TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
QUÁCH THỊ HÀ
RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
THÔNG QUA PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Hà Nội, 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
QUÁCH THỊ HÀ
RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
THÔNG QUA PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. KHUẤT THỊ LAN
Quách Thị Hà
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ......................................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................................. 3
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu......................................................................................... 4
7. Cấu trúc khóa luận .................................................................................................. 4
NỘI DUNG .................................................................................................................6
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .....................................................6
1.1. Cơ sở lí luận ......................................................................................................... 6
1.1.1. Kĩ năng nói và tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng nói .................................. 6
1.1.2. Kể chuyện và đặc điểm của môn Kể chuyện ở trƣờng Tiểu học ...................... 7
1.1.3. Những yêu cầu khi dạy rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh Tiểu học .............. 9
1.2. Đặc điểm học sinh lớp 4, 5 ................................................................................. 10
1.2.1. Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 4, 5 ................................................................... 10
1.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ học sinh lớp 4, 5. ............................................................ 10
1.2.3. Đặc điểm nhân thức của học sinh lớp 4, 5 ...................................................... 11
1.2.4. Các yếu tố ngoài ngôn ngữ ảnh hƣởng đến quá trình phát triển lời nói của học
sinh. ........................................................................................................................... 13
1.3. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................... 15
1.3.1. Khái quát nội dung chƣơng trình Kể chuyện lớp 4, 5 ..................................... 15
1.3.2. Hệ thống bài tập Kể chuyện trong sách giáo khoa Tiếng việt lớp 4, 5 ........... 15
1.3.3.Thực trạng dạy - học phân môn Kể chuyện lớp 4, 5 ........................................ 21
TIỂU KẾT CHƢƠNG I ............................................................................................29
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP
trường hoạt động lứa tuổi” (Trích tài liệu tập huấn giáo viên cốt cán các tính
phía Bắc - 4/2003). Đây cũng chính là mục tiêu cơ bản của môn Tiếng Việt.
Mục tiêu đó coi trọng tính thực hành, thực hành các kĩ năng sử dụng tiếng
Việt trong hoạt động giao tiếp và học tập. Đồng thời môn Tiếng Việt còn góp
phần nuôi dƣỡng tình yêu cái đẹp, yêu quê hƣơng đất nƣớc, hình thành và
phát triển nhân cách tốt đẹp của con ngƣời trong thế kỉ mới.
Mỗi phân môn của môn Tiếng Việt đều rèn cho học sinh kĩ năng nói,
trong đó phân môn Kể chuyện thì học sinh đƣợc trực tiếp tham gia vào hoạt
động giao tiếp một cách hứng thú nhất. Kể chuyện đƣợc coi là bộ môn nghệ
thuật có từ xa xƣa. Nhiều thế hệ đã tiếp nhận trong tuổi thơ ấu của mình
những ấn tƣợng không thể phai nhạt về những câu chuyện dân gian qua giọng
kể của bà, của mẹ và những ngƣời thân khác trong gia đình.
Phân môn Kể chuyện có vị trí rất quan trọng ở Tiểu học. Đây là phân
môn góp phần bồi dƣỡng tâm hồn, trau dồi vốn sống và vốn văn học, phát
triển tƣ duy và ngôn ngữ cho học sinh. Ngoài ra nó còn góp phần nâng cao
năng lực trí tuệ, rèn luyện cho các em khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ.
Chính vì vậy tiết kể chuyện đòi hỏi giáo viên phải vừa kể chuyện hấp dẫn,
vừa biết dạy cho học sinh tập kể chuyện - tập nói và phát triển ngôn ngữ. Qua
mỗi tiết kể chuyện, học sinh đƣợc tiếp xúc với một văn bản truyện lí thú, cảm
nhận đƣợc nội dung và học đƣợc những bài học bổ ích. Nhƣng điều quan
trọng hơn là các em học đƣợc cách dùng từ ngữ, câu văn để diễn đạt một ý và
1
liên kết các ý trong một đoạn văn, bài văn. Đó chính là yêu cầu rèn kĩ năng
nói cho học sinh.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Rèn kỹ năng
nói cho học sinh lớp 4, 5 thông qua phân môn Kể chuyện” với mong muốn
góp một phần nhỏ vào việc rèn kĩ năng nói cho học sinh, nâng cao hơn nữa
xuất bản năm 2006, các tác giả đã đề cập đến những phƣơng pháp dạy học
hiện đại để rèn cho học sinh các kĩ năng của tiếng Việt nhằm tích cực hóa
hoạt động của học sinh và nâng cao hiệu quả nhận thức.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” của tác giả
Lê Phƣơng Nga, Lê A, Đặng Kim Nga xuất bản năm 2011, các tác giả cung
cấp cho sinh viên những hiểu biết về vị trí, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy Kể
chuyện, là cuốn giáo trình thiết thực và bổ ích cho việc nghiên cứu.
Nhìn chung, các tác giả đều đề cập đến việc đổi mới phƣơng pháp dạy
học nhằm rèn cho hoc sinh các kĩ năng của tiếng Việt. Tuy nhiên, việc rèn kĩ
năng nói cho học sinh lớp 4, 5 thông qua phân môn Kể chuyện chƣa có công
trình nào đi sâu cụ thể.
3. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng những biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh để góp phần
nâng cao chất lƣợng hiệu quả giờ kể chuyện lớp 4, 5.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cở sở lý luận và thực tiễn của việc rèn kĩ năng nói cho học
sinh thông qua phân môn Kể chuyện lớp 4, 5.
- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh để giờ dạy kể
chuyện lớp 4, 5 đạt hiệu quả cao hơn, từ đó rèn và phát triển khả năng giao
tiếp cho học sinh.
- Thiết kế một số giáo án cụ thể để nhằm rèn kĩ năng nói cho học sinh
lớp 4, 5
- Tổ chức thực nghiệm sƣ phạm.
3
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Nghiên cứu việc rèn kĩ năng nói nói cho học
sinh lớp 4, 5 thông qua phân môn Kể chuyện.
5
NỘI DUNG
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Kĩ năng nói và tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng nói
1.1.1.1. Khái niệm kĩ năng nói
Nói trong giao tiếp và hội thoại đƣợc gọi là vận động trao lời. Đây là
vận động mà ngƣời nói (SP1) nói lƣợt lời của mình ra và hƣớng lời nói của
mình về phía ngƣời nghe (SP2) nhằm làm cho SP2 nhận biết đƣợc rằng điều
đƣợc nói ra đó là dành cho mình. Xuất phát từ cơ sở trên, theo chúng tôi, có
thể hiểu khái niệm “kĩ năng nói” nhƣ sau:
Kĩ năng nói là việc ngƣời nói (SP1) vận dụng ngôn ngữ một cách khéo
léo để nói lƣợt lời của mình ra và hƣớng lời nói của mình về phía ngƣời nghe
(SP2) nhằm làm cho SP2 nhận biết đƣợc rằng điều đƣợc nói ra đó là dành cho
mình để từ đó ngƣời nghe có hành động với thực tế nhƣ ngƣời nói
mong muốn.
1.1.1.2. Tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng nói
Kĩ năng nói là một trong những kĩ năng quan trọng cần trang bị, rèn
luyện cho mỗi ngƣời nói chung và cho mỗi học sinh Tiểu học nói riêng.
Kĩ năng nói giúp các nhân vật giao tiếp chia sẻ và lĩnh hội đƣợc thông
tin, tƣ tƣởng, thái độ của nhau trong hoạt động giao tiếp.
Hơn nữa, kĩ năng nói cung cấp cho học sinh những tri thức về hệ thống
ngôn ngữ: từ, câu…trong nhà trƣờng. Thông qua hoạt động nói học sinh sẽ
phát huy đƣợc vốn ngôn ngữ mẹ đẻ, mở rộng thêm vốn từ, nói đúng cấu trúc
ngữ pháp…làm cơ sở cho việc tiếp thu tri thức sau này, rèn luyện cho học
sinh tự tin đứng trƣớc đám đông, trách nhiệm với bản thân và tôn trọng ngƣời
tham gia giao tiếp.
7
1.1.2.2. Đặc điểm của môn Kể chuyện
Kể chuyện là một môn học lí thú và hấp dẫn ở các lớp trong trƣờng
Tiểu học. Tiết Kể chuyện thƣờng đƣợc các em đón nhận với tâm trạng hào
hứng và thích thú.
Khác với các giờ học khác, ở tiết Kể chuyện giáo viên và học sinh gần
nhƣ thoát li khỏi sách giáo khoa và đƣợc giao hòa tình cảm một cách hồn
nhiên thông qua nội dung những câu chuyện đƣợc kể. Thông qua lời kể của
giáo viên và lời kể của học sinh mọi ngƣời nhƣ đƣợc sống trong những phút
giây hồi hộp đầy cảm xúc ngoài quy chế thông thƣờng của một tiết lên lớp bởi
không có những hiện tƣợng căng thẳng nhƣ quay cóp, sao chép… Gần nhƣ
mối quan hệ thầy trò mới đƣợc xác lập giữa một không khí, không khí cổ tích,
không khí của sự động viên, không khí của lòng vị tha rất đỗi thanh cao.
Kể chuyện là một môn học mang tính nghệ thuật. Phân môn Kể
chuyện có khả năng phát triển năng lực cảm thụ văn học, cảm thụ nghệ thuật
của từng cá thể. Học sinh đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập,
chính học sinh là ngƣời đồng cảm thụ, đồng sáng tạo cùng tác giả và ngƣời kể
chuyện. Do đó kể chuyện giúp tƣ duy hình tƣợng của học sinh phát triển. Môn
Kể chuyện ở Tiểu học ngoài mục đích giải trí, kích thích hứng thú học tập,
trau dồi vốn sống, bồi dƣỡng tâm hồn, …còn nhằm phát triển, nâng cao năng
lực, trí tuệ của trẻ đồng thời rèn luyện cho các em kĩ năng nói, diễn đạt ngôn
ngữ, kích thích khả năng ứng xử ngôn ngữ rèn tính linh hoạt, sáng tạo và tác
phong nhanh nhẹn, tháo vát và tự tin. Cần phải rèn luyện cách kể để nắm
đƣợc thủ pháp hấp dẫn ngƣời nghe, để có thể điều khiển đƣợc giọng kể hợp
với diễn biến từng loại truyện khác nhau. Có thể nói, ngôn ngữ nói đƣợc rèn
luyện trong giờ Kể chuyện hƣớng tới phong cách nghệ thuật.
9
viên cũng cần tập trung cho học sinh biết dùng động tác phụ trợ cho lời kể
một cách hợp lý. Và quan trọng là học sinh cần tự tin hƣớng về phía bạn bè để
kể. Vừa để lời kể thêm thuyết phục, vừa để thắt chặt sự giao lƣu giữa ngƣời
kể và ngƣời nghe. Vậy để rèn cho học sinh nói hay, giáo viên sẽ đặt ra những
yêu cầu cho học sinh trong giờ kể chuyện phù hợp hơn và học sinh sẽ tự tin
hơn khi kể chuyện.
1.2. Đặc điểm học sinh lớp 4, 5
1.2.1. Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 4, 5
So với học sinh lớp 2 và 3 học sinh lớp 4, 5 đã có sự phát triển đột biến
cả về thể chất và tâm lí. Về mặt cơ thể các em từ 9 đến 11 tuổi đã có đủ chiều
cao và cân nặng để thực hiện các hoạt động học tập và lao động trong nhà
trƣờng. Về tâm lí, các em là lớp học sinh cuối cấp, đƣợc rèn luyện học tập
trong thời gian khá dài và đặc biệt các em chính là những anh chị trong
trƣờng nên các em thƣờng tỏ ra mạnh mẽ, chững chạc. Học sinh ở lứa tuổi
này đã ý thức đƣợc mình, biết đánh gia hành vi theo chuẩn mực đạo đức xã
hội. Dó đó, về mặt thực tiễn các em giàu vốn sống thực tiễn và khả năng hoạt
động thực tế. Chỉ đến khối lớp này thuật ngữ dạy Kể chuyện mới thực sự bao
hàm những nội dung đầy đủ của nó. Xuất phát từ các đặc điểm của đối tƣợng
nêu trên, vấn đề dạy Kể chuyện ở lớp 4 và 5 không đơn giản là vấn đề giáo
viên kể mà là học sinh tự kể. Dạy Kể chuyện ở đây là quá trình giáo viên
hƣớng dẫn học sinh thuộc truyện và nhớ truyện sau đó kể lại truyện bằng
ngôn ngữ của chính mình. Giáo viên khuyến khích học sinh diễn xuất một
cách sáng tạo qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ.
1.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ học sinh lớp 4, 5.
Lên lớp 4 và 5, ngôn ngữ nói và viết của học sinh đã thành thạo và
hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển
hƣớng dẫn học sinh nghe và kể chuyện thƣờng xuyên. Những câu chuyện hay,
11
lời kể sinh động, hấp dẫn đƣợc các em tri giác tốt hơn, học sinh sẽ hứng thú,
yêu thích học kể chuyện.
- Nhận thức lí tính: Nhận thức lí tính là cấp độ nhận thức phản ánh
những thuộc tính bản chất (bên trong) và những mối liên hệ, quan hệ có tính
chất quy luật của hiện thực mà trƣớc đó ta chƣa đƣợc biết, cấp độ này gồm
các quá trình: trí nhớ, tƣởng tƣợng và tƣ duy.
+ Ở giai đoạn này, trí nhớ của các em là trí nhớ không chủ định. Nó vẫn
hình hành và phát triển mạnh. Nhƣng ghi nhớ ý nghĩa đang dần chiếm ƣu thế.
Vì vậy, trong dạy học kể chuyện giáo viên cần chủ động hình thành cho học
sinh phƣơng pháp ghi nhớ nội dung câu chuyện theo điểm tựa, nối liền điểm
tựa tạo ra dàn ý ghi nhớ nội dung câu chuyện hoặc phân ra nội dung câu
chuyện thành các đoạn, đặt tên cho các đoạn hoặc đặt ra các câu hỏi về nhân
vật, tình huống và cốt truyện… để học sinh trả lời và ghi nhớ. Ở lứa tuổi này,
trí nhớ từ ngữ logic phát triển hơn trí nhớ trực quan. Cho nên, các em có thể
có thể ghi nhớ đƣợc nhiều câu chuyện tự tìm đƣợc bằng nhiều hình thức.
+ Tƣởng tƣợng của học sinh cuối bậc Tiểu học hoàn chỉnh hơn về kết
cấu logic. Sự tạo ra các hình ảnh mới trong tƣởng tƣợng bằng cách cụ thể hóa
nhân vật, nhập vai vào nhân vật sẽ giúp các em khắc sâu nhân vật và nội dung
câu chuyện từ đó bộc lộ tình cảm tự nhiên với nhân vật trong truyện, giúp cho
việc kể chuyện sinh động hơn.
+ Tƣ duy của học sinh ở lớp 4 và 5 đã thoát ra khỏi tính chất trực tiếp
của tri giác và mang dần tính trừu tƣợng, khái quát. Những kĩ năng này đƣợc
hình thành dần qua quá trình học tập dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên. Nhờ
những dấu hiệu cả bản chất và lẫn không bản chất của đối tƣợng, trẻ ở giai
đoạn cuối cấp Tiểu học năng lực phán đoán phát triển hơn, các em có thể
chính mình.
Kĩ năng nói của học sinh đƣợc hình thành và phát triển trong hoạt
động. Vì vậy, học sinh phải tích cực tham gia hoạt động, và đặc biệt là hoạt
động giao tiếp thì lời nói của trẻ mới phát triển đƣợc. Đối với học sinh, lời nói
nảy sinh và phát triển không phải vì bản thân mà vì những nhu cầu khác: đó là
nhu cầu thích ứng với khách quan (tìm hiểu thế giới xung quanh), nhu cầu
13
hoạt động, nhu cầu tự khẳng định mình.... Thỏa mãn đƣợc những nhu cầu đó
sẽ tạo điều kiện hình thành miếng đất để lời nói của học sinh phát sinh và nảy
nở. Không những vậy, ngôn ngữ sẽ đi vào cuộc sống của học sinh dƣới nhiều
hình thức, ấn tƣợng tổng quát và những biểu tƣợng cảm quan cụ thể.
- Yếu tố xã hội: Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, từ ngữ, âm thanh đƣợc
sắp xếp theo một quy tắc nhất định của một dân tộc hoặc của một cộng đồng
ngƣời nảy sinh và phát triển cùng với sự phát triển của cộng đồng dân tộc đó.
Vì vậy, mỗi thứ tiếng là tiếng nói của một dân tộc cụ thể, là sản phẩm của nền
văn hóa dân tộc, đồng thời cũng là phƣơng tiện biểu hiện và lƣu trữ những giá
trị văn hóa của dân tộc ấy. Ngôn ngữ không thể tồn tại bên ngoài xã hội và
đặc biệt ngôn ngữ không có tính di truyền.
Khi mới ra đời, mỗi cá nhân đã đƣợc tiếp xúc ngay với một loại tiếng nhất
định. Cá nhân học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, sử dụng nó để duy trì
mối quan hệ và truyền đạt tƣ tƣởng, tình cảm, ý chí… của mình cho ngƣời
khác hiểu và dùng nó để hiểu ngƣời khác. Lời nói của học sinh đƣợc hình
thành và phát triển trong nhu cầu giao tiếp, giữa trẻ với những ngƣời xung
quanh. Tiếp thu ngôn ngữ là một quá trình luyện nói dƣới sự hƣớng dẫn của
thầy cô giáo. Thầy cô giáo ở đây đƣợc hiểu là những ngƣời xung quanh nhƣ:
ông bà, cha mẹ, anh chị, thầy cô, bạn bè… Học sinh đƣợc sống trong bầu
không khí ngôn ngữ tốt thì ngôn ngữ sẽ phát triển tốt và ngƣợc lại.
giáo khoa. Câu chuyện đƣợc thầy, cô kể cho học sinh nghe, rồi học sinh kể
lại. Bên cạnh mục đích chung là rèn luyện kỹ năng cho học sinh, kiểu bài này
còn có mục đích là rèn luyện kỹ năng nghe. Ở nhiều bài có thêm điểm tựa để
nhớ truyện là tranh minh họa và gợi ý dƣới tranh.
Kiểu bài kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc đƣợc ngoài giờ kể chuyện
yêu cầu học sinh phải tự sƣu tầm trong sách báo hoặc trong đời sống hằng
ngày (nghe lời ngƣời thân hoặc ai đó kể) để kể lại. Kiểu bài này trƣớc đây chỉ
15
có trong giờ Tập làm văn. Bên cạnh mục đích chung là rèn kĩ năng nói cho
học sinh, kiểu bài kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc ngoài giờ kể chuyện còn
có mục đích kích thích học sinh ham đọc sách.
Kiểu bài kể lại câu chuyện đã đƣợc chứng kiến hoặc tham gia yêu cầu
học sinh kể lại những chuyện ngƣời thật, việc thật có trong cuộc sống xung
quanh mà các em đã biết, đã thấy, cũng có khi chính các em là nhân vật của
câu chuyện. Kiểu bài này trƣớc đây chỉ có trong giờ Tập làm văn. Các bài kể
chuyện đƣợc chứng kiến hoặc tham gia rất đa dạng vì chúng gắn với chủ điểm
của sách. Bên cạnh mục đích rèn luyện kĩ năng nói, kiểu bài kể chuyện đƣợc
chứng kiến hoặc tham gia còn có mục đích rèn cho học sinh thói quen quan
sát, ghi nhớ. So với các câu chuyện ở lớp 2 và lớp 3 thì các chuyện ở lớp 4 và
lớp 5 có độ dài lớn hơn, tình tiết phức tạp, nội dung sâu sắc hơn. Những câu
chuyện này nói về những phẩm chất tốt đẹp mà con ngƣời cần phải rèn luyện
gắn với các chủ điểm học tập.
Các bài học Kể chuyện lớp 4 được phân bố theo các tuần học như sau:
Học kì I:
1. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp ( Sự tích hồ Ba Bể)
2. Kể chuyện đã nghe, đã đọc ( Đọc bài thơ Nàng tiên ốc và kể lại)
3. Kể chuyện đã nghe, đã đọc ( Kể một câu chuyện về lòng nhân hậu)
21. Kể chuyện đƣợc chứng kiến hoặc tham gia ( Kể một câu chuyện về
ngƣời có khả năng hoặc sức khỏe đặc biệt mà em biết)
22. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp ( Con vịt xấu xí)
23. Kể chuyện đã nghe, đã đọc ( Kể một câu chuyện ca ngợi cái đẹp
hay phản ánh cuộc đấu tranh giữa cái đẹp với cái xấu, cái thiện với cái ác )
24. Kể chuyện đƣợc chứng kiến hoặc tham gia (Kể một câu chuyện về
việc em/ ngƣời xung quanh) đã làm gì để góp phần giữ gìn xóm làng xanh,
sạch, đẹp)
17
25. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp ( Những chú bé không chết)
26. Kể chuyện đã nghe, đã đọc ( Kể một câu chuyện nói về lòng
dung cảm)
27. Kể chuyện đƣợc chứng kiến hoặc tham gia ( Kể một câu chuyện về
lòng dũng cảm mà em đƣợc chứng kiến hoặc tham gia)
28. Ôn tập
29. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp ( Đôi cánh của ngựa trắng)
30. Kể chuyện đã nghe, đã đọc ( Kể một câu chuyện về du lịch hay
thám hiểm)
31. Kể chuyện đƣợc chứng kiến hoặc tham gia ( Kể câu chuyện về một
cuộc du lịch hoặc cắm trại mà em đƣơc tham gia)
32. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (Khát vọng sống)
33. Kể chuyện đã nghe, đã đọc ( Kể một câu chuyện về tinh thần lạc
quan và yêu đời)
34. Kể chuyện đƣợc chứng kiến hoặc tham gia ( Kể một câu chuyện về
ngƣời vui tình em từng biết)
35. Ôn tập
Các bài học kể chuyện lớp 5 được phân bố theo các tuần học như sau:
15. Kể chuyện đã nghe, đã đọc ( Kể một câu chuyện nói về những
ngƣời đã đóng góp sức mình chống lại nghèo đói, lạc hậu vì hạnh phúc
nhân dân)
16. Kể chuyện đƣợc chứng kiến hoặc tham gia ( Kể một buổi sum họp
gia đình ấm cúng)
17. Kể chuyện đã nghe, đã đọc ( Kể một câu chuyện về những ngƣời
sống đẹp, biết mang lại niềm vui, hạnh phúc cho ngƣời xung quanh)
18. Ôn tập
Học kì II:
19. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp ( Chiếc đồng hồ)
19