nam thực hiện một Đảng cầm quyền duy nhất
và đi theo đường lối của Đảng. Thực hiện mở rộng quan hệ với các nước
không phân biệt chế độ chính trị. Do đó nước ta luôn đảm bảo được ổn định
về chính trị, điều kiện quan trọng để đảm bảo cho phát triển kinh tế.
Yếu tố luật pháp: Hệ thống luật pháp của Việt Nam đang ngày càng
được hoàn thiện cho thích ứng với tình hình thực tiễn, đặc biệt là những đổi
mới hợp lý trong lĩnh vực đầu tư đã tạo điều kiện thu hút đầu tư như: luật Đầu
tư nước ngoài sửa đổi năm 2005; nghị định số 38/2003/NĐ-CP của chính phủ
về việc chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hình
thức vốn cổ phần...
II. THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT
BẢN VÀO VIỆT NAM
Đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam chỉ chiếm chưa đầy 0,1% đầu tư
trực tiếp của Nhật Bản (JDI) ra nước ngoài núi chung và chỉ bằng 1/20 JDI đổ
vào khu vực ASEAN nhưng đối với sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ
của Việt Nam thỡ đây lại là một nguồn vốn rất quan trọng, cúý nghĩa tạo lập
những nền tảng cơ sở cho mối quan hệ hợp tỏc kinh tế Việt Nam – Nhật Bản.
1.1. Thực trạng của FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam
a. Khỏi quỏt về tiến trỡnh đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam từ năm 1988
Năm 1988 là năm Nhật Bản bắt đầu tiến hành đầu tư trực tiếp vào Việt
Nam bằng dự ỏn của Cụng ty Kansai Kyodo trong lĩnh vực chế tạo thiết bị tại

0
200
400
600
800
1,000
1,200
1,400
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Vèn ®Çu t­ (triÖu USD)
0
10
20
30
40
50
60
70
80
Sè dù ¸n
Vèn ®¨ng ký Vèn gi¶I ng©n Dù ¸n
Nhưng đến giai đoạn 1998 - 2003 đầu tư của cỏc doanh nghiệp Nhật
Bản giảm mạnh. Năm 1998 Việt Nam chỉ thu hút được 56 triệu USD vốn JDI
và 12 dự án. Sang năm 1999, tỡnh hỡnh cú được cải thiện khi tổng JDI vào
Việt Nam đạt 98 triệu USD và số dự án là 17, đứng thứ ba trong số cỏc quốc
gia và khu vực đầu tư vào Việt Nam. Tuy cú dấu hiệu phục hồi khi vốn đầu tư
cấp phộp của Nhật Bản tăng liên tục trong hai năm 2000, 2001, nhưng một
lần nữa lượng vốn này lại sụt giảm trong năm 2002. Năm 2002, vốn đầu tư
cấp phộp từ Nhật Bản là 95 triệu USD, ít hơn 15% so với mức của năm 1997.
Tỡnh hỡnh này cũng giống như tỡnh hỡnh đầu tư của các nước khỏc trờn thế

sang quốc gia khỏc theo ngành là một tất yếu.
Sau giai đoạn “khủng hoảng” về đầu tư nước ngoài 1998 – 2003, đầu
tư nước ngoài từ Nhật Bản vào Việt Nam cú nhiều khởi sắc. Chỉ tính riêng 3
tháng đầu năm 2004, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư các doanh nghiệp cú vốn
đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam đó tăng thêm 10 dự ỏn với tổng vốn đầu tư
đăng ký trờn 100 triệu USD, nõng tổng số dự án đầu tư cũn hiệu lực của cỏc
doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam lờn 428 dự án. Trong đó, số dự án đó
được thực hiện chiếm trờn 86%, tương ứng khoảng 3.947 triệu USD. Cũng
trong năm 2004, Nhật Bản đó trở thành quốc gia cú số vốn đó đầu tư lớn nhất
vào Việt Nam với 4,1 tỷ USD, nhiều hơn quốc gia đứng thứ 2 là Singapore
gần 700 triệu USD.
Sau năm 2004, cú thể nói năm 2005 là một năm tiếp tục thành cụng
trong thu hỳt FDI từ Nhật Bản. Tớnh theo vốn đăng ký đầu tư, trong nửa đầu
năm 2005, đầu tư trực tiếp của Nhật vào Việt Nam đạt 161,8 triệu USD, tăng
3,3 lần so với cựng kỳ năm ngoái. Tổng đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam
trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 6/2005 đứng thứ 4, chủ yếu là cỏc dự ỏn
vừa và nhỏ. Tuy nhiờn, Nhật Bản dẫn đầu các nước và vựng lónh thổ khỏc về
việc mở rộng những dự ỏn hiện tại với khoản đầu tư trị giỏ 347,2 triệu USD
của cỏc hóng lớn như Canon Inc., Honda Motor Co. và Toto Ltd.
Đầu tư của 5 quốc gia và vựng lónh thổ hàng đầu thỏng 11/2005
Quốc gia và vựng
lónh thổ
Số dự ỏn
Tỷ trọng
trong tổng
số dự ỏn
(%)
Tổng vốn
đăng ký (triệu
USD)

đến khu vực sản xuất vật chất, nhất là lĩnh vực cụng nghiệp. Tính đến ngày
31/12/1998, hoạt động đầu tư tập trung chủ yếu vào ngành cụng nghiệp nặng
với trờn 1/3 số dự ỏn và 50% tổng JDI ở Việt Nam. Kế tiếp là cỏc ngành cụng
nghiệp nhẹ với 51 dự ỏn và vốn đầu tư là 250 triệu USD, ngành giao thụng
vận tải, bưu điện với 17 dự ỏn và 405 triệu USD, xõy dựng với tổng số vốn là
412 triệu USD.
Hầu hết cỏc dự án đầu tư của Nhật Bản vào Việt nam đều cú trỡnh độ
cụng nghệ cao, tập trung phần lớn vào cỏc lĩnh vực cụng nghiệp mũi nhọn mà
nước ta cũn yếu và chỳ trọng phỏt triển. Cỏc dự ỏn trong lĩnh vực cụng
nghiệp hiện chiếm 65,4% tổng số dự ỏn và 81,5% tổng số vốn JDI đang hoạt
động tính đến thỏng 06/2002. Riờng lĩnh vực lắp rỏp và sản xuất ụ tụ, cỏc
cụng ty Nhật Bản tham gia đông đảo nhất với 7 dự ỏn cú tổng số vốn đầu tư
giai đoạn đầu là 384 triệu USD. Sản phẩm chủ yếu hiện nay của cỏc doanh
nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam gồm cỏc loại ô tô, xe máy, hàng điện tử và cỏc
mặt hàng cơ khí cao cấp đạt chất lượng tiờu chuẩn quốc tế.
Cỏc cụng ty Nhật Bản đó đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tần 3
khu cụng nghiệp lớn: Công ty Nomura đầu tư xây dựng khu cụng nghiệp rộng
153ha tại Hải Phũng với số vốn đầu tư 163 triệu USD. Công ty Nissho Iwai
đầu tư 41 triệu USD xõy dựng khu cụng nghiệp rộng 100ha tại Đồng Nai.
Công ty Sumitomo đầu tư 53 triệu USD xõy dựng khu cụng nghiệp Thăng
Long rộng 128ha.
Cú thể núi Việt Nam đang chứng kiến làn sóng đầu tư thứ hai của các
nhà đầu tư Nhật Bản. Điều này thể hiện rất rừ trong số lượng các nhà đầu tư
Nhật Bản tại Hà Nội. Hai năm trước đây mới chỉ có 120 nhà đầu tư Nhật Bản
tại Hà Nội, nay con số này đó lờn tới 180. Đồng thời, các nhà đầu tư cũ cũng
đó gia tăng mức độ đầu tư. Chẳng hạn, Tập đoàn Canon tại Khu cụng nghiệp
Bắc Thăng Long (Hà Nội) đó gia tăng quy mô đầu tư lên gấp đôi. Thành công
của các nhà đầu tư hiện tại đó củng cố niềm tin để các nhà đầu tư mới của
Nhật Bản vào làm ăn tại Việt Nam.
ễng Oka Motoyuki, Chủ tịch Ủy ban Kinh tế Nhật-Việt thuộc Liờn hiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status