Chính sách, pháp luật của Việt Nam đối với các trường hợp người hai hay nhiều quốc tịch và người không có quốc tịch - Pdf 28

Lời nói đầu
Ngày nay, khi con người đã trở thành trung tâm của mọi sự phấn đấu, mọi hoạt động
của Nhà nước thì các quyền và nghĩa vụ của công dân ngày càng được mở rộng cùng
với sự phát triển về mọi mặt của xã hội. Để xác định được quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân, trước hết phải xác định quốc tịch của họ. Chỉ trên cơ sở xác định được
quốc tịch của một cá nhân mới có thể được xác định được rõ ràng, đầy đủ các quyền và
nghĩa vụ công dân của họ. Giữa người là công dân với những người không phải là công
dân của nhà nước có sự khác nhau căn bản về quyền và nghĩa vụ. Đặc trưng của quốc
tịch là người có quốc tịch của một nhà nước thì được hưởng các quyền và phải thực
hiện các nghĩa vụ do pháp luật quy định đồng thời phải chịu sự chi phối và quản lý về
mọi mặt của nhà nước. Tuy nhiên, không phải bất kỳ ai sống trên lãnh thổ một quốc gia
cũng đều là công dân của nhà nước đó, họ có thể mang quốc tịch của nhiều quốc gia
cũng có khi họ không có quốc tịch. Bất kỳ một quốc gia nào cũng tồn tại tình trạng này,
ở Việt Nam cũng vậy. Vậy chính sách, pháp luật của Việt Nam và thực tiễn giải quyết
của Việt Nam đối với trường hợp người hai hay nhiều quốc tịch và người không quốc
tịch thể hiện như thế nào?
I. Khát quát:
1. Khái niệm quốc tịch:
Từ phương diện pháp lý hiện đại, quốc tịch là mối quan hệ pháp lý hai chiều, được
xác lập giữa cá nhân với một quốc gia nhất định, có nội dung là tổng thể các quyền và
nghĩa vụ của người đó và quốc gia mà họ là công dân.
2. Người hai hay nhiều quốc tịch:
Hai hay nhiều quốc tịch là tình trạng pháp lý của một người cùng một lúc là công
dân của hai hay nhiều quốc gia.
Trong pháp luật quốc tế, hiện tượng một người đồng thời mang quốc tịch của hai
hay nhiều quốc gia được gọi là người mang nhiều quốc tịch (Bipatride; pluripatride).
Đây là hiện tượng thường gặp trong thực tiễn đời sống quốc tế và tồn tại khách quan,
không phụ thuộc vào ý chí của bất ký nhà nước nào.
3. Người không có quốc tịch:
Người không quốc tịch là tình trạng pháp lý của một cá nhân không có quốc tịch của
một nước nào đó. Theo quan niệm quốc tế, tình trạng không quốc tịch có hai dạng

định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có
một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”.
Như vậy Luật Quốc tịch 2008 có quy định một số ngoại lệ công dân có thể có hai
quốc tịch đó là các trường hợp : được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài
khi được nhập quốc tịch Việt Nam (khoản 3 Điều 19), được trở lại quốc tịch Việt Nam
(khoản 5 Điều 23); trường hợp quốc tịch của trẻ em là con nuôi (Điều 37) và trường hợp
người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn có
nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 13). Điều 12 Luật Quốc tịch năm
2008 đã quy định cụ thể “vấn đề phát sinh từ tình trạng công dân Việt Nam đồng thời có
quốc tịch nước ngoài được giải quyết theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên, trường hợp chưa có điều ước quốc tế thì được giải quyết
theo tập quán và thông lệ quốc tế”. Tại khoản 2 Điều 760 BLDS năm 2005 cũng quy
định: “Trong trường hợp Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước
2
ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người nước ngoài có hai hay nhiều quốc
tịch nước ngoài là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm
phát sinh quan hệ dân sự; nếu người đó không cư trú tại một trong các nước mà người
đó có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có quan hệ
gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân”. Theo quy định trên có hai căn cứ áp dụng
pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự mà người có hai hay nhiều quốc tịch
tham gia là: áp dụng pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và cư trú vào thời
điểm phát sinh quan hệ dân sự; áp dụng pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch
và có mối quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân.
Căn cứ áp dụng pháp luật đối với người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước
ngoài còn được quy định trong Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại điểm b khoản 1
Điều 80 của nghị định này thì giấy tờ sử dụng trong việc đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ,
con, con nuôi đối với người có hai hay nhiều quốc tịch là “ Giấy tờ do cơ quan có thẩm

trạng quốc tịch. Việc không giải quyết được việc nhập quốc tịch Việt Nam cho họ
không chỉ gây khó khăn cho cuộc sống của họ mà còn làm phức tạp thêm trong công tác
quản lý. Để khắc phục điều đó, Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 quy định:
“Người không có quốc tịch mà không có giấy tờ đầy đủ về nhân thân nhưng đã cư trí ổn
định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày luật này có hiệu lực thi
hành, và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam và
hồ sơ do chính phủ quản lý.” Việc bổ sung quy định này nhằm cam kết thực thi hiệu quả
hơn các điều ước quốc tế như Công ước Viên 1969; Công ước về quyền Dân sự và
Chính trị năm 1966; đặc biệt là Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền tại Điều 15 đã quy
định: “Ai cũng có quyền có quốc tịch, không ai có quyền tước quốc tịch, hay tước
quyền quốc tịch một cách độc đoán”.
Ở Việt Nam trong những năm qua nhằm tạo điều kiện cho người không có quốc tịch
có thể xác lập quốc tịch Việt Nam hoặc nhập quốc tịch của một nước khác, góp phần
đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của người không có quốc tịch. Các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản nhằm giải quyết vấn đề người không quốc
tịch như: Bộ luật dân sự năm 2005; nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 quy
định chi tiết hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự; ngày 13/11/2008, Quốc tịch nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2009,
theo đó có một số điều quy định liên quan đến việc giải quyết việc nhập quốc tịch Việt
Nam của những người không có quốc tịch theo hướng đơn giản thủ tục, tạo điều kiện
thuận lợi cho người dân có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt với cộng đồng xã hội Việt
Nam, nhanh chóng ổn định cuộc sống, được hưởng đầy đủ quyền công dân và có điều
kiện để làm nghĩa vụ của họ đối với Tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra, ngày 04/12/2007,
Văn phòng Chính phủ có công văn số 1221/VPCP-NC thông báo ý kiến chỉ đạo của
Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đồng ý với đề nghị của Bộ ngoại giao về việc đẩy
nhanh giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam cho người Campuchia lánh nạn trước đây.
Và ngày 20/10/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị số 31/2008/CT-TTg về
việc giải quyết tình trạng di cư tự do, vượt biên trái phép và kết hôn không giá thú ở
khu vực biên giới với Lào…
Căn cứ áp dụng pháp luật đối với người không quốc tịch được quy định tại Khoản 1

hợp xin trở lại quốc tịch Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và đã nhập
quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn muốn nhập quốc tịch Việt Nam; trẻ em là con nuôi.
Luật quốc tịch cũng cho phép người có vợ chồng, cha mẹ đẻ, con đẻ là công dân VIệt
Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam. Chính sách trên cũng áp dụng đối với trường
hợp có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hay có
lợi cho nhà nước Việt Nam.
Trường hợp nếu không thuộc những diện trên thì công dân nước ngoài, người
không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam muốn trở thành công dân Việt Nam phải
có các điều kiện sau: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; biết Tiếng Việt để có thể hòa
nhập vào cộng đồng; thường trú từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch,
và có khả năng đảm bảo cuộc sống ở Việt Nam...
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status