BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ TRANG
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TÀO THÁO VÀ LƯU BỊ
TRONG TÁC PHẨM TAM QUỐC DIỄN NGHĨA CỦA
LA QUÁN TRUNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ TRANG
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TÀO THÁO VÀ LƯU BỊ
TRONG TÁC PHẨM TAM QUỐC DIỄN NGHĨA CỦA
LA QUÁN TRUNG
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Hà Thị Hải
Sơn La, năm 2013
1.2.1. Nguồn gốc của tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa..............................8
1.2.2. Khái quát về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tam quốc diễn
nghĩa......................................................................................................9
1.2.2.1. Khái quát về nội dung Tam quốc diễn nghĩa...........................9
1.2.2.2. Khái quát về nghệ thuật Tam quốc diễn nghĩa......................10
1.3. Một số vấn đề lý luận.........................................................................11
1.3.1. Nhân vật văn học........................................................................11
1.3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật....................................................13
CHƯƠNG 2. NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA NHÂN VẬT TÀO THÁO
VÀ LƯU BỊ.................................................................................................16
2.1. Nguồn gốc xuất thân.........................................................................16
2.2. Ngoại hình........................................................................................17
2.3. Tính cách..........................................................................................20
2.3.1. Tính cách Tào Tháo....................................................................20
2.3.1.1. Đa nghi, nham hiểm và tàn bạo...........................................20
2.3.1.2. Cơ trí và ngoan cường..........................................................26
2.3.2. Tính cách Lưu Bị.........................................................................30
2.3.2.1. Nhân nghĩa..........................................................................30
2.3.2.2. Tín nghĩa.............................................................................32
2.3.2.3. Khôn ngoan.........................................................................33
2.4. Tài năng............................................................................................36
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TÀO THÁO VÀ LƯU BỊ..............................................................................40
3.1. Miêu tả ngoại hình nhân vật..............................................................40
3.2. Miêu tả hành động nhân vật..............................................................43
3.3. Khắc họa ngôn ngữ nhân vật.............................................................45
3.3.1. Đối thoại.....................................................................................45
3.3.2. Độc thoại nội tâm........................................................................48
tác giả.
1.3. Tam quốc diễn nghĩa là tác phẩm được giảng dạy trong trường Đại
học và chọn trích giảng ở nhà trường phổ thông trung học. Trong chương
trình Ngữ văn 10, các soạn giả SGK đã chọn trích đoạn “Hồi trống Cổ Thành”
và “Tào Tháo uống rượu luận anh hùng” để giảng dạy và đọc thêm. Nghiên
cứu Tam quốc diễn nghĩa và lựa chọn đề tài này giúp tôi hiểu sâu hơn về tác
phẩm, cũng như hiểu thêm về tác phẩm văn học Trung Quốc và phục vụ tốt
hơn cho quá trình giảng dạy phần văn học nước ngoài ở nhà trường phổ
thông sau này.
Từ những lí do trên đã thúc đẩy tôi tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này. Hy
vọng khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo có ích cho các bạn sinh viên yêu
thích tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa và bộ môn văn học Trung Quốc.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Ở Trung Quốc
1
Trong cuốn Luận bàn Tam quốc, Mao Tôn Cương với những bàn luận
sâu sắc vô song về một trăm hai mươi hồi của Tam quốc diễn nghĩa quả là
xưa nay chưa mấy ai sánh kịp. Ông rất chú trọng bàn về tính cách của các
nhân vật và bộc lộ thái độ của mình qua những hành động, việc làm của các
nhân vật. Tác giả này đã đánh giá về nhân vật Tào Tháo như sau: “Tào Tháo
suốt đời mượn cái này để chế cái khác. Tháo mượn Thiên tử để chế chư hầu,
mượn chư hầu để diệt chư hầu. Đến lúc muốn an lòng quân lại mượn thủ cấp
người khác để trấn an quân sĩ. Thậm chí lại mượn ngay búi tóc mình để bảo
vệ luật pháp. Tháo quả là một tay: Thiên cổ đệ nhất gian hùng vậy” [5, 79].
Nhân vật Lưu Bị cũng được Mao Tôn Cương nhận xét như sau: “Trước đây,
Khổng Minh bày kế cho Lưu Kì cũng khuyên nên chạy lánh nạn. Nhưng
Huyền Đức chạy mấy chặng mà vẫn chưa thoát nạn. Ấy chỉ vì Huyền Đức đầy
2
Nó bộc lộ rõ cách đối xử tàn khốc vô tình giữa bọn bóc lột với nhau, cũng
phản ánh bộ mặt thực của giai cấp bóc lột phong kiến quen thói cướp đoạt”
[26, 384]. Nhân vật Lưu Bị cũng được các tác giả này nhận xét như sau: “Lưu
Bị trung hậu, nhân ái, các thành viên trong tập đoàn của ông tin cậy lẫn
nhau, giúp đỡ nhau, trung thành với nhau và sống chết có nhau” [26, 384].
Tác giả Trương Quốc Phong trong cuốn Tiểu thuyết sử thoại các thời đại
Trung Quốc không chỉ quan tâm đến khuynh hướng tư tưởng, vấn đề miêu tả
chiến tranh mà còn chú ý đến vấn đề miêu tả nhân vật. Ông có đề cập đến
một số nét tính cách của nhân vật Tào Tháo, Lưu Bị, Gia Cát Lượng, Quan
Vũ… và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa. Trương
Quốc Phong nhận định: “Rõ ràng tác giả đứng về phía Lưu Bị, Gia Cát Lượng;
nhưng không vì thế mà khắc họa sơ sài tính cách Tào Tháo. Dưới con mắt
người đọc, đó là một hình tượng kép: “Quan giỏi thời bình, gian hùng thời
loạn”. Y lúc thì gian trá cực điểm, lúc thì độ lượng vô cùng…” [19, 119], hay
“Lưu Huyền Đức ba lần tìm đến lều cỏ trong hồi 37 của tiểu thuyết là một ví
dụ về sự thành công của thủ pháp khoa trương, đối sánh, ghép theo của tác
giả” [19, 124].
2.2. Ở Việt Nam
Nguyễn Tử Quang trong cuốn Tam quốc bình giảng, cũng qua các sự
kiện, các nhân vật Tam quốc mà nhận xét, phê phán… đóng góp thêm sự
suy ngẫm cùng bạn đọc. Ông không phân tích tỉ mỉ từng sự kiện một mà
tổng hợp những sự việc to lớn có liên quan đến nhau trong một “thế cờ” của
ba nước để phân tích. Ông quan tâm đến nghệ thuật miêu tả chiến tranh hơn
là nghệ thuật miêu tả nhân vật. Tuy nhiên ông có rất nhiều nhận xét sắc sảo
về tính cách các nhân vật trong tác phẩm. Ông đánh giá về nhân vật Tào
Tháo: “Tào Tháo là một người gian hùng” [21, 49]. Còn về nhân vật Lưu Bị,
tố chủ yếu để Lưu Bị đoạt được thắng lợi chính là: Nhân hòa” [6, 52]. Nghệ
thuật xây dựng hai nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị ít được tác giả này đề cập
đến.
Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc (tập 2) đã
thông qua ngôn ngữ đối thoại, hành động của nhân vật và sự kiện để chỉ
ra tính cách nhân vật trung tâm của tác phẩm như Tào Tháo, Lưu Bị,
Khổng Minh, Quan Công, Trương Phi; bước đầu khái quát nét cá tính riêng
biệt của từng nhân vật này, qua đó khẳng định phẩm chất anh hùng của
từng nhân vật chính diện. Tác giả Nguyễn Khắc Phi đã chỉ ra một số nét
tính cách của Tào Tháo như: đa nghi, nham hiểm, cơ trí, ngoan cường…
nhưng những nét tính cách đó chưa được phân tích cụ thể, sâu sắc. Nhân
vật Lưu Bị cũng được tác giả nhận xét là “một vị vua sáng, biết lấy dân
làm gốc, lấy tình nghĩa làm trọng, bôn ba bốn biển, chiêu hiền đãi sĩ, vì
sự nghiệp chấn hưng cơ đồ nhà Hán đang thời nghiêng ngửa” [18, 50].
Trong đề tài nghiên cứu khoa học Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng
nhân vật trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, tác giả
Hà Thị Hải đã chỉ ra nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật và nghệ thuật
xây dựng hệ thống nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa. Tác giả đã nhận
định về nhân vật Tào Tháo: “Hắn là kẻ nham hiểm quỷ quyệt miệng nói
nhân nghĩa nhưng bụng lại gian trá đầy mưu mô chước quỷ không từ một
thủ đoạn hèn hạ độc ác nào để thực hiện phương châm sống vị kỷ hại
nhân của mình” [9, 53]. Tác giả cũng nhận xét về hình tượng Lưu Bị là
“một ông vua lý tưởng của Nho giáo với đặc trưng “khoan dung nhân
hậu”, nhẫn nại” [9, 54].
Trong khóa luận tốt nghiệp Tìm hiểu nhân vật anh hùng trong tác
phẩm Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, tác giả Đoàn Thị Thu
Phương đã có những đánh giá chi tiết, sắc sảo về tính cách của Lưu Bị và
Ngũ hổ tướng, cũng như biện pháp nghệ thuật đặc sắc để xây dựng các
nhân vật anh hùng đó. Tác giả này đã phân tích rất kỹ “Biện pháp đối lập
tương phản” “để làm nổi bật sự mưu trí, bình tĩnh khéo léo của Huyền Đức
hai nhân vật này trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa.
3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ chủ yếu của người nghiên cứu là phân tích, tổng hợp, so
sánh, đối chiếu để làm nổi bật đặc điểm khác nhau của nhân vật Tào Tháo và
Lưu Bị, đồng thời tìm hiểu đôi nét về nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này
của La Quán Trung.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát văn bản:
Chúng tôi dựa vào việc khảo sát, thống kê, phân loại một số dữ liệu
cần thiết, cụ thể để phân tích, chứng minh cho nhận định, đánh giá trong
đề tài. Thống kê, phân loại những chi tiết để làm sáng tỏ những nét ngoại
hình, tính cách khác biệt giữa nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị, thống kê
những chi tiết gắn với các thủ pháp nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này.
5
Phương pháp so sánh:
Đây là phương pháp quan trọng nhất để tìm ra những điểm khác biệt
giữa nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị. So sánh đồng đại, so sánh lịch đại, đặt
nhân vật trong mối quan hệ đa chiều để làm nổi bật sự sinh động, hấp dẫn
và tính chất chân thực của các nhân vật.
Phương pháp phân tích:
Chúng tôi phân tích những đặc điểm về ngoại hình, tính cách và các
thủ pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng khi xây dựng hai nhân vật Tào
Tháo, Lưu Bị và phân tích nhân vật theo đặc trưng loại thể.
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận chỉ ra một cách cụ thể, chi tiết những điểm khác biệt của
hai nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị cùng một số biện pháp nghệ thuật xây
dựng hai nhân vật này, giúp bạn đọc hiểu thêm về tài năng sáng tạo nghệ
sống vào giai đoạn cuối Nguyên đầu Minh. Ông tên là La Bản, tự là Quán
Trung, hiệu là Hồ Hải Tản Nhân, người Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây (cũ) sau
chuyển đến sống ở Tiền Đường thành phố Hàng Châu (Chiết Giang) - một
trong những trung tâm văn hóa thời bấy giờ. Là người học rộng, biết nhiều,
trong mỗi sáng tác của ông người ta đều nhận thấy sự uyên thâm về tri
thức và vốn sống văn hóa của nhiều lĩnh vực. Theo Giả Trọng Minh - bạn
của ông cho biết: La Quán Trung tính tình cô độc, ít hòa hợp với mọi người,
đặc biệt những người thuộc giai cấp thống trị. Vì thời thế nhiễu nhương,
nhiều biến loạn nên ông thường hay ngao du bôn tẩu, phiêu bạt khắp nơi.
Chính điều này góp phần tạo nên chất hiện thực phong phú, sinh động cho
mỗi tác phẩm của ông. Đến khi Minh Thái Tổ thống nhất đất nước Trung
Quốc, ông chuyển sang làm công việc dã sử, Tam quốc chí diễn nghĩa có lẽ
được viết vào lúc này. Theo sách của những người cùng thời ông, La Quán
Trung còn là người thiết tha với sự nghiệp phò vua giúp nước, mưu đồ
vương bá nhưng bất đắc chí. Những lý tưởng chính trị ấy được ông gửi gắm
trọn vẹn vào tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa thông qua tập đoàn Lưu –
Thục. Ngoài ra, ông từng làm mặc khách trong khởi nghĩa của Trương Sỹ
Thành – một trong những người lãnh đạo phong trào khởi binh chống lại
nhà Nguyên thời bấy giờ.
Là người có tài văn chương, giỏi “từ”, “khúc”, La Quán Trung có khả
năng sáng tác kịch nhưng thành tựu chủ yếu về mặt thể loại văn học của
ông chính là tiểu thuyết. Sáng tác của La Quán Trung phong phú đa dạng,
7
trước hết phải kể đến bộ tiểu thuyết trường thiên Tam quốc diễn nghĩa,
ngoài ra còn các sách Tùy Đường lưỡng triều chí truyện, Tấn Đường ngũ
đại sử diễn nghĩa, Bình yêu truyện và vở tạp kịch Tống Thái Tổ Long Hổ
Phong Vân hội…
trong cuốn sách này.
Tất cả những truyền thuyết dân gian, rất nhiều câu chuyện của
nhiều tác giả viết về những sự kiện và nhân vật thời Tam quốc đã trở thành
nguồn tư liệu bổ ích và quý giá cho việc sáng tạo của La Quán Trung. Bằng
những cảm nhận sâu sắc về lịch sử, con người, bằng tài năng sáng tạo bậc
thầy, La Quán Trung đã lựa chọn, sàng lọc, tổ chức lại những nguồn tư liệu
dân gian cực kì phong phú trên thành một tác phẩm nhất quán, nhân vật
8
có tính cách rõ nét, hơn bốn trăm nhân vật đối lập, bổ sung, soi sáng cho
nhau, làm nổi bật lẫn nhau… Sự ảnh hưởng của truyện kể dân gian khá rõ
nét trong Tam quốc ở đặc điểm khắc họa tính cách nhân vật. Trong truyện
dân gian, tính cách nhân vật được bộc lộ qua hành động và ngôn ngữ, tâm
lý, suy nghĩ của nhân vật hầu như không được bộc lộ. Chịu ảnh hưởng của
nguồn gốc dân gian, Tam quốc chủ yếu khắc họa tính cách nhân vật qua
miêu tả hành động và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, tâm lý của nhân
vật ít được miêu tả.
1.2.2. Khái quát về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tam
quốc diễn nghĩa
1.2.2.1. Khái quát về nội dung Tam quốc diễn nghĩa
Với gần trăm năm, không gian trải rộng trên đất nước Trung Hoa
rộng lớn, nội dung Tam quốc diễn nghĩa vô cùng phong phú và đa dạng.
Tác phẩm đã tái hiện được bức tranh xã hội Trung Quốc trong thời gian chín
mươi bảy năm từ đời Linh Đế (Lưu Hoằng) nhà Đông Hán đến đời Vũ Đế
(Tư Mã Viêm) lập nên nhà Tây Tấn. Đó là cuộc phân tranh giữa ba tập đoàn
phong kiến quân phiệt: Ngụy – do Tào Tháo cầm đầu, chiếm giữ phía Bắc từ
Trường Giang trở lên nên gọi là Bắc Ngụy; Thục – do Lưu Bị cầm đầu, chiếm
giữ phía Tây Nam nên gọi là Tây Thục; Ngô – do Tôn Quyền cầm đầu, chiếm
1.2.2.2. Khái quát về nghệ thuật Tam quốc diễn nghĩa
Tam quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết hiện thực xuất sắc được xếp vào
một trong tứ đại kì thư Trung Hoa. Tam quốc diễn nghĩa thể hiện tài năng
nghệ thuật của nhà văn thiên tài La Quán Trung. Kết cấu tác phẩm hùng vĩ
nhưng mạch lạc rõ ràng; kể chuyện trăm năm, ghi chép muôn việc nhưng
không rối. Tính mạch lạc thể hiện ở khuynh hướng yêu ghét rõ ràng: ủng
Lưu phản Tào, thể hiện ở quan niệm triết học về lịch sử: hợp lâu tất phân,
phân lâu tất hợp. Đọc Tam quốc người ta thấy có sáu dòng mạch chính
được đan cài vào nhau hết sức nhuần nhuyễn, như diện mạo thực của lịch
sử. Đó là sự kết thúc của triều đại Đông Hán, sự ra đời và kết thúc của
nước Ngụy, nước Thục và nước Ngô, và hai tuyến về nhân vật “Tam kết
nghĩa” Lưu, Quan, Trương từ hồi mở đầu đến khi Lưu Bị người cuối cùng
của ba anh em bị chết, một tuyến nữa là nhân vật Khổng Minh, từ khi
xuống núi phò tá Lưu Bị đến khi dâng sao ở gò Ngũ Trượng. Sáu dòng mạch
lớn này chẳng những đan xen vào nhau, còn kéo theo không biết bao
nhiêu dòng mạch nhỏ khác, nhưng tác giả vẫn không bị rối loạn mà thúc
đẩy đến cùng các mâu thuẫn, khiến cho nhân vật và sự kiện diễn biến lúc
dồn dập, lúc khoan thai làm cho người đọc bị cuốn hút từ sự kiện này đến
sự kiện khác bởi sự li kì, biến ảo. Kế thừa truyền thống truyện kể dân gian
và bị khuôn định bởi nội dung lịch sử của tác phẩm, La Quán Trung đã khéo
léo vận dụng, dàn dựng sự kiện phát triển theo mạch thời gian, một chiều,
một hướng, khiến người đọc dễ theo dõi sự kiện và dễ nhớ nhân vật.
Nghệ thuật miêu tả chiến tranh trong Tam quốc rất đặc sắc, tác
phẩm tái hiện hơn bốn trăm trận đánh lớn, nhỏ mà không trận nào giống
trận nào. Trận nào cũng được tác giả đề cập tới nguyên nhân, diễn biến và
kết thúc trận đấu. Những trận đánh lớn, tiêu biểu như: trận Xích Bích,
Quan Độ, Di Lăng, Hào Đình… Ở trận Xích Bích, tác giả miêu tả vừa có
thủy chiến, hỏa công, vừa có chiến tranh ngoại giao, gián điệp và chiến
tranh tâm lý. Đó không phải là chiến tranh giữa hai phe Tào Ngụy một phía
và Ngô – Thục liên minh một phía, mà còn là chiến tranh cân não giữa Ngô
diễn nghĩa, Tiền hậu Đường diễn nghĩa, Nam bắc Tống diễn nghĩa, Thanh
sử diễn nghĩa, Tam quốc ngoại truyện… Tuy nhiên không tác phẩm nào
trong số đó có thể sánh ngang tầm với Tam quốc cả về giá trị nội dung và
nghệ thuật. Tác phẩm vì thế được đông đảo mọi người tìm đọc và có giá trị
lâu bền. Sức hấp dẫn của tác phẩm đã vượt qua ranh giới của một nước, đi
vào đời sống văn hóa nhiều dân tộc, nhất là ở vùng Đông Nam Á, trong đó
có Việt Nam.
1.3. Một số vấn đề lý luận
1.3.1. Nhân vật văn học
Con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học. Dù là tác phẩm
tự sự, trữ tình hay kịch, dù gián tiếp hay trực tiếp thì văn học đều miêu tả
con người. Nhân vật văn học là “con người được miêu tả trong văn học
bằng các phương tiện văn học” [14, 277]. Có thể nói, con người tồn tại
trong cuộc sống đa dạng và phức tạp bao nhiêu thì nhân vật trong tác
phẩm văn học cũng đa dạng và phức tạp bấy nhiêu.
Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm
văn học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng: Thúy Kiều, Kim Trọng, Mị, A
Phủ, Chí Phèo, Lục Vân Tiên, anh Pha, chị Dậu… cũng có thể xuất hiện với
tên chung chỉ nghề nghiệp: người đưa tin, thằng bán tơ, phu xe, phu gạo,
thẳng mõ, con sen, bác nông dân, anh thợ cạo, chị hàng nước… xuất hiện
với tên chung chỉ giới (anh chỉ nam giới, chị chỉ nữ giới) hoặc xuất hiện với
tên gọi theo đơn vị, chức vụ xã hội: lính lệ, thầy thơ lại, chú bộ đội, anh
công an, ông quan huyện, viên quản ngục… Nhân vật văn học có thể là
11
những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả
quái vật lẫn thần linh ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa
của con người như: Dế Mèn, Dế Trũi trong Dế Mèn phiêu lưu kí (Tô Hoài);
dạng đến đâu, các phương thức, phương tiện thể hiện nhân vật đa dạng
đến đó.
Trước hết “nhân vật được miêu tả bằng chi tiết. Đó là những biểu
hiện mọi mặt của con người mà người ta có thể căn cứ để cảm biết về nó.
Hêghen xem chi tiết như những con mắt trổ những cửa sổ để người ta nhìn
vào nhân vật” [14, 291]. Chi tiết miêu tả đôi mắt của Maria (Chiến tranh
và hòa bình - L. Tônxtôi) đã thể hiện thế giới nội tâm của nàng. Chi tiết Chí
12
Phèo gặp Thị Nở là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển thay
đổi cuộc đời Chí (Chí Phèo - Nam Cao).
Nhân vật được miêu tả qua những nét cụ thể: chân dung, ngoại hình,
tả hành động và tâm trạng, thể hiện những quá trình nội tâm. Những chi
tiết quan trọng về ngoại hình giúp ta nhận biết về tính cách nhân vật. Ví
dụ: Thông qua ngoại hình của nhân vật Phượng Thư trong tiểu thuyết Hồng
lâu mộng của Tào Tuyết Cần ta nhận ra sự sắc sảo, thông minh, giỏi giang
nhưng cũng ẩn chứa đầy sự nham hiểm, độc ác của cô.
Ngoại hình nhân vật có thể được miêu tả trực tiếp hoặc gián tiếp
thông qua cảm nhận của nhân vật khác. Đó có thể là ngôn ngữ trực tiếp
của nhà văn khi miêu tả nhân vật như khi Nam Cao miêu tả Lang Rận:
“Anh chàng có cái mặt trông dơ dáng thật. Mặt gì mà nặng chình chĩnh
như mặt người phù, da như da con tằm bủng, lại lấm tấm những tàn
nhang. Cái trán ngắn ngủn, lại gồ lên. Đôi mắt thì híp lại như mắt lợn sề.
Môi rất nở cong lên, bịt gần kín hai cái lỗ mũi con con, khiến anh ta thở
khò khè” [8, 259]. Ngoại hình nhân vật khi miêu tả gián tiếp có thể thông
qua cảm nhận hoặc qua cái nhìn của nhân vật khác trong tác phẩm, như:
Nét hào hoa phong nhã của chàng Kim hiện lên qua sự cảm nhận của Thúy
Kiều từ buổi gặp gỡ đầu tiên trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du,
Độc thoại nội tâm là thủ pháp nghệ thuật độc đáo giúp nghệ sĩ họa
lại chính xác những sắc màu tinh tế của đời sống tâm hồn, tính cách nhân
vật bởi đây là ngôn ngữ nhân vật tự nói với mình một cách thầm kín, chân
thực. Thông qua lời độc thoại tính cách của nhân vật hiện lên chân thực và
khách quan, có tính độc lập tương đối. Ví dụ: Lão Hạc trong tác phẩm cùng
tên của Nam Cao qua dòng độc thoại nội tâm thể hiện tấm lòng nhân hậu,
thương con của lão.
Nhân vật còn được thể hiện qua mâu thuẫn, xung đột, sự kiện. Các
mâu thuẫn, xung đột bao giờ cũng tác động làm cho nhân vật bộc lộ phần
bản chất sâu kín của nó. Chẳng hạn nhân vật ông Hai trong truyện ngắn
Làng của Kim Lân được đặt vào tình huống gay gắt để bộc lộ những mâu
thuẫn nội tâm: Ông Hai yêu làng, tự hào về cái làng Chợ Dầu của mình. Khi
nghe tin làng theo giặc ban đầu ông sững sờ chưa tin nhưng khi người ta
kể rành rọt, không tin không được, ông xấu hổ lảng ra về. Nghe họ chì
chiết ông đau đớn cúi gằm mặt xuống mà đi. Khi cái tin kia được cải chính,
gánh nặng tâm lý tủi nhục được trút bỏ, ông Hai tột cùng vui sướng và
càng tự hào về làng Chợ Dầu.
Sự thể hiện nhân vật bao giờ cũng nhằm khái quát nội dung đời sống
xã hội và một quan điểm sâu sắc, một cảm hứng tình điệu tha thiết với
cuộc đời. Vì vậy, sự thể hiện nhân vật phải được xem xét trong sự phù hợp
với kiểu loại nhân vật. Phương thức, biện pháp thể hiện đối với nhân vật
chính, nhân vật phụ, nhân chính diện, nhân vật phản diện không giống
nhau.Yêu cầu thể hiện nhân vật mặt nạ (nhân vật chức năng), nhân vật loại
hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng mỗi lúc một khác. Và sự thể
hiện này luôn luôn gắn liền với phương thức sáng tác, truyền thống văn học
dân tộc, phong cách nhà văn và đặc trưng thể loại.
Tiểu kết
Nhân vật văn học là trung tâm, là linh hồn của tác phẩm. Thế giới
nhân vật càng phong phú, đa dạng càng thể hiện tài năng sáng tạo của
tác giả. Với số lượng hơn bốn trăm nhân vật, La Quán Trung đã để cho
trong số vài trăm nhân vật đó tác giả chỉ xoay quanh một vài nhân vật
chính. “Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều,
giữ vị trí then chốt của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện. Đó là con người
liên quan đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển
khai đề tài cơ bản của mình” [14, 283]. Trong Tam quốc diễn nghĩa các
nhân vật chính mà La Quán Trung xây dựng đó là: Lưu Bị, Quan Công,
Trương Phi, Tào Tháo, Khổng Minh, Tôn Quyền, Chu Du… Trong số đó Tào
Tháo và Lưu Bị là hai nhân vật chính mang nhiều nét độc đáo tạo nên sự
đặc sắc, nét mới trong việc xây dựng hình tượng nhân vật của tác giả. Sau
đây chúng tôi sẽ chỉ ra những điểm khác nhau cơ bản của nhân vật Tào
Tháo và Lưu Bị ở các phương diện: Nguồn gốc xuất thân, ngoại hình, tính
cách và tài năng.
2.1. Nguồn gốc xuất thân
“Tào Tháo tự xưng là Mạnh Đức. Cha Tào Tháo là Tào Tung, vốn xưa
họ Hán Hầu nhận làm con nuôi quan trung thường thị Tào Đằng, nên đổi
theo họ Tào” [27, I, 39]. Như vậy, Tào Tháo không phải là dòng dõi vương
giả nhà Hán. Nguồn gốc xuất thân có ảnh hưởng rất lớn đến tính cách của
con người: “Tào Tháo vốn dòng thế phiệt, cha là Tào Tung đã từng làm
quan to. Nếp sống của một gia đình có địa vị quan cách đã tạo cho ông
một bản tính bướng bỉnh, phóng đãng, bộc lộ, hoạt động sôi nổi” [21, 47].
Lưu Bị là con cháu của nhà Hán thuộc “dòng dõi Trung Sơn Tĩnh
Vương Lưu Thắng, cháu năm đời vua Cảnh Đế nhà Hán” [27, I, 32]. Tác giả
La Quán Trung giới thiệu kĩ càng về nguồn gốc xuất thân của nhân vật Lưu
Bị: “Ngày trước con cháu Lưu Thắng là Lưu Trinh, về đời vua Hán Vũ, được
phong làm Trác lộc Đình hầu, sau vì tội góp thiếu tiền cúng tế bị mất
chức vì vậy còn sót một ngành ở Trác quận. Ông của Huyền Đức là Lưu
Hùng, cha là Lưu Hoằng. Hoằng thi đỗ hiếu liêm, đã từng làm quan,
nhưng mất sớm. Huyền Đức mồ côi cha, thờ mẹ rất hiếu, nhà nghèo,
phải làm nghề đóng dép dệt chiếu kiếm ăn” [27, I, 32]. Nguyễn Tử
Quang trong Tam quốc bình giảng cũng đã bình luận về nguồn gốc xuất
được một vài đặc điểm tính cách của một người nào đó. Tào Tháo được miêu
tả với diện mạo cao lớn của một người anh hùng song qua chi tiết đó cũng
phần nào nói lên tính cách gian hùng, xảo trá, lắm mưu mô, quỷ quyệt
trong nhân vật này. Trong kho tàng ca dao Việt Nam đã có câu nói về nhân
cách con người qua đôi mắt:
Những người ti hí mắt lươn
Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người.
Là một người anh hùng, có tài điều binh khiển tướng vô cùng tuyệt
vời, Tào Tháo luôn là người cầm quân đi đầu, xông pha trong các chiến
trường. Lúc ra trận Tào Tháo có một dáng vẻ hiên ngang, bất khuất, dùng
hết khả năng, sức lực của mình để tiêu diệt quân địch: “Tháo cầm thanh
bảo kiếm thúc quân vào, đuổi giết suốt đêm. Giặc chết nhiều lắm, xin
hàng không biết bao nhiêu mà kể” [27, I, 264]. Hoặc như “Tháo cưỡi ngựa
trắng, yên vàng, đai ngọc, áo gấm. Võ sĩ hai bên cầm đôi tán vóc đại hồng.
Cờ mao vàng, lưỡi việt bạc, hèo, trượng, đòng, mâu; tinh kỳ, áo, ngựa
chiến theo năm màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen; mỗi đội dùng một màu
lấp lánh chói lòa, rất là hùng tráng” [27, II, 567].
17
La Quán Trung chủ yếu miêu tả ánh mắt, nét mặt, điệu bộ, cử chỉ của
nhân vật Tào Tháo. Ở Tào Tháo ánh mắt và nét mặt thường xuyên thay đổi
trong những hoàn cảnh cụ thể. Những lúc Tào Tháo giận dữ thường biểu hiện
qua ánh mắt và nét mặt: “Tháo trợn mắt lên nhìn vua, nét mặt hầm hầm bỏ
ra” [27, II, 492].
Khi miêu tả ngoại hình nhân vật trong Thủy hử, Thi Nại Am cũng đặc
biệt chú ý miêu tả đôi mắt của nhân vật. Đôi mắt của người anh hùng Lỗ
Trí Thâm khi gặp biến cố được tác giả miêu tả: “mắt trừng lên”, “đôi mắt
tròn xoe”, “đôi mắt ốc nhồi nảy lửa”, “đôi mắt chói ngời như muốn nảy
người nhà Phật, của bậc minh quân.
18
Ở nhân vật Lưu Bị chúng ta không tìm thấy được vẻ mặt Lưu Bị lúc
tức giận, lúc vui vẻ như nhân vật Tào Tháo vì “vị anh hùng ấy không thích
đọc sách mấy, tính ôn hòa ít nói, mừng giận không hề lộ ra mặt, vốn có chí
lớn, chỉ thích kết giao với những tay hào kiệt trong thiên hạ” [27, I, 32].
Đối lập với trang phục cao sang của Tào Tháo: “đai ngọc”, “áo gấm”
là trang phục giản dị, dân dã của Lưu Bị: “Huyền Đức mặc đồ trào phục”
[27, I, 385]. Trang phục và cách ăn vận của Lưu Bị đã phần nào thể hiện
Lưu Bị là một con người điềm đạm, giản dị, xuất thân hàn vi, sinh ra khi gia
đình đã sa sút, phải làm nghề đóng dép, dệt chiếu.
Trong Hồng Lâu Mộng – Tào Tuyết Cần cũng chú ý miêu tả ngoại hình
nhân vật cụ thể và chi tiết. Vương Hy Phượng và Tiết Bảo Thoa là hai cô
đại tiểu thư quý tộc xinh đẹp. Cùng mang vẻ đẹp quốc sắc thiên hương,
nhưng vẻ đẹp của Phượng Thư lại được làm nổi bật lên nhờ trang phục,
những cách phối hợp quần áo, đồ trang sức, cách trang điểm làm cho vẻ
đẹp vốn có của cô thêm rực rỡ. Chính vẻ đẹp bên ngoài, cách ăn vận của
cô cũng phần nào khẳng định vị thế và uy quyền, cũng như tính cách của
Phượng Thư. Không chỉ thích trau chuốt, trưng diện trước mặt người khác
mà khi ở nhà Phượng Thư cũng xuất hiện với vẻ đẹp hết sức lộng lẫy:
“Phượng Thư ở nhà thường đội mũ Chiêu Quân lông điêu sắc tía, chung
quanh có dây giắt hạt châu, mặc áo hoa màu hồng điều, khoác áo choàng
bằng da chuột, viền chỉ đỏ màu thạch thanh, mặc quần nền lụa đại hồng,
phấn son lộng lẫy” [3, I, 109]. Như vậy, dù trong hoàn cảnh nào, ở nhà hay
xuất hiện trước mặt mọi người Phượng Thư đều hiện lên với vẻ ngoài đẹp
đẽ, trang trọng và quý phái. Đối lập với vẻ đẹp cầu kì và lộng lẫy của
Phượng Thư, Bảo Thoa hiện lên với vẻ đẹp tự nhiên, mộc mạc và đơn giản.
2.3.1. Tính cách Tào Tháo
Tam quốc diễn nghĩa xây dựng Tào Tháo thành nhân vật có tính cách
phức tạp, mang bộ mặt hung ác của chủ nghĩa lợi kỉ cực đoan của giai cấp
thống trị, phản ánh trung thành cuộc đấu tranh chính trị hết sức phức tạp
của thời đại Tam quốc phân hùng.
2.3.1.1. Đa nghi, nham hiểm và tàn bạo
a. Đa nghi
Khi nói về Tào Tháo, đặc điểm tính cách nổi bật của nhân vật này đó
là tính đa nghi. Ngay từ nhỏ Tào Tháo đã nổi tiếng “cơ biến quyền mưu”.
Với biệt tài bẩm sinh này Tháo được người ta khoác cho tên hiệu “Tào A
Man”. Tính cách đa nghi cũng gắn liền và phát triển cùng hắn qua năm
tháng. Chính điều này mà Tào thừa tướng đã tự đề ra châm ngôn cho
mình: “Thà ta phụ người chứ không để người phụ ta” [27, I, 98]. Cái
phương châm sống này luôn là cách nhìn, cách nghĩ của hắn. Rõ ràng đây
là thứ triết lý nhân sinh biểu hiện tính cách ích kỉ, hại nhân của tập đoàn
phong kiến thống trị. Chân tướng của Tào Tháo thường được giấu đi khi
thực hiện âm mưu đầy tội ác của mình. Tháo thực hiện châm ngôn của
mình lại chính vào gia đình Lã Bá Sa - bạn kết nghĩa với cha hắn, từng cưu
mang hắn. Khi bị Đổng Trác truy đuổi Tào Tháo và Trần Cung chạy đến ở
nhờ nhà Lã Bá Sa. Tháo và Cung ngồi trong nhà, nghe ở sau nhà có tiếng
mài dao, Tháo bảo với Trần Cung rằng: “Lã Bá Sa đối với tôi không thân
thiết gì lắm. Chuyện này đáng nghi đấy!” [27, I, 97]. Tính đa nghi làm cho
hắn quên hết tình nghĩa xưa, trả ơn bằng oán. Tháo giết tám người nhà Lã
Bá Sa, lúc đi ra gặp Lã Bá Sa đi mua rượu về, Tháo giết nốt cả Lã Bá Sa,
khiến Trần Cung, người đi cùng Tào Tháo đã phải thốt lên: “Biết rằng mình
nhầm rồi lại còn có ý giết người nữa thực là đại bất nghĩa” [27, I, 98]. Câu
nói của người bạn cùng đường, cùng đồng cam cộng khổ tưởng y sẽ đáp lại
một câu để vừa lòng bạn nhưng thật bất ngờ Tháo thốt ra một câu: “Thà
ta phụ người chứ không để người phụ ta” [27, I, 98].
Sự đa nghi trong Tháo thể hiện ở mọi hoàn cảnh. Nhìn bất kể một