PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đất đai là một tài nguyên vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các
khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập,
bảo vệ được từng mét đất của tổ quốc. Ngày nay đất nước ta đang trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa, với
điều kiện xuất phát điểm thấp, sản xuất nông nghiệp lạc hậu, nhỏ lẻ, manh mún,
tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai. Vì vậy, đất nông nghiệp là tài sản quý giá
nhất, nguồn lực quyết định để người nông dân tồn tại và phát triển trong nền
kinh tế thị trường hiện nay. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có
những nỗ lực hỗ trợ nông dân tiếp cận quyền sử dụng đất đai, chính sách pháp
luật về đất đai có rất nhiều thay đổi. Từ năm 1987 đến nay, Luật Đất đai đã được
ban hành mới 3 lần (1987, 1993, 2003) và sửa đổi 2 lần (1998, 2001). Hàng trăm
văn bản dưới luật cũng được ban hành, sửa đổi. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn
không ít vấn đề chưa đủ rõ, thậm chí trùng chéo, mâu thuẫn. Trình độ, năng lực
cán bộ quản lý đất đai, nhất là ở cơ sở còn nhiều hạn chế trong khi đất đai đang
biến động rất nhanh, văn bản pháp luật về đất đai lại rất nhiều và phức tạp, nên
công tác quản lý đất đai trong cả nước còn nhiều bất cập. Nhiều vấn đề phát sinh
trong quản lý và sử dụng đất đai chưa được điều chỉnh và xử lý kịp thời. Quyền
sử dụng đất của nông dân và vấn đề bảo hộ nông dân giữ quyền sử dụng đất cả
với tư cách tư liệu sản xuất, lẫn tư cách tài sản đang tồn đọng nhiều bất cập. Vì
vậy đã nẩy sinh nhiều vấn đề kiện tụng kéo dài, trong đó khiếu kiện về đất đai
chiếm trên 70% tổng số vụ khiếu kiện. Nhiều vụ việc để lại hậu quả nghiêm
trọng, ví như vụ giải toả thu hồi đất ở Tiên Lãng- Hải Phòng vừa qua, nếu không
giải quyết dứt điểm, thấu tình đạt lý, sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin
của đông đảo nhân dân đối với Đảng và chính quyền nhà nước. Đây là cơ hội để
các thế lực thù địch xuyên tạc chống phá Đảng và chế độ ta. Để khai thác, phát
huy một cách hiệu quả cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước từ
nguồn tài nguyên quý giá này, đòi hỏi Đảng và nhà nước phải có một chính sách
1.1.2 Sự phát triển lý luận địa tô của A. Smith
- Thành tựu:
A. Smith cho rằng khi ruộng đất bị tư hữu thì địa tô là khoảng khấu trừ thứ
nhất vào sản phẩm lao động. Nó là tiền trả cho việc sử dụng đất.
2
Ông đã phát hiện ra độc quyền tư hữu ruộng đất là điều kiện để chiếm hữu
địa tô.
Ông còn cho rằng quy mô địa tô nhiều hay ít phụ thuộc vào giá cả sản phẩm,
địa tô là giá cả của độc quyền. Phân biệt được địa tô chênh lệch do độ màu mỡ và vị
trí của ruộng đất đưa lại.
Ông đã chỉ ra mức địa tô trên một mảnh ruộng là do thu nhập của mảnh
ruộng đó đưa lại, phát hiện ra địa tô trên những ruộng canh tác chủ yếu quyết
định địa tô trên ruộng trồng cây khác.
- Hạn chế:
Coi địa tô là phạm trù vĩnh viễn
Chưa hiểu đúng sự chuyển hóa của lợi nhuận thành địa tô.
Coi địa tô là một yếu tố cấu thành giá cả tự nhiên rồi lại coi nó là một khoản
dôi ra ngoài giá cả tự nhiên.
Chưa hiểu địa tô chênh lệch II và phủ nhận địa tô tuyệt đối
Còn bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa trọng nông khi cho rằng năng suất lao động nông
nghiệp cao hơn công nghiệp, do nông nghiệp được sự trợ giúp của tự nhiên.
1.1.3 D. Ricardo tiếp tục phát triển lý luận về địa tô của W. Petty và A.
Smith
Ông bác bỏ luận điểm cho rằng địa tô là sản vật của những lực lượng tự
nhiên hoặc do năng suất lao động đặc biệt trong nông nghiệp mang lại và đã giải
thích địa tô trên cơ sở lý luận giá trị lao động.
Theo ông, địa tô được hình thành theo quy luật giá trị. Giá trị nông sản
được hình thành trên điều kiện ruộng đất xấu nhất. Vì diện tích ruộng đất có hạn
mình thuê công nhân để khai thác ruộng đất của mình. Trong trường hợp này
địa chủ hưởng cả địa tô lẫn lợi nhuận.
Để làm rõ được bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa hơn, C.Mác đã so
sánh giữa địa tô tư bản chủ nghĩa với địa tô phong kiến .
1. 2.1. So sánh địa Tô tư bản chủ nghĩa với địa tô phong kiến
- Sự giống nhau:
Trước hết là quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế đồng
thời cả hai loại địa tô này đều là kết quả của sự bóc lột đối với những người lao
động .
- Sự khác nhau:
4
Hai loại địa tô này cũng khác nhau về mặt lượng và chất .
+ Về mặt lượng :
Địa tô phong kiến gồm toàn bộ sản phẩm thặng dư do nông dân tạo ra, có
khi còn lan sang cả sản phẩm cần thiết.
Còn địa tô tư bản chủ nghĩa chỉ là một phần giá trị thặng dư ngoài lợi
nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất.
+ Về mặt chất:
. Địa tô phong kiến phản ánh mối quan hệ giữa hai giai cấp :
Địa chủ với Nông dân
Trong đó giai cấp địa chủ trực tiếp bóc lột nông dân.
. Còn địa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ giữa 3 giai cấp
Giai cấp địa chủ - Giai cấp tư bản kinh doanh ruộng đất - Công nhân
nông nghiệp làm thuê
Trong đó địa chủ gián tiếp bóc lột công nhân thông qua tư bản hoạt động.
Nhưng cuối cùng C.Mác cũng kết luận rằng: “ Dù hình thái đặc thù của
hay giá cả sản xuất háng hoá là do những điều kiện sản xuất trung bình quyết
định. Còn trong nông nhiệp, giá cả hay giá trị sản xuất của nông phẩm lại do
những điều kiện sản xuất xấu nhất quyết định. Đó là vì nếu chỉ canh tác những
ruộng đất tốt và trung bình, thì không đủ nông phẩm để thoả mãn nhu cầu của xã
hội nên phải canh tác cả những ruộng đất xấu, và do đó cũng phải bảo đảm cho
những nhà tư bản đầu tư trên những ruộng đất này có được lợi nhuận bình quân.
Như vậy giá cả sản xuất của nông phẩm trên những ruộng đất có điều kiện
sản xuất xấu là giá cả sản xuất chung của xã hội nên nhà tư bản kinh doanh trên
những ruộng đất trung mình cũng thu được lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận
bình quân. Thực chất thì địa tô chênh lệch cũng chính là lợi nhuận siêu ngạch,
hay giá trị thặng dư siêu ngạch .
Vậy địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, thu
được trên những điều kiện sản xuất thuận lợi hơn. Nó là số chênh lệch giữa giá
cả chung của nông phẩm được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất
xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất trung bình và tốt. Nó sinh ra là
do có độc quyền kinh doanh ruộng đất nhưng bên cạnh đó lại có độc quyền
chiếm hữu ruộng đất, nên cuối cùng nó vẫn lọt vào tay chủ ruộng đất.
Cũng cần chú ý rằng không phải địa tô chênh lệch là sản phẩm do độ màu
mỡ ruộng đất sinh ra. Địa tô chênh lệch cũng như toàn bộ giá trị thặng dư trong
nông nghiệp là do lao động thặng dư do công nhân nông nghiệp tạo ra. Màu mỡ
6
ruộng đất chỉ là điều kiện tự nhiên hay cơ sở tự nhiên làm cho lao động của
nông dân có năng suất cao hơn, và là điều kiện không thể thiếu được để cho lợi
nhuận siêu ngạch hình thành, cũng như địa tô nói chung, không phải là do ruộng
đất mà ra, nó là do lao động đã bỏ vào ruộng đất và do giá cả của sản phẩm lao
động của nông phẩm ,chứ không phải do bản thân ruộng đất.
C.Mác nói : ‘Lực lượng tự nhiên ấy không phải là nguồn gốc sinh ra lợi
ngạch trên. Nhưng khi hết hạn hợp đồng thì chủ ruộng đất sẽ tìm cách nâng mức
địa tô lên để giành lấy lợi nhuận siêu ngạch đó, biến nó thành địa tô chênh lệch I
.
Vì lẽ đó, chủ ruộng đất chỉ muốn cho thuê ruộng đất ngắn hạn còn nhà tư
bản lại muốn thuê dài hạn.
Cũng vì lẽ đó nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp không muốn bỏ ra
số vốn lớn hơn để cải tiến kĩ thuật, cải tạo đất đai, vì làm như vậy phải mất nhiều
thời gian mới thu hồi được vốn về. Và rốt cuộc chủ đất sẽ là kẻ hưởng hết lợi ích
của những cải tiến đó. Vì vậy nhà tư bản thuê ruộng đất chỉ nghĩ làm sao tận
dụng hết màu mỡ của đất đai trong thời gian thuê ruộng đất. Mục đích thâm
canh của họ là nhằm thu được thật nhiều lợi nhuận trong thời gian kí kết hợp
đồng, nên họ ra sức bòn rút hết màu mỡ đất đai. Mác nói: “ Mỗi bước tiến của
công nghiệp tư bản chủ nghĩa là một bước tiến không những trong nghệ thuật
bóc lột người lao động, mà còn là bước tiến trong nghệ thuật làm cho đất đai
ngày càng kiệt quệ; mỗi bước tiến trong nghệ thuật làm tăng màu mỡ cho đất đai
trong một thời gian là một bước tiến trong việc tàn phá những nguồn màu mỡ
lâu dài của đất đai.” Một ví dụ điển hình là ở Mỹ trước đây ,chế độ canh tác bất
hợp lí đã làm cho 16 triệu ha ruộng đất vốn màu mỡ đã trở thành bạc màu hoàn
toàn.
1.2.2.2 Địa tô tuyệt đối.
Ngoài địa tô chênh lệch địa chủ còn thu được địa tô tuyệt đối trong khi cho
thuê ruộng đất.
Phần trên, khi nghiên cứu địa tô chênh lệch chúng ta đã giả định là người
thuê đất xấu chỉ thu về chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận bình quân, và không
tính đến việc phải nộp địa tô. Thực ra không phải như vậy, người thuê ruộng đất
dù là đất tốt hay xấu đều phải nộp địa tô cho chủ đất. Địa tô mà các nhà tư bản
thuê ruộng đất nhất thiết phải nộp dù ruộng đất tốt, xấu như thế nào, đớ là địa tô
tuyệt đối. Vậy các nhà tư bản kinh doanh trên ruộng đất lấy đâu mà nộp?
Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, nông nghiệp lạc hậu hơn công nghiệp, cả về
kinh tế lẫn kĩ thuật. Cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp vì vậy thấp
không bị đem chia đi và làm cho lợi nhuận siêu ngạch đó phải chuyển hoá thành
địa tô.
Về địa tô tuyệt đối, Mác nói: “...bản chất của địa tô tuyệt đối là :Những tư
bản ngang nhau của chúng sinh sản những khối lượng giá trị thặng dư khác
nhau.”
Để minh hoạ cho những điều nói trên chúng ta có thể lấy ví dụ sau đây:
Do độc quyền về ruộng đất là nguyên nhân sinh ra địa tô tuyệt đối, cho nên
nếu không có chế độ tư hữu về ruộng đất, không có giai cấp địa chủ, thì địa tô
tuyệt đối sẽ bị xoá bỏ, giá cả nông phẩm sẽ giảm xuống có lợi cho xã hội .
9
Tóm lại, nêú điều kiện sản xuất có lợi (điều kiện tự nhiên hoặc điều kiện
kinh tế do thâm canh đưa lại ) là điều kiện hình thành địa tô chênh lệch và độc
quyền kinh doanh ruộng đất là nguyên nhân trực tiếp để tạo ra địa tô chênh lệch
ấy, thì điều kiện để hình thành địa tô tuyệt đối là cấu tạo hữu cơ của tư bản trong
nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, và nguyên nhân trực tiếp đẻ ra địa tô
tuyệt đối là độc quyền tư hữu về ruộng đất .
Song dù là địa tô chênh lệch hay địa tô tuyệt đối, nguồn gốc và bản chất của
địa tô cũng chỉ là một bộ phận của giá trị thặng dư, do lao động không công của
công nhân làm thuê trong nông nghiệp tạo ra. Nói cách khác, địa tô chỉ là một
hình thái đặc thù của giá trị thặng dư mà thôi .
Địa tô cùng với lợi nhuận của nhà tư bản nông nghiệp chính là cái xác định
tính qui định về mặt xã hội của tư bản kinh doanh trong nông nghiệp, nói lên tư
bản nông nghiệp là mối quan hệ bóc lột, gắn liền với một quan hệ bóc lột khác
của địa chủ do quyền tư hữu về ruộng đất sinh ra .
1.2.3.Các loại địa tô khác:
Ngoài những loại địa tô trên còn có các loại địa tô khác như địa tô về
cây đặc sản, địa tô về hầm mỏ, địa tô về các bãi cá, địa tô về đất rừng, thiên
địa chủ_ người sở hữu những đất đai đó.
Các địa tô như địa tô về đất xây dựng, địa tô địa tô về hầm mỏ, địa
tô về các bãi cá, địa tô về đất rừng thiên nhiên ... tuy là địa tô thu được
trên những đám đất phi nông nghiệp nhưng đều dựa trên cơ sở của địa tô
nông nghiệp theo đúng nghĩa của từ này. Chúng bao gồm cả hai loại địa
tô: địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch. Mác nói : ‘ Bất kì ở đâu có
những sức tự cho nhà công nghiệp lợi dụng những sức tự nhiên ấy, chẳng
kể đó là thác nước, là hầm mỏ giàu khoáng sản, là những nơi nhiều cá
hay là đất để xây dựng có vị trí tốt, thì số lợi nhuận siêu ngạch đó của nhà
tư bản hoạt động cũng đều bị kẻ có cái giấy chứng nhận về quyền sở hữu
những của cải tự nhiên ấy chiếm đoạt dưới hình thái địa tô".
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA SỰ VẬN DỤNG CHÍNH
SÁCH ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Thông qua những lí luận về địa tô đã nghiên cứu ở trên, ta thấy địa tô tư
bản chủ nghĩa là sự bóc lột của chủ ruộng đất đối với công nhân nông
nghiệp làm thuê. Nó tồn tại ở nhiều hình thức : Địa tô chênh lệch, địa tô
11
tuyệt đối, địa tô cây đặc sản, địa tô về đất xây dựng, địa tô về hầm mỏ,
địa tô về bãi cá....
Ngày nay, khi đất nước ta đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, những lí luận địa tô đó được Đảng và nhà nước ta vận dụng một
cách sáng tạo trong thực tiễn để xây dựng đất nước giàu mạnh. Lí luận
địa tô của C.Mác đã trở thành cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách
thuế đối với nông nghiệp và các ngành có liên quan nhằm kích thích phát
triển nông nghiệp và các ngành trong nền kinh tế .
Ở Việt Nam đã hình thành hai thị trường đất đai: thị trường cấp I là
thị trường giao dịch giữa Nhà nước và người sử dụng đất (với nhiều chế
độ khác nhau, như giao đất có thu tiền, không thu tiền; giao đất có thời
hạn khác nhau; cho thuê đất...); thị trường cấp II là thị trường giao dịch
giữa những người sử dụng đất nông nghiệp với nhau. Thị trường cấp I
được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ về đối tượng được giao đất, giá giao
đất, thời hạn giao đất và mục đích sử dụng đất. Thị trường cấp II là thị
trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo mục đích đã được Nhà
nước quy định, hoạt động tự phát, Nhà nước chỉ đứng ra cung cấp các
dịch vụ pháp lý cần thiết cho giao dịch và thu thuế. Trong thực tế, thị
trường cấp II chưa được tổ chức quy củ và chưa có dịch vụ thích ứng nên
hạn chế khả năng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của
nông dân.
- Nhà nước vừa đóng vai trò cơ quan quản lý hành chính công đối với
đất đai, vừa đóng vai trò chủ sở hữu đất, có quyền quyết định thu hồi
quyền sử dụng đất của nông dân, chuyển mục đích sử dụng đất nông
nghiệp và giao đất nông nghiệp đã được chuyển mục đích sử dụng cho tổ
chức và cá nhân không phải là nông dân, quy định giá thu hồi đất nông
nghiệp.
13
- Người nông dân ở vào vị thế yếu trong giao dịch đất nông nghiệp,
thể hiện qua các khía cạnh:
Thứ nhất, người nông dân chỉ được sử dụng đất nông nghiệp vào mục
đích sản xuất nông nghiệp. Do mức sinh lợi của ngành nông nghiệp thấp
nên giá trị chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp thành tiền không lớn,
không khuyến khích người nông dân chuyển quyền sử dụng này cho
người khác.
thực tế rất khó khăn.
Thứ nhất, do thị trường đất nông nghiệp hoạt động rất èo uột và chưa
được tổ chức nên hầu như không thể thu thập được thông tin tin cậy về
giá. Do không có thông tin giá thị trường thuyết phục nên các tổ chức
định giá đất thường lấy giá quy định từ đầu năm của chính quyền cấp
tỉnh. Đến lượt mình, giá đất này cũng được xác định một cách chủ quan
nên chưa được người dân tin cậy. Trên thực tế, nhiều địa phương phải
thỏa thuận với nông dân, nhưng người nông dân cũng không có thông tin,
họ thường so bì với những người chây ì, nhận tiền sau (những người này
thường nhận được giá cao hơn) hoặc so với giá đất đô thị chuyển nhượng
tại các dự án khác ở địa phương để đòi giá cao. Cách làm này dẫn đến hai
hệ lụy: một là, vô hình trung khuyến khích nông dân chây ì; hai là, người
nông dân luôn ở trạng thái bất bình do nhận thức mình bị thiệt thòi.
Thứ hai, do Nhà nước không ngăn chặn được đầu cơ trên thị trường
đất đô thị, nên giá đất đô thị tăng lên quá cao khiến thông tin về giá này
cũng không đáng tin cậy.
Để khắc phục khó khăn, nhiều địa phương đã tiến hành các biện pháp nửa
vời, dự án thuận lợi thì đền bù theo giá nhà nước, dự án khó khăn thì để
nhà đầu tư phụ thêm tiền đền bù theo giá thỏa thuận với nông dân. Thậm
chí, để giải phóng mặt bằng nhanh, nhiều nhà đầu tư chấp nhận trả thêm
15
tiền cho các hộ chây ì. Cách làm như vậy đã gây tác động không tốt cho
các hộ đã di dời.
2.1.1.3. Chính sách khuyến khích tích tụ và tập trung đất
Khi tiến hành giao đất lần đầu cho hộ nông dân vào những năm đầu
thập niên 90, thế kỷ XX, để giảm xung đột, Nhà nước đã giao đất cho hộ
theo chế độ bình quân cả về diện tích lẫn hạng đất. Hệ quả là đất nông
nghiệp được giao cho hộ gia đình nông dân rất manh mún.
thị tập trung(2). Chính vì thế, chính sách thu hồi, đền bù đất nông nghiệp
tác động lớn đến nông dân.
Luật Đất đai của Việt Nam quy định: Nhà nước có quyền thu hồi
quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất ở của nông dân để sử dụng cho các
mục đích công cộng hoặc phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Khi thu hồi đất nông nghiệp, đất ở của nông dân, Nhà nước phải đền bù
cho nông dân đất mới theo diện tích và hạng đất tương đương. Nếu
không có đất đền bù hoặc đất đền bù ít hơn đất bị thu hồi, Nhà nước đền
tiền cho nông dân theo giá đất do Nhà nước quy định tại từng thời điểm.
Với quyền hạn như vậy, chính quyền một số địa phương đã thu hồi đất
nông nghiệp một cách thiếu thận trọng và ở quy mô lớn, khiến diện tích
đất của nông dân nhiều vùng giảm nhanh.
2.1.1.5.Chính sách thuế đất nông nghiệp
Nhà nước thu từ nông dân sử dụng đất nông nghiệp các khoản: tiền
thuê đất, thuế sử dụng đất và một số lệ phí quản lý đất đai. Nhìn chung,
tổng thuế sử dụng đất nông nghiệp không lớn. Từ năm 2003 đến năm
2010, Chính phủ đã quyết định miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong
hạn điền cho tất cả hộ nông dân và miễn hoàn toàn thuế sử dụng đất cho
hộ nông dân nghèo, giảm 50% cho diện tích vượt hạn điền.
17
Tiền thuê đất chỉ áp dụng đối với diện tích đất vượt hạn điền hoặc đất đấu
thầu. Các khoản lệ phí về đất không lớn, thường là phí cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, phí trích lục bản đồ, phí đăng ký đất...
Xét tổng thể, chính sách thuế đất nông nghiệp của Việt Nam được giảm
nhẹ ở nhiều khâu, kể cả việc Nhà nước không thu thuế chuyển nhượng
đất nông nghiệp giữa những người nông dân với nhau nhằm khuyến
khích tập trung đất và chưa thu thuế giá trị gia tăng từ đất.
để vay vốn ngân hàng.
- Chính sách đất nông nghiệp đã bước đầu khuyến khích nông dân
tích tụ, tập trung đất để kinh doanh hiệu quả hơn.
Về mặt pháp lý, có quyền sử dụng đất nông nghiệp hợp pháp, được Nhà
nước bảo hộ, nên nông dân có thể chuyển đổi, chuyển nhượng đất cho
nhau hoặc thuê mướn để có diện tích đất nông nghiệp liền khoảnh, quy
mô lớn thích hợp với cơ giới hóa, từ đó thuận lợi cho việc áp dụng các
biện pháp bảo vệ thực vật và thâm canh. Những người không có khả năng
làm nông nghiệp hiệu quả cũng có thể nhượng quyền sử dụng đất nông
nghiệp cho người khác để có tiền chuyển sang làm các nghề phi nông
nghiệp. Nhờ đó, quá trình chuyên môn hóa ngành nghề và “sàng lọc” để
tìm ra người làm nông nghiệp giỏi được thúc đẩy nhanh hơn.
- Chính sách đất nông nghiệp kích hoạt thị trường bất động sản ở
nông thôn, tạo điều kiện phân bổ đất nông nghiệp hiệu quả, hình thành
nhiều ngành nghề mới ở nông thôn.
Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp ở nông thôn được kích hoạt
đã tạo điều kiện cho giao dịch quyền sử dụng đất thuận lợi hơn, chi phí
giao dịch giảm. Do có thể chuyển nhượng dễ dàng quyền sử dụng đất
19
nông nghiệp nên đất đai cũng được sử dụng hiệu quả hơn theo tín hiệu
của thị trường, nhờ đó thúc đẩy quá trình phân bổ lại đất đai giữa trồng
trọt, thủy sản và chăn nuôi, đồng thời góp phần khôi phục và phát triển
nhiều làng nghề truyền thống.
2.1.2.2.Tác động không mong muốn của chính sách đất nông nghiệp:
- Nông dân chưa được lợi nhiều từ quyền sử dụng đất nông nghiệp.
Do nông dân không được tự ý chuyển đất nông nghiệp sang các loại đất
khác, đồng thời do đất nông nghiệp sinh lợi thấp nên giá quyền sử dụng
đất nông nghiệp thấp hơn giá quyền sử dụng các loại đất khác rất nhiều.
- Tác động hỗ trợ nông dân tích tụ, tập trung đất chưa đạt yêu cầu.
Chính sách giao đất bình quân khiến đất nông nghiệp trở nên manh mún.
Ngoài ra, do số lao động rút khỏi ngành nông nghiệp không đủ lớn để
làm giảm số lượng lao động nông nghiệp trên diện tích đất đai đi đôi với
việc chuyển diện tích lớn đất nông nghiệp sang sử dụng với mục đích
khác dẫn đến quy mô đất nông nghiệp bình quân đầu người tiếp tục giảm.
Hiện nay, chỉ còn ít cơ sở sản xuất nông nghiệp có quy mô từ 3 - 5 ha trở
lên, mà đa phần là các hộ gia đình có quy mô diện tích dưới 1 ha.
- Chính sách thu hồi đất và giá đất nông nghiệp khiến nông dân thiệt
thòi.
Thiệt thòi thứ nhất là Nhà nước không đủ quỹ đất nông nghiệp để đền bù
cho nông dân nên họ trở nên không còn phương tiện để sinh sống. Thiệt
thòi thứ hai là các vùng đất dành để đền bù cho nông dân thường không
thuận lợi bằng đất bị thu hồi, nên đời sống của họ trở nên khó khăn hơn.
Thiệt thòi thứ ba là nông dân không được quyền thỏa thuận khi đền bù.
Những chính sách như đào tạo nghề cho nông dân thuộc diện thu hồi đất,
21
khuyến khích người nhận quyền sử dụng đất thu hồi từ nông dân chia sẻ
lợi ích với nông dân, chính sách tái định cư... thường đem lại hiệu quả
thấp.
- Chưa tạo điều kiện khuyến khích nông dân thực hành nông nghiệp
hiện đại.
Hạn mức sử dụng đất nông nghiệp giao cho nông dân quá thấp khiến hầu
hết các hộ nông nghiệp đều canh tác bằng lao động thủ công của gia đình,
không có nhu cầu mua máy móc và hợp tác với nhau trong hoạt động sản
xuất nông nghiệp, trong giao dịch tư liệu sản xuất và tiêu thụ nông sản,
trong áp dụng đồng bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.
Chính vì vậy, năng suất và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp còn thấp.
Nên đền bù đất theo giá thỏa thuận, trong đó nông dân được coi là một
bên thỏa thuận quan trọng. Muốn vậy, phải khuyến khích các tổ chức của
nông dân vào cuộc thông qua các hoạt động nghiên cứu, định giá trên thị
trường quyền sử dụng đất nông nghiệp. Nhà nước cũng cần khuyến khích
các tổ chức cung cấp dịch vụ, nhất là dịch vụ định giá và cung cấp thông
tin cho thị trường này. Việc sửa đổi Luật Đất đai nên xác định cơ chế
pháp lý cho phép nông dân có vị thế bình đẳng, có lợi trong giao dịch đất
với các chủ thể kinh tế khác, nhất là quyền chấp thuận hay không chấp
thuận việc thu hồi đất nông nghiệp chuyển sang kinh doanh phi nông
nghiệp.
Các hình thức tham gia đầu tư dự án hoặc góp vốn mua cổ phần bằng
quyền sử dụng đất của nông dân phải được pháp luật bảo hộ đủ mức,
tránh đẩy nông dân vào vị thế bất lợi trong doanh nghiệp do không có
khả năng tham gia quản lý doanh nghiệp.
Về lâu dài, cần có chính sách bảo vệ quỹ đất nông nghiệp, hạn chế
chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng đô thị, nhà ở, công sở. Hạn chế
23
xây dựng các khu công nghiệp xen kẽ với các diện tích canh tác nông
nghiệp để giảm thiểu tác động ô nhiễm không mong muốn, cũng như
không được phá vỡ hệ thống thủy lợi đã xây dựng.
2.2.3. Cải cách thủ tục hành chính quản lý đất nhằm kích hoạt thị
trường đất nông nghiệp.
Công khai hóa và tinh giản thủ tục quản lý đất để quyền sử dụng đất nông
nghiệp trở thành hàng hóa và có thể lưu thông dễ dàng, nhất là ổn định và
công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước.
Nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển thị trường chuyển
nhượng, cho thuê đất nông nghiệp theo hướng công khai, minh bạch,
được Nhà nước bảo hộ.