BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
*********
HUỲNH CÔNG MINH
KINH TẾ NGẦM TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI FDI, CHẤT LƯỢNG THỂ
CHẾ VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM
TỪ CÁC NƯỚC CHÂU Á
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 9310105
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018
Công trình này được hoàn thành tại: Trường Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Nguyễn Hoàng Bảo
2. TS. Nguyễn Vũ Hồng Thái
Phản biện 1 :
...............................................................................
...............................................................................
Phản biện 2 :
...............................................................................
...............................................................................
Phản biện 3 :
...............................................................................
FDI, chất lượng thể chế và kinh tế ngầm
Sự thất bại trong việc giải thích các hiện tượng kinh tế bằng một lý thuyết đã dẫn đến xu hướng sử
dụng cách tiếp cận tích hợp để giải quyết vấn đề trong những thập kỷ gần đây (Torgler & Schneider,
2009). Mối quan hệ giữa FDI, chất lượng thể chế và kinh tế ngầm có thể được chia thành ba hướng
nghiên cứu. Hướng đầu tiên tập trung vào mối quan hệ giữa FDI và chất lượng thể chế, dựa vào các lý
thuyết về thương mại quốc tế (Dunning, 1980; Westney, 1993) và thể chế (North, 1990). Hầu hết các
nghiên cứu đều cho thấy vai trò của chất lượng thể chế trong việc thu hút dòng vốn FDI, nhưng tác
động phản hồi của FDI lên chất lượng thể chế lại ít được quan tâm nghiên cứu. Hướng thứ hai tập
trung vào chất lượng thể chế thấp như một nhân tố chính của nền kinh tế ngầm, dựa trên trường phái
Chủ nghĩa Pháp lý (Legalism) về nền kinh tế phi chính thức (Johnson và cộng sự, 1998; Hassan &
Schneider, 2016). Tuy nhiên, không có nghiên cứu nào về tác động phản hồi của nền kinh tế ngầm lên
chất lượng thể chế. Hướng thứ ba nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và kinh tế ngầm, đây vẫn còn là
2
một khoảng trống. Bằng cách xem xét chất lượng thể chế trong mối quan hệ hai chiều giữa FDI và kinh
tế ngầm là sự đóng góp của luận án vào học thuật bằng cách kết hợp ba lý thuyết bao gồm thương mại
quốc tế, thể chế hóa và chủ nghĩa pháp lý. Theo đó, FDI có thể làm giảm quy mô kinh tế ngầm thông
qua kênh cải thiện chất lượng thể chế do FDI mang lại; và quy mô kinh tế ngầm cao sẽ làm giảm chất
lượng thể chế và chất lượng thể chế thấp có thể ngăn cản dòng vốn FDI. Bên cạnh đó, dòng vốn FDI có
thể làm giảm quy mô kinh tế ngầm thông qua các kênh khác như tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng
khu vực kinh tế chính thức.
Kinh tế ngầm và bất bình đẳng thu nhập
Rosser et al. (2000, 2003) cho thấy rằng mức độ bất bình đẳng thu nhập và quy mô của nền kinh tế
phi chính thức có mối quan hệ cùng chiều. Bất bình đẳng tăng sẽ gây ra nhiều hoạt động không chính
thức hơn do sự đoàn kết và tin tưởng xã hội giảm; trong khi đó việc mở rộng các hoạt động phi chính
thức dẫn đến bất bình đẳng tăng do nguồn thu thuế giảm sẽ làm yếu các chính sách phân phối lại thu
nhập. Tuy nhiên trong luận án này, bằng cách kết hợp ba trường tư tưởng về kinh tế ngầm - bao gồm
Dualism, Legalism và Voluntarism, tác giả đề xuất một lập luận mới: kinh tế ngầm làm giảm bất bình
bước.
Tất cả các biến trong luận án được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm Medina &
Schneider (2018); World Development Indicators (WDI), World Bank (WB); Worldwide Governance
Indicators (WGIs), WB; The International Country Risk Guide (ICRG), Political Risk Services (PRS)
Group; UNESCO Institute for Statistics; Global Wage Report 2017, International Labor Organization
(ILO); Freedom in the World, Freedom House; Index of Economic Freedom, The Heritage Foundation;
Economic Freedom Report 2016, the Fraser Institute; Global Competitiveness Index (GCI), World
Economic Forum; KOF Globalization Index, KOF Swiss Economic Institute; International Monetary
Fund (IMF); Human Development Report, United Nations Conference on Trade and Development
(UNCTAD).
1.6 Đóng góp của luận án
Thứ nhất, luận án kết hợp ba học thuyết về thương mại quốc tế, thể chể hóa và kinh tế ngầm thông
qua cách tiếp cận tích hợp để nghiên cứu mối quan hệ ba chiều giữa FDI, chất lượng thể chế và kinh tế
ngầm lần đầu tiên ở các quốc gia châu Á, hình thành cơ chế các biến này tương tác để thúc đẩy tăng
trưởng.
Thứ hai, lần đầu tiên phương pháp tiếp cận bằng mô hình hệ phương trình đồng thời được sử dụng
để nghiên cứu mối quan hệ ba chiều giữa FDI, chất lượng thể chế và nền kinh tế ngầm. Cụ thể, cả hai
phương pháp 3SLS và SGMM hai bước được áp dụng để ước lượng các hiệu ứng nhân quả ba chiều,
4
bao gồm: i) tác động của chất lượng thể chế và kinh tế ngầm lên FDI; ii) tác động của FDI và kinh tế
ngầm lên chất lượng thể chế; và iii) tác động của FDI và chất lượng thể chế lên kinh tế ngầm.
Thứ ba, nghiên cứu phát hiện ra rằng nền kinh tế ngầm góp phần làm giảm bất bình đẳng thu nhập
thông qua 2 kênh chính, đó là: tăng tỷ lệ thu nhập của nhóm 20% dân số có thu nhập thấp nhất, và
giảm tỷ lệ thu nhập của nhóm 20% dân số có thu nhập cao nhất. Kết quả này trái ngược với các nghiên
cứu trước đây (Rosser và cộng sự, 2000, 2003), mở ra thêm tranh luận cho giới nghiên cứu, nhất là
củng cố quan điểm về tác động có lợi của nền kinh tế ngầm đặc biệt đối với người nghèo. Phát hiện
này có thể được giải thích bằng cách kết hợp ba trường phái tư tưởng về kinh tế ngầm bao gồm
2.1.1.2.1. Trường phái Nhị nguyên (Dualism) với Lý thuyết phần dư (Residue Theory): Mô hình hai
khu vực, Mô hình Harris-Todaro, và Lý thuyết thị trường lao động 2 khu vực.
2.1.1.2.2. Trường phái Cấu trúc (Structuralism) với Lý thuyết sản phẩm phụ (By-product theory).
2.1.1.2.3. Trường phái Pháp lý (Legalism) với Lý thuyết thay thế (Alternative theory).
2.1.1.2.4. Trường phái Tự nguyện (Volntarism) với Lý thuyết lựa chọn hợp lý của cá nhân (Theory of
individuals’ rational choice).
2.1.1.2.5. Trường phái Lý thuyết bổ sung và kinh tế ngầm (Complementary theory and shadow
economy).
2.1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về kinh tế ngầm
2.1.2.1. Phương pháp ước lượng quy mô kinh tế ngầm
Có 3 phương pháp đo lường chính. Thứ nhất, phương pháp trực tiếp bao gồm điều tra khảo sát và
kiểm toán thuế (Isachsen et al., 1985; Mogensen et al., 1995; Haigner et al., 2013). Thứ hai, phương
pháp gián tiếp bao gồm phương pháp cầu tiền (Tanzi, 1983, 1999; Alm & Embaye, 2013); chênh lệch
giữa thu nhập và chi tiêu quốc gia (Thomas, 1999); chênh lệch giữa lực lượng lao động chính thức và
thực tế (Contini, 1981)…Thứ ba, phương pháp mô hình xem xét toàn diện nhiều nguyên nhân và tác
động của nền kinh tế ngầm. Một trong những mô hình phổ biến nhất được sử dụng để ước tính nền
kinh tế ngầm là cách tiếp cận MIMIC ((Multiple Indicators Multiple Causes). Cách tiếp cận MIMIC
6
được nhiều học giả sử dụng để ước lượng quy mô kinh tế ngầm như Giles and Tedds (2002); Schneider
& Bajada (2003); Bajada & Schneider (2005), Buehn & Schneider (2012); Võ & Phạm (2014), Hassan
& Schneider (2016), Schneider & Buehn (2017), Medina & Schneider (2018)…
2.1.2.2. Nguyên nhân của nền kinh tế ngầm
Gánh nặng thuế và đóng góp an sinh xã hội: Mối quan hệ cùng chiều được kết luận bởi các nhà
nghiên cứu theo trường phái Voluntarism như Feige (1989), De Soto (1989), Tanzi (1982,
1999), Gile (1999), Schneider & Bajada (2003), Schneider ( 2007, 2010), Hassan & Schneider
có thể là âm theo các trường phái Nhị nguyên, Pháp lý và Tự nguyện (Williams, 2008; La
Porta và Shleifer, 2008, 2014), hoặc dương theo trường phái Lý thuyết bổ sung (Adam &
Ginsburgh, 1985; Jensen và cộng sự, 1995; Williams & Round, 2008; Elgin & Oztunali, 2014).
Độ mở thương mại và toàn cầu hóa: tác động dương đến kinh tế ngầm theo trường phái Pháp
lý (Johnson et al., 1998; Fugazza & Fiess, 2010).
Đô thị hóa: có thể tác động dương lên kinh tế ngầm (Safa, 1986); hoặc tác động theo hình chữ
U ngược (Elgin & Oyvat, 2013).
2.1.2.3. Tác động của nền kinh tế ngầm
7
Làm biến dạng tài khoản quốc gia, bóp méo phân bổ nguồn lực và giảm doanh thu thuế (Alm
& Embaye, 2013; trường phái Pháp lý và Tự nguyện với quan điểm kinh tế ngầm là sự thay thế
cho nền kinh tế chính thức).
Tạo ra cạnh tranh không lành mạnh (Farrell, 2004).
(Caves, 1971); Lý thuyết nội bộ hóa (Buckley và Casson, 1976); Lý thuyết chiết trung (Dunning,
1980). Theo hầu hết các lý thuyết trên, động cơ của FDI là tìm kiếm nguồn lực, quy mô thị trường, lực
lượng lao động, chi phí thấp hơn, ổn định chính trị và chất lượng thể chế.
Phần lớn các nghiên cứu về FDI tập trung vào các yếu tố quyết định FDI như quy mô thị
trường (Kravis và Lipsey, 1982; Liu, 2012; Hoàng, 2012); đầu tư trong nước (Anwar và Nguyễn, 2010;
Lautier và Moreaub, 2012); nguồn nhân lực (Schneider & Frey, 1985; Moore, 1993; Wang và Swain,
1995; Brainard, 1997; Wei, 2010); lao động có kỹ năng (Broadman, 1997; Coughlin, 2000); chi phí
8
nhân công (Schneider & Frey, 1985; Wheeler & Mody, 1992; Loree & Guisinger, 1995); cơ sở hạ tầng
(Wheeler và Mody, 1992; Loree và Guisinger, 1995; Asidu, 2002; Lumbila, 2005); độ mở thương mại
(Aizenman và Noy, 2006; Liargovas và Skandalis, 2012); sự ổn định kinh tế vĩ mô (Kamin và Rogers,
2000; Husain và cộng sự, 2005; Anwar và Nguyễn, 2010; Recep Kok, 2009); lãi suất thực (Grosse &
Trevino, 1996; Cavallari & d'Addona, 2013); tỷ giá hối đoái (Grosse và Trevino, 1996; Froot & Stein,
1991; Cavallari & d'Addona, 2013); tài nguyên thiên nhiên (Asiedu, 2006; Aleksynska & Havrylchyk,
2013); và chất lượng thể chế (Campos và Kinoshita, 2003; Kang, 2004).
2.2.1.2 Lý thuyết về chất lượng thể chế
North (1990, 1991 và 1994) là một trong những học giả đầu tiên nhấn mạnh tầm quan trọng
của thể chế. Ông định nghĩa các thể chế là thực thể bao gồm các quy tắc chính thức (ví dụ: hiến pháp,
luật và các quy định) và các ràng buộc không chính thức (các quy tắc về hành vi, quy ước và các quy
tắc ứng xử tự áp đặt). Một số nghiên cứu đã tìm ra các nhân tố quyết định chất lượng thể chế bao gồm:
độ mở thương mại (Ades & Tella, 1999; Treisman, 2000; Kandil, 2009; Fukumi & Nishijima, 2010);
dân chủ hóa, bất ổn chính trị (Lederman, Loayza, & Soares, 2005; Adsera, Boix, & Bayne, 2003); thu
nhập (La Porta, Lopea-de-Silanes, Shleifer, & Vishny, 1999); trình độ phát triển (Chong & Zanforlin,
2000; Alonso & Garcimartin, 2013); giáo dục (Glaeser, La Porta, Lopez-de-Silanes, & Shleifer, 2004;
Alonso & Garcimartin, 2013); bất bình đẳng phân phối thu nhập (Alesina & Perotti, 1996; Engerman
& Sokoloff, 1997; You & Sanjeev, 2005); tăng trưởng (Lipset, 1959; Barro, 1997); và tài nguyên thiên
nhiên (Sachs & Warner, 1997; Easterly & Levine, 2003; Alonso & Garcimartin, 2013).
lượng thể chế (Larrain và Tavares, 2004; Kwok và Tadesse, 2006; Dang, 2013; Long và cộng sự,
2015), và chất lượng thể chế tốt làm giảm quy mô kinh tế ngầm (Johnson et al, 1998; Friedman et al .,
2000; Fugazza & Jacques, 2003; Torgler và Schneider, 2009; Dreher và cộng sự, 2009; Dreher &
Schneider, 2010; Singh và cộng sự, 2012; Razmi và cộng sự, 2013, và Hassan & Schneider, 2016).
Thứ hai, FDI đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế chính thức (Romer, 1994; Choe, 2003; Li &
Liu, 2005) và tăng trưởng kinh tế chính thức làm giảm quy mô của nền kinh tế ngầm (Williams, 2008;
La Porta và Shleifer, 2008, 2014). Thứ ba, FDI tạo ra việc làm (Lall, 1995; Blomström et al, 1997) và
tăng lương (Heyman và cộng sự, 2007), mà thất nghiệp giảm và thu nhập tăng sẽ làm giảm quy mô
kinh tế ngầm (Boeri & Garibaldi, 2002; và Dell'Anno & Solomon, 2008).
Tác động của kinh tế ngầm lên FDI chỉ mới được đề cập trong hai nghiên cứu. Nikopour et al.
(2009) cho rằng quy mô kinh tế ngầm cao sẽ thu hút FDI nhiều hơn vì quy mô kinh tế ngầm cao đi
kèm với doanh thu thuế thấp và thâm hụt ngân sách cao hơn, và để bù đắp cho khoản thâm hụt này,
chính phủ sẽ có những chính sách ưu đãi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài nhằm thu hút FDI. Tương
tự, Ali & Bohara (2017) xác nhận rằng quy mô kinh tế ngầm cao sẽ thu hút FDI nhiều hơn do các
MNCs lợi dụng việc trốn thuế ở các nước chủ nhà có quy mô nền kinh tế ngầm cao. Tuy nhiên, trong
10
luận án này, tác giả lập luận rằng quy mô hinh tế ngầm cao sẽ làm giảm FDI, bởi vì chất lượng thể chế
thấp do quy mô kinh tế ngầm cao gây ra sẽ cản trở việc thu hút FDI.
Nghiên cứu vai trò của chất lượng thể chế trong mối quan hệ hai chiều giữa FDI và kinh tế ngầm là
một đóng góp của luận án này trong học thuật bằng cách kết hợp ba lý thuyết bao gồm thương mại
quốc tế, thể chế hóa và trường phái Legalism về kinh tế ngầm. Theo đó, FDI làm giảm quy mô kinh tế
ngầm thông qua kênh cải thiện chất lượng thể chế do FDI mang lại; và khi quy mô kinh tế ngầm giảm,
chất lượng thể chế sẽ được cải thiện và điều này lại giúp tăng thu hút FDI. Ngoài ra, sự tương tác của
FDI và chất lượng thể chế cũng giúp làm giảm quy mô kinh tế ngầm. Bên cạnh đó, dòng vốn FDI có
thể có tác động tiềm tàng đến nền kinh tế ngầm thông qua một số kênh khác như tạo việc làm và tăng
trưởng trong nền kinh tế chính thức. Vì thế, tác giả hình thành các giả thuyết sau:
Giả thuyết 3: Mối quan hệ hai chiều giữa FDI và quy mô kinh tế ngầm là nghịch biến.
11
P90/ P50 (10 % thu nhập cao nhất/ thu nhập trung bình), P50/ P10 (thu nhập trung bình/ 10% thu nhập
thấp nhất) và hệ số Gini. Hệ số Gini đo lường phần trăm diện tích của vùng nằm giữa đường cong
Lorenz và đường bình đẳng tuyệt đối, với diện tích của vùng nằm giữa đường bình đẳng tuyệt đối và
đường bất bình đẳng tuyệt đối (Ngân hàng Thế giới, 2017a).
2.3.1.4. Nhân tố ảnh hưởng
Các biến kinh tế vĩ mô: Tăng trưởng GDP (Kuznets, 1955), lạm phát (Mocan, 1999) và thất
nghiệp (Rice và Lozada, 1980; Blejer và Guerrero, 1990). Chính sách tài chính: quy mô của chính phủ,
chi tiêu chính phủ và trợ cấp… (Tanninen, 1999; Dupont & Martin, 2006). Chất lượng thể chế và các
yếu tố chính trị: tham nhũng, quản trị, dân chủ và tự do chính trị (Reuveny and Li, 2003; Chong và
Gradstein, 2007; và Carmignani, 2009). Các yếu tố kinh tế: toàn cầu hoá, cởi mở, và tự do kinh tế
(Wood, 1997; Spilimbergo và cộng sự, 1999; Barro, 2000; Alderson và Nielsen, 2002; Rosas, 2007; và
Chintrakarn và cộng sự, 2012). Giáo dục: số năm đi học, giáo dục trung học và đại học, và bất bình
đẳng về giáo dục (Winegarden, 1979; Knight and Sabot, 1983; Onene, 1995; Gregorio and Lee, 2002).
Các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên: phân bổ đất đai và phân phối tài sản ban đầu (Deininger và
Squire, 1998; Fum và Hodler, 2010; và Bergner, 2016).
2.3.2. Tác động của quy mô kinh tế ngầm lên bất bình đẳng thu nhập
Nghiên cứu về tác động của kinh tế ngầm lên bất bình đẳng thu nhập vẫn còn khan hiếm. Rosser
et al. (2000, 2003) cho rằng các hoạt động phi chính thức gia tăng dẫn đến sự bất bình đẳng nhiều hơn
do doanh thu thuế giảm và các chính sách phân phối lại suy yếu. Tuy nhiên, tác giả luận án đề xuất giả
thuyết về tác động âm của kinh tế ngầm lên bất bình đẳng thu nhập dựa trên hai cơ sở lý thuyết. Thứ
nhất, các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa Nhị nguyên mô tả nền kinh tế ngầm như một tập hợp các hoạt
động được thực hiện trong xã hội bên lề và tạo thu nhập cho người nghèo (Hart, 1973; Sethuraman,
1976; and Tokman, 1978). Thứ hai, các nhà kinh tế theo trường phái Legalism và Voluntarism cho
rằng sự gia tăng quy mô kinh tế ngầm tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh cho các doanh nghiệp và
nhân viên giữa hai khu vực chính thức và phi chính thức. Hơn nữa, theo chủ nghĩa Nhị nguyên, kinh tế
ngầm thu hút hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và người nghèo, chứ không phải là các doanh nghiệp lớn
và người giàu. Do đó, quy mô kinh tế ngầm tăng lên có thể làm giảm thu nhập của người giàu do sự
BẤT BÌNH
ĐẲNG THU
NHẬP
Hình 3.1. Khung phân tích mối quan hệ giữa FDI, chất lƣợng thể chế, kinh tế ngầm và bất bình
đẳng thu nhập. *(1), (2), (3), (4) và (5): các giả thuyết nghiên cứu tương ứng.
3.2. Mô hình và dữ liệu
3.2.1. FDI, chất lượng thể chế và kinh tế ngầm
Để nghiên cứu mối liên kết ba chiều giữa FDI, chất lượng thể chế và kinh tế ngầm ở các nước
châu Á, tác giả sử dụng mô hình hệ phương trình đồng thời dành cho dữ liệu bảng (Mô hình 1) như
sau:
FDIit = α0+ α1 INSTQUALITYit + α2 SHADOWit + αj Xi,t + εit (1)
INSTQUALITYit = β0 + β1FDIit + β2SHADOWit + βjYit + uit (2)
SHADOWit = γ0 + γ1FDIit + γ2INSTQUALITYit + γ3FDIit *INSTQUALITYit + γjZit +vit (3)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Dòng vốn FDI được tính bằng tỷ lệ phần trăm của GDP,
được thu thập từ World Development Indicators, World Bank (2017a).
Chất lượng thể chế (INSTQUALITY): được tính bằng chỉ số thể chế tổng hợp, được thu thập
từ Worldwide Governance Indicators, World Bank (2017b).
Nền kinh tế ngầm (SHADOW): Quy mô nền kinh tế ngầm được đo bằng tỷ lệ phần trăm của
GDP chính thức, được thu thập từ nghiên cứu của Medina & Schneider (2018).
13
hình 2):
INEQUALITYit = λ1 SHADOWit + δjVi,t + µi + εit (4)
Bất bình đẳng thu nhập (INEQUALITY) là biến phụ thuộc, được đo bằng ba chỉ số thay thế:
hệ số Gini (Gini), tỷ lệ thu nhập của nhóm 20% dân số có thu nhập thấp nhất (Lowest20), và tỷ
lệ thu nhập của nhóm 20% dân số có thu nhập cao nhất (Highest20).
Nền kinh tế ngầm (SHADOW) là biến độc lập, được tính bằng tỷ lệ phần trăm của nền kinh tế
chính thức.
V là một vectơ của các biến kiểm soát như việc làm, lạm phát, độ mở thương mại, chất lượng
thể chế, tự do kinh tế, giáo dục, tham nhũng và tài nguyên thiên nhiên.
3.2.3.
Dữ liệu
Tất cả các biến trong luận án được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm Medina &
Schneider (2018); World Development Indicators (WDI), World Bank (WB); Worldwide Governance
Indicators (WGIs), WB; The International Country Risk Guide (ICRG), Political Risk Services (PRS)
Group; UNESCO Institute for Statistics; Global Wage Report 2017, International Labor Organization
(ILO); Freedom in the World, Freedom House; Index of Economic Freedom, The Heritage Foundation;
14
sát của các quốc gia (µi), tác giả dùng các phương pháp FE và RE. Bên cạnh đó, phần dư (εit) có thể có
phương sai thay đổi và tương quan chuỗi; do đó, tác giả sử dụng likelihood ratio test và kiểm định
Wooldridge để kiểm tra phương sai thay đổi và tự tương quan (Wooldridge, 2002). Sau đó, tác giả thực
hiện kiểm định F và Hausman để chọn mô hình ước lượng thích hợp nhất cho từng biến đại diện cho
bất bình đẳng thu nhập. Cuối cùng, phương pháp 2-step SGMM được sử dụng để kiểm tra tính vững
của ước lượng và kiểm soát hiện tượng nội sinh, vốn có thể được gây ra bởi tác động phản hồi của bất
bình đẳng thu nhập lên kinh tế ngầm.
15
CHƢƠNG 4: FDI, CHẤT LƢỢNG THỂ CHẾ VÀ KINH TẾ NGẦM:
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ CÁC NƢỚC CHÂU Á
4.1. Giới thiệu
Chương này nhằm mục đích cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ các nước châu Á về mối liên
kết ba chiều giữa FDI, chất lượng thể chế và kinh tế ngầm thông qua một mô hình hệ phương trình
đồng thời (được thảo luận trong chương 3).
4.2. Phân tích dữ liệu
4.2.1. Kiểm tra nghiệm đơn vị
Kiểm tra nghiệm đơn vị do Phillips & Perron (1988) đề xuất được sử dụng để kiểm định tính dừng
của dữ liệu với giả thuyết H0 là biến không dừng (có nghiệm đơn vị). Kết quả cho thấy giả thuyết H0
được bác bỏ cho các biến FDI, SHADOW, INSTQUALITY, DI, GDPG, LABOR, LABORQUALIT,
FUEL, DEMOC, ECO_FREE, GOVT_BURDEN, TAX, GLOBAL, CORRUPT, U_RATE, RETIRE
và URBAN. Điều này ngụ ý rằng các biến trên đều dừng ở cấp độ I(0) – chưa lấy sai phân – và không
cần chuyển đổi để phân tích thống kê xa hơn. Trong khi đó, kiểm định Phillips-Perron (1988) không
thể bác bỏ giả thuyết H0 cho các biến còn lại (bao gồm WAGE, OPEN, TEL, EDU và GNIPERC),
nghĩa là các biến này không dừng cấp độ I(0). Vì thế, những biến này đã được lấy sai phân bậc nhất và
đảm bảo tính dừng ở cấp độ I(1).
4.2.2. Phân tích tương quan
Kết quả kiểm tra hệ số tương quan Pearson cho thấy hầu hết mối quan hệ giữa các cặp dữ liệu
SGMM
Dependent variable: FDI
FDI (-1)
INSTQUALITY
SHADOW
0.360***
0.131**
0.045
(32.89)
(2.10)
(0.49)
2.445***
0.991***
1.592***
4.826***
(-1.89)
0.092***
0.110***
0.023*
0.110***
(4.15)
(10.74)
(1.85)
(10.5)
0.068*
0.047***
0.022
0.041***
(1.75)
(4.28)
(3.84)
(2.87
(1.63)
-0.001***
-0.001
-0.0003
-0.0001
(-4.15)
(-1.43)
(0.61)
(-0.22)
0.004*
0.037***
0.014*
0.039***
GDPG
LABOR
LABORQUALITY
WAGE
FUEL
OPEN
TEL
Intercept
4.47***
-6.140***
-12.164***
17
(6.25)
(-4.68)
(-3.50)
R-square
0.575
0.831
Arellano-Bond test
0.020
0.018
0.049
0.647
0.377
0.913
0.756
0.673
0.692
for AR(1)-Pvalue
Arellano-Bond test
for AR(2)-Pvalue
(2.05)
(1.66)
0.087***
0.038***
0.095***
0.040***
0.096***
(4.37)
(3.69)
(4.96)
(3.98)
(4.64)
-0.031***
-0.016***
-0.028***
0.009***
0.007***
0.008***
0.006**
(12.44)
(4.19)
(11.64)
(2.41)
0.0001***
0.0002***
0.0001***
0.0001**
(8.95)
(3.49)
(7.93)
0.170**
-0.606***
-2.030***
-1.327***
-2.123***
(-2.80)
(-2.89)
(-4.04)
(-2.61)
18
Obs
304
Number of groups
19
323
0.250
0.418
0.394
0.475
0.632
0.738
for AR(1)-Pvalue
Arellano-Bond test
for AR(2)-Pvalue
Sargan test of
overid.
Wald test
(728.78)***
(1016.4)***
(1310.96)***
(1081.17)***
(2057.11)***
(1.52)
-0.748***
-1.248**
-0.56*
-0.432*
-1.163*
(-8.28)
(-2.12)
(-1.75)
(-1.74)
(-1.75)
-4.09***
-1.249*
-3.717***
-9.432***
(-1.78)
-3.174***
-2.457
- 2.642***
-2.007
(-4.74)
(-0.82)
0.239**
0.332*
0.157*
0.669**
(2.28)
(1.64)
(1.81)
(1.99)
(-3.02)
0.770***
0.808**
0.523***
0.021
(5.91)
(2.37)
(3.97)
(0.03)
0.940***
2.361*
0.345*
6.015***
(3.44)
(1.57)
0.855***
(3.07)
(2.73)
0.168***
0.317**
(3.48)
(1.96)
CORRUPT
ECO_FREE
Intercept
22.694***
44.177***
7.943*
22.735***
-23.626**
46
46
R-square
0.902
0.931
Arellano-Bond test
0.028
0.0128
0.0004
0.729
0.653
0.451
0.635
0.528
0.733
20
nhưng không có tự tương quan bậc hai (AR2). Kết quả từ các kiểm định Arellano-Bond cho thấy giả
thuyết H0 rằng không có tự tương quan bậc nhất (AR1) ở các phần dư bị bác bỏ, và giả thuyết H0 rằng
không có tự tương quan bậc 2 (AR2) giữa các phần dư không bị bác bỏ ở mức ý nghĩa 1% trong tất cả
các mô hình. Thứ ba, kiểm định Wald cũng bác bỏ giả thuyết H0 rằng tất cả các hệ số của các biến hồi
quy đều bằng zero. Tất cả kết quả các kiểm định sau ước lượng bằng hai phương pháp 3SLS và
SGMM hai bước được trình bày trong bảng 4.3.
Kết quả thực nghiệm từ bảng 4.3 cho thấy những phát hiện chính như sau:
Thứ nhất, tồn tại mối quan hệ hai chiều đồng biến giữa FDI và chất lượng thể chế trong tất cả
các mô hình với cả hai phương pháp ước lượng 3SLS và SGMM hai bước ở mức ý nghĩa 1%, khẳng
định giả thuyết đầu tiên rằng chất lượng thể chế tốt hơn ở nước sở tại giúp thu hút dòng vốn FDI tốt
hơn, và dòng vốn FDI vào nhiều sẽ cải thiện chất lượng thể chế ở các nước chủ nhà. Kết quả này phù
hợp với một số nghiên cứu trước đây như những nghiên cứu của Hyun (2006), Fukumi & Nishijima
(2010) và Shah, Ahmad, & Ahmed (2015). Phát hiện này bổ sung thêm cho học thuật bằng chứng thực
nghiệm về mối quan hệ hai chiều tích cực giữa FDI và chất lượng thể chế trong bối cảnh các nước châu
Á.
Thứ hai, luận án đã tìm ra mối quan hệ hai chiều nghịch biến giữa chất lượng thể chế và nền
kinh tế ngầm trong tất cả các mô hình theo cả hai phương pháp ước lượng 3SLS và SGMM hai bước ở
mức ý nghĩa 1%, khẳng định giả thuyết thứ hai của nghiên cứu. Kết quả về tác động âm của chất lượng
thể chế đối với nền kinh tế ngầm được hỗ trợ bởi trường phái Legalism (Johnson và cộng sự, 1998;
Friedman, Johnson, Kaufmann, & Zoido-Labton, 2000; Fugazza & Jacques, 2003; Dreher,
Kotsogiannis & McCorriston, 2009; Dreher & Schneider, 2010; Singh và cộng sự, 2012; Razmi và
cộng sự, 2013; và Hassan & Schneider, 2016). Tuy nhiên, tác động phản hồi của nền kinh tế ngầm lên
chất lượng thể chế vẫn là một khe hở nghiên cứu trong lý luận và học thuật. Và kết quả về tác động
ngược chiều của kinh tế ngầm lên thể chế được phát hiện trong luận án đã góp phần lấp đầy khe hở
nghiên cứu này. Theo đó, phát hiện mới này có thể được giải thích bằng cách kết hợp các nghiên cứu
riêng lẻ trước đây theo hai điểm chính: i) sự gia tăng của nền kinh tế ngầm làm giảm sự hiện diện của
các dịch vụ công vì không có nhiều người sử dụng dịch vụ công khi họ tham gia các hoạt động kinh tế
nền kinh tế chính thức và kinh tế ngầm mang tính chất thay thế (Johnson et al., 1997; Friedman et al.,
2000). Do đó, đóng góp tích cực của FDI vào tăng trưởng của nền kinh tế chính thức sẽ gián tiếp làm
giảm quy mô kinh tế ngầm. Bên cạnh đó, cơ hội việc làm được tạo ra từ FDI làm giảm tỷ lệ thất
nghiệp, và tỷ lệ thất nghiệp giảm sẽ làm giảm quy mô kinh tế ngầm.
Thứ năm, chuyển sang kết quả nghiên cứu cho từng phương trình trong mô hình SEM, các yếu
tố quyết định FDI, chất lượng thể chế và kinh tế ngầm đã được nhận diện trong bối cảnh các nước châu
Á.
i)
Các nhân tố như đầu tư trong nước, tăng trưởng GDP, lực lượng lao động, chất lượng lao
động và tài nguyên thiên nhiên có tác động tích cực đến việc thu hút dòng vốn FDI như
mong đợi ở mức ý nghĩa thống kê 1% -10%. Tiền lương có tác động tiêu cực đến dòng vốn
FDI. Dòng vốn FDI có liên quan tích cực với độ mở thương mại và cơ sở hạ tầng.
22
Chất lượng thể chế có mối quan hệ cùng chiều với giáo dục, độ mở thương mại, thu nhập
ii)
bình quân đầu người và tự do kinh tế ở mức ý nghĩa 1% -10%, như đã được khẳng định
trong các nghiên cứu trước. Tác động âm của dân chủ đối với chất lượng thể chế trong
luận án này cho thấy mức độ dân chủ cao hơn dẫn đến chất lượng thể chế tốt hơn vì chỉ số
dân chủ càng thấp trong thang đo thể hiện mức độ dân chủ càng cao.
iii)
Các yếu tố có tác động dương đến nền kinh tế ngầm bao gồm gánh nặng các quy định của
chính phủ, gánh nặng thuế, tự do kinh tế, tham nhũng, thất nghiệp và nghỉ hưu với mức ý
nghĩa 1% -10% như đã được đề cập trong các nghiên cứu trước.
6.224
26.330
62.680
214
Lowest20
Income share held by lowest quintile (%)
7.437
1.498
2.510
10.020
196
Highest20
Income share held by lowest quintile (%)
44.443
4.728
68.080
379
23
Inflation
Inflation, CPI (%)
13.603
87.998
-18.109
1877.372
470
Open
Trade openness (% GDP)
76.586
48.077
0
238
freedom
index
number)
Edu
Education index (estimated number)
0.525
0.134
0.198
0.805
256
Corrupt
Control of corruption (estimated number)
-0.582
0.527
với giả thuyết H0 là sự khác biệt giữa các hệ số hồi quy không mang tính hệ thống – hay tác động các
đặc điểm riêng phần của từng quốc gia không tương quan với các biến độc lập (Wooldridge, 2010).
Kết quả ước lượng thích hợp cuối cùng được trình bày trong bảng 5.2.
Bảng 5.2: Kết quả ƣớc lƣợng tác động của kinh tế ngầm lên bất bình đẳng thu nhập
Biến phụ thuộc
Phương pháp ước lượng
Biến độc lập
Shadow
Mô hình 2.1
Mô hình 2.2
Mô hình 2.3
Gini
FE
lowest20
FE
highest20
RE
-0.116***
0.020*
-0.079***