MỤC LỤC
Mở đầu..........................................................................................................
Nội dung........................................................................................................
I.
Khái niệm về kết hôn trái pháp luật..............................................
1. Khái niệm kết hôn...............................................................................
2. Khái niệm kết hôn trái pháp luật........................................................
3. Khái niệm hủy kết hôn trái pháp luật................................................
II.
Cách thức xử lí đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật..
1. Căn cứ để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật....................................
2. Người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật.........................
3. Nguyên tắc xử lí chung đối với các trường hợp kết hôn trái pháp
luật......................................................................................................
4. Hậu quả pháp lí của việc hủy kết hôn trái pháp luật.........................
III.
Thực trạng, kiến nghị về cách thức xử lí đối với các trường hợp
kết hôn trái pháp luật.....................................................................
1. Thực trạng xử lí đối với các trường hợp hủy kết hôn trái pháp luật..
2. Kiến
nghị.............................................................................................
Kết luận.........................................................................................................
Danh mục tài liệu tham khảo........................................................................
Trang
1
1
1
1
2
2
Khái niệm kết hôn
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy
định: “kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định
của pháp luật này về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”
Trên cơ sở quy định này, việc kết hôn phải đảm bảo các yếu tố sau:
-
Việc kết hôn phải thể hiện ý chí tự nguyện của nam, nữ muốn kết hôn, điều
kiện này đảm bảo cho nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình là
-
xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ.
Việc kết hôn phải tuân thủ những điều kiện, thủ tục theo quy định của pháp
luật. Điều kiện kết hôn và thủ tục đăng kí kết hôn là hai thủ tục không thể
thiếu vì thông qua đó, Nhà nước có thể quản lí một cách thống nhất quan hệ
2.
hôn nhân pháp sinh giữa vợ và chồng.
Khái niệm kết hôn trái pháp luật
Kết hôn trái pháp luật là một khái niệm pháp lí được quy định và điều chỉnh bởi
Luật Hôn nhân và gia đình.Tại khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình quy
định: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo
quy định tại Điều 8 của Luật này”. Từ quy định trên có thể khẳng định thứ nhất,
2
1.
Căn cứ để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật
3
Theo Điều 2 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP về
hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình, khi giải quyết
yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật phải căn cứ vào điều kiện tại Điều 8 Luật hôn
nhân và gia đình
-
Nam, nữ kết hôn khi chưa đạt độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật
Luật hôn nhân và gia đình quy định độ tuổi kết hôn của nam là 20 tuổi, nữ là 18
tuổi, quy định này thống nhất với quy định của BLDS 2015 tại Điều 20 BLDS. Nếu
quy định nữ từ 18 tuổi có thể kết hôn như Luật năm 2000 thì sẽ dẫn đến tình trạng
người phụ nữ được kết hôn nhưng chưa có năng lực dân sự, chưa trở thành chủ thể
của quan hệ của quan hệ dân sự. Do đó mà người phụ nữ không thể tự mình xác lập
các yêu cầu dân sự như li hôn mà phải thông qua đại diện. Cho nên khi chưa đạt độ
tuổi kết hôn thì được cho là hành vi kết hôn trái pháp luật và phải hủy kết hôn.
-
Việc kết hôn không đảm bảo sự tự nguyện
Nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 36
Hiến pháp, Điều 39 BLDS năm 2015 nhằm xóa bỏ chế độ hôn nhân theo ý chí của
cha mẹ như thời phong kiến. Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình cũng làm rõ hơn về
nguyên tắc tự nguyện này. Vi phạm sự tự nguyên trọng kết hôn có thể rơi vào các
Giữa những người có dòng máu trực hệ, những người có họ trong phạm vi
ba đời
Quy định cấm này góp phần giúp duy trì và bảo vệ nồi giống, giúp gia đình thực
hiện được chức năng sinh để, thúc đẩy sự phát triển xã hội. Bởi vì, y học đã chứng
minh kết hôn gần gũi về huyết thống trong phạm vi trực hệ hoặc ba đời sẽ để lại
nhiều di chứng cho thế hệ sau. Đây là hậu quả nguyên trọng cho nên cần phải hủy
trường hợp kết hôn trái pháp luật này.
-
Cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi, người đã từng là cha mẹ nuôi với con
nuôi; bố chồng với con dâu; mẹ chồng với con rể; bố dượng với con riêng
của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng kết hôn với nhau: Quy định này phù
hợp với thuần phong mỹ tục, đạo đức văn hóa, truyền thống của người Việt
5
Nam đối với đời sống hôn nhân và gia đình. Nên khi họ kết hôn cần phải hủy
-
kết hôn trái pháp luật này.
Hai người cùng giới tính kết hôn với nhau: Hiện nay pháp luật không thừa
nhận nhưng cũng không công nhân hôn nhân đồng giới, mà không công nhận
thì khi trường hợp này vẫn là kết hôn trái pháp luật nên vẫn phải hủy kết hôn
trái pháp luật để tránh những hệ lụy sau này.
Chỉ cần có một trong các dấu hiệu trên thì Tòa án đã có căn cứ xử lí hủy việc kết
hôn trái pháp luật. Sau khi nhận được đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
Tòa án phải kiểm tra, xác minh cụ thể để xử lí việc kết hôn trái pháp luật theo đúng
trường hợp kết hôn trái pháp luật, bảo vệ lợi ích cho cá nhân, gia đình và xã hội.
3.
Nguyên tắc xử lí chung đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật
Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nguyên tắc Tòa án có
quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật. Việc hủy kết hôn sẽ mang lại hậu quả bất lợi
cho người kết hôn, cho nên khi xử lí kết hôn trái pháp luật Tòa án cần nhắc thận
trọng. Khi xem xét giải quyết yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn
cứ vào yêu cầu của đương sự và điều kiện kết hôn tại Điều 8 và đường lối xử lí kết
hôn tại Điều 1 Luật hôn nhân và gia đình. Theo khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014 thì tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp
luật, nếu hai bên đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật và yêu cầu
công nhận hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân. Trường hợp này quan
hệ hôn nhân chỉ xác lập khi các bên có đủ điều kiện kết hôn. Từ đó có thể rút ra
được các trường hợp mà Tòa án ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật gồm:
-
Trường hợp tại thời điểm yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà một bên
-
hoặc cả hai bên vẫn vi phạm điều kiện kết hôn
Trường hợp tại thời điểm có yêu cầu cả hai bên đã đủ điều kiện kết hôn theo
quy định của pháp luật nhưng một hoặc cả hai bên không yêu cầu tòa án
công nhận quan hệ hôn nhân
Như vậy, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử lí việc kết
hôn trái pháp luật mặc dù thể hiện rõ tính chất chế tài để xử lí các trường hợp kết
hôn trái pháp luật. Nhưng cũng vẫn có điểm linh hoạt, phù hợp với thực tiễn, bởi vì
4.2.
Quan hệ tài sản
Theo quy định tại khoản 3 Điều 16 thì khi giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật,
quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa họ được giải quyết như trường hợp
nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng
được giải quyết theo thỏa thuân giữa các bên, trong trường hợp không thỏa thuận
được thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các luật khác liên quan.
8
Tòa án giải quyết dựa trên nguyên tắc sau: tài sản riêng của mỗi bên thuộc về người
đó nhưng người đó phải chứng minh được đó là tài sản riêng của mình, nếu không
chứng minh được thì tài sản đó được xác định là tài sản chung của hai người, Tài
sản chung được chia theo căn cứ vào công sức của mỗi bên. Như vậy, việc giải
quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng được quy định đã thể hiện rõ tính chất
chế tài trong việc xử lí kết hôn trái pháp luật. Do hai người kết hôn đã kết hôn trái
pháp luật nên họ buộc phải chấp nhận hậu quả bất lợi nhất định về tài sản.
Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ, con
4.3.
Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ
của cha mẹ đối với con. Sở dĩ quy định như vậy vì việc trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con cái là bổn phận của cha mẹ đối với con cái. Cho nên, quyền và
nghĩa vụ giữa cha mẹ và con được quy định không phụ thuộc vào tính hợp pháp
của quan hệ hôn nhân giữa cha mẹ. Dù quan hệ hôn nhân của cha mẹ không được
thừa nhận thì pháp luật vẫn quy định cho họ có quyền và nghĩa vụ như hôn nhân
hôn nhưng cũng không được pháp luật thừa nhận. Nên hai người cùng giới tính kết
hôn thì sẽ thuộc trường hợp kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên ở Điều 10 Luật hôn
nhân và gia đình chỉ mới quy định chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp
luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 8 mà chưa quy định ai là người có quyền
yêu cầu hủy kết hôn giữa hai người cùng giới tính. Do những vướng mặc đó mà khi
gặp phải trường hợp này mỗi Tòa án sẽ có cách giải quyết khác nhau.
Thứ hai, Tại điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình quy định cấm
kết hôn giữa những người có cùng dòng máu trực hệ; giữa những người có họ hàng
trong phạm vi ba đời, giữa cha mẹ với con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ nuôi
với con nuôi….Nếu họ kết hôn với nhau thì sẽ bị coi là kết hôn trái pháp luật. Tuy
nhiên để hủy được hôn nhân trái pháp luật này không hề dễ vì việc xác định mối
quan hệ của họ cũng khó để chứng minh, hơn nữa việc cho phép sinh con theo
phương pháp khoa học và việc mua bán tinh trùng và trứng diễn ra tràn lan mà cơ
quan chức năng vẫn chưa kiểm soát được.
10
Thứ ba, không bị mất năng lực hành vi dân sự là một trong những điều khiện
để xem xét tính hợp pháp của hôn nhân. Tuy nhiên, quy định này vẫn thiếu tính khả
thi trên thực tế. Trên thực tế lại không có cha mẹ nào muốn con mình bị Tòa tuyên
bố mất năng lực hành vi dân sự để ngăn chặn việc kết hôn của họ. Thậm chí, đối
với những người mà không phải lúc nào họ cùng biểu hiện ra bên ngoài tình trạng
năng lực hành vi dân sự của họ nên cán bộ tư pháp không thể xác minh được tình
trạng của họ và vẫn cho họ đăng kí kết hôn.
Thứ tư, quy định của pháp luật về giải quyết hậu quả pháp lí về quan hệ tài
sản khi bị hủy kết hôn trái pháp luật vẫn chưa rõ ràng, dẫn đến dễ hiểu nhầm. Khi
bị hủy kết hôn trái pháp luật, quan hệ tài sản sẽ giải quyết giống như trường hợp
nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn. Theo khoản
1 điều 16 Luật hôn nhân và gia đình trong trường hợp thỏa thuận của họ trái pháp
định này sẽ hạn chế được kết hôn cận huyết, cho nên theo ý kiến của em khi đăng
kí kết hôn cần phải xuất trình giấy tờ xác định ADN. Nhà nước nên dần dần công
nhận hôn nhân cùng giới tính để tránh tính trạng vừa không cấm cũng không công
nhận như hiện nay.
Thứ hai, cần tiếp tục nâng cao số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ Tòa án,
Viện kiểm sát, cũng như cá nhân tổ chức có liên quan.
Thứ ba, đẩy mạng tuyên truyền phổ biến pháp luật về Hôn nhân gia đình và hậu
quả của việc kết hôn trái pháp luật.
KẾT LUẬN
12
Trong tình hình xã hội Việt Nam hiện nay, dưới sự tác động của rất nhiều yếu
tố khác nhau đã hình thành nên những cách suy nghĩ, phong cách sống khác nhau,
dẫn đến không chấp hành đúng các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp
luật .Nhà nước đã đưa ra quy định hủy việc kết hôn trái pháp luật để hạn chế tình
trạng kết hôn trái pháp luật. Từ những vấn đề lí luận, xem xét vào thực định và thực
tiễn thì cũng có nhiều điểm mạnh nhưng vẫn có nhiều hạn chế cần từ từ khắc phục.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng đã đáp ứng được phần nào yêu cầu cuộc
sống đặt ra, nhưng những quy định về xử lí các trường hợp kết hôn trái trái pháp
luật vẫn còn một số điểm hạn chế nhất định cần được nhanh cho hoàn thiện cho
thấu tình đạt lí.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
13
8.
luận và thực tiễn, Hà Nội,2015.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2002, năm 2014.
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
14