Nghiên cứu phương pháp xác định phạm vi của thử nghiệm cơ bản từ kết quả đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp tại công ty TNHH kiểm toán và tư vấn thuế ATAX - Pdf 51

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, dịch vụ kiểm toán độc lập có vai trò ngày càng quan trọng đối với
hoạt động của nền kinh tế, đặc biệt đối với yêu cầu về tính minh bạch và công bố
thông tin đối với các doanh nghiệp đại chúng. Xuất phát từ yêu cầu này mà chất
lượng cuộc kiểm toán ngày càng phải được chú trọng và nâng cao để đáp ứng nhu
cầu thị trường.
Chất lượng của dịch vụ kiểm toán tùy thuộc vào hai yếu tố quan trọng đó là
chương trình kiểm toán và đội ngũ nhân sự hành nghề kiểm toán. Cuộc kiểm toán
Báo cáo tài chính có đảm bảo phát hiện hết các gian lận và sai sót trọng yếu hay
không tùy thuộc rất lớn vào chương trình kiểm toán mà Công ty kiểm toán áp dụng,
nếu chương trình kiểm toán không khoa học hoặc không phù hợp với quy định của
Chuẩn mực kiểm toán thì sẽ dễ dẫn đến tình trạng cuộc kiểm toán không phát hiện
hết các gian lận và sai sót trọng yếu.
Trong cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính, kiểm toán viên không thể kiểm tra hết
100% các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong doanh nghiệp được kiểm toán mà sẽ áp
dụng kỹ thuật chọn mẫu nhằm tăng hiệu quả cuộc kiểm toán cũng như phù hợp với
điều kiện về thời gian thực hiện kiểm toán. Một vấn đề quan trọng trong việc áp
dụng kỹ thuật chọn mẫu là xác định cở mẫu, đặc biệt là đối với các thử nghiệm cơ
bản nhằm hạn chế rủi ro kiểm toán ở mức chấp nhận được. Với một mức Rủi ro
kiểm toán ở mức chấp nhận được đã xác định, cở mẫu trong thử nghiệm cơ bản phụ
thuộc vào kết quả đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát của Kiểm toán viên,
trong đó, do những khó khăn nhất định, việc đánh giá Rủi ro tiềm tàng thường chỉ
được xác định ở hai mức có hoặc không có rủi ro hoặc thường được đánh giá ở một
mức cao nhất là 1 để đảm bảo nguyên tắc thận trọng. Vấn đề còn lại là buộc các
doanh nghiệp kiểm toán phải xây dựng cho mình cơ sở khoa học để xác định phạm
vi thử nghiệm cơ bản phù hợp với kết quả đánh giá rủi ro kiểm soát trong doanh
nghiệp, từ đó có thể thu thập đầy đủ và hiệu quả bằng chứng kiểm toán có hiệu lực



3

4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa vào phương pháp nghiên cứu thực nghiệm.
Trong đó, chủ yếu là áp dụng phương pháp thực nghiệm khoa học và phân tích, tổng
kết kinh nghiệm.
5. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn lớn đối với chất lượng cuộc kiểm toán
cũng như hiệu quả hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm
toán và Tư vấn thuế -ATAX. Cụ thể là đề tài mang lại phương pháp xác định ảnh
hưởng của kết quả đánh giá Rủi ro kiểm soát đối với phạm vi các thử nghiệm cơ
bản, giúp cho cuộc kiểm toán mang lại hiệu quả hơn. Đồng thời, tác giả đề tài cũng
đã nghiên cứu được cơ sở cho việc xác định phạm vi thử nghiệm cơ bản. Kết quả
của quá trình tìm hiểu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ được chứng minh
trong tác động đến phạm vi các thử nghiệm cơ bản, kiểm toán viên có đủ cơ sở để
áp dụng chương trình kiểm toán mẫu do VACPA ban hành. Qua đó, kiểm toán viên
có đủ cơ sở để chứng minh với các cơ quan chức năng về công việc của mình. Nếu
đề tài được áp dụng vào thực tế, việc kiểm toán báo cáo tài chính tại ATAX sẽ mang
lại hiệu quả cao hơn nhờ kết quả nghiên cứu của đề tài.
6. Cấu trúc luận văn
Luận văn sẽ bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phương pháp xác định phạm vi thử nghiệm cơ bản từ
kết quả đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Chương 2: Thực trạng đánh giá rủi ro kiểm soát và mối liên hệ giữa rủi ro kiểm soát
với phạm vi các thử nghiệm cơ bản trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty
TNHH Kiểm toán và tư vấn thuế ATAX.
Chương 3: Hoàn thiện phương pháp xác định phạm vi của thử nghiệm cơ bản từ kết
quả đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty TNHH
Kiểm toán và Tư vấn thuế -ATAX.

phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không. Mục tiêu của
kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn
tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị.
Như vậy thực chất hoạt động kiểm toán Báo cáo tài chính là hoạt động mà
các Công ty kiểm toán và kiểm toán viên, bằng các phương pháp nghiệp vụ của
mình và dựa vào hướng dẫn của Chuẩn mực và các văn bản có liên quan, kiểm tra


5

và đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu của Báo
cáo tài chính, có phù hợp với Chuẩn mực và Chế độ kế toán Việt Nam và các chuẩn
mực Quốc tế được thừa nhận hay không.
Ngoài mục tiêu là đưa ra ý kiến về Báo cáo tài chính, thông qua việc thực
hiện các thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên còn giúp đơn vị được kiểm toán thấy rõ
những tồn tại trong Hệ thống kiểm soát nội bộ, những tồn tại trong quá trình quản lý
hoạt động kinh doanh của mình, từ đó, kiểm toán viên đưa ra những ý kiến góp ý
nhằm giúp đơn vị khắc phục được những tồn tại của mình.
1.1.2 Đặc điểm kiểm toán báo cáo tài chính
Trong kiểm toán Báo cáo tài chính, có một số đặc điểm sau đây:
- Trách nhiệm về việc phát hiện và ngăn chặn gian lận, sai sót:
Như đã nêu ở trên, kiểm toán viên chỉ có thể thực hiện các thủ tục kiểm toán
nhằm đưa ra sự đảm bảo hợp lý rằng Báo cáo tài chính không còn chứa đựng những
sai sót trọng yếu. Điều này có nghĩa là nguyên tắc trọng yếu luôn được sử dụng
trong kiểm toán Báo cáo tài chính. Xuất phát từ nguyên tắc này mà kiểm toán viên
có thể sử dụng những phương pháp kiểm toán khác nhau nhằm đưa ra ý kiến về Báo
cáo tài chính. Việc phát hiện và ngăn chặn gian lận và sai sót cũng như việc lập Báo
cáo tài chính một cách trung thực, hợp lý là trách nhiệm của Ban lãnh đạo đơn vị
được kiểm toán. Trách nhiệm chính của kiểm toán viên là đưa ra ý kiến của mình về
Báo cáo tài chính được kiểm toán.

+ Rút ra kết luận dựa trên các bằng chứng kiểm toán thu thập được, (Ví dụ:
Đánh giá tính hợp lý của các ước tính kế toán như khấu hao TSCĐ, lập dự
phòng, ...).
Vì vậy, phương pháp kiểm toán để thu thập bằng chứng kiểm toán có ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc kiểm toán, nếu phương pháp kiểm toán không
phù hợp thì có thể bằng chứng kiểm toán thu thập được sẽ không chính xác, dẫn đến
ý kiến của kiểm toán viên dựa vào những bằng chứng kiểm toán này sẽ không phù
hợp.


7

1.1.3 Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính
Cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính thông thường sẽ bao gồm các giai đoạn sau đây:
Sơ đồ 1.1 : Quy trình kiểm toán BCTC
Giai đoạn trước
khi ký kết hợp
đồng
Giai đoạn đánh giá rủi ro kiểm
soát (đánh giá HTKSNB)

Giai đoạn thực hiện
thử nghiệm cơ bản

Giai đoạn kết thúc
và phát hành BCKT

Theo hướng dẫn của VAS 400- Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ quy định
rằng, kiểm toán viên bắt buộc phải có sự hiểu biết và đánh giá nhất định đối với
việc thiết kế và thực hiện của Hệ thống kiểm soát nội bộ đơn vị được kiểm toán [1].

thử nghiệm cơ bản được gọi là phạm vi thử nghiệm cơ bản.
Phạm vi thử nghiệm cơ bản được hiểu là số lượng các nghiệp vụ kinh tế mà
kiểm toán viên phải kiểm tra trong toàn bộ nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị
được kiểm toán. Số lượng nghiệp vụ cần kiểm tra ở giai đoạn kiểm tra cơ bản tùy
thuộc vào kết quả đánh giá HTKSNB ở giai đoạn trước đó. Nếu kiểm toán viên
đánh giá là HTKSNB tốt thì có thể giảm bớt số lượng mẫu chọn trong kiểm tra cơ
bản và ngược lại.
1.2

Mối liên hệ giữa đánh giá rủi ro kiểm soát và xác định phạm vi của thử
nghiệm cơ bản
Trong doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, Ban lãnh

đạo doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc những người điều hành cao nhất
đối với doanh nghiệp. Ban lãnh đạo doanh nghiệp là người triển khai toàn bộ hoạt


9

động kinh doanh của doanh nghiệp và đồng thời là người chịu trách nhiệm về việc
ngăn ngừa và phát hiện các gian lận và sai sót phát sinh trong quá trình hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
Do Ban lãnh đạo doanh nghiệp không thể kiểm tra, kiểm soát từng hoạt động
của doanh nghiệp nên thông thường, để ngăn chặn gian lận phát sinh trong quá trình
hoạt động kinh doanh, người ta thường xây dựng và thiết kế hệ thống kiểm soát nội
bộ.
HTKSNB sẽ giúp lãnh đạo doanh nghiệp ngăn chặn những gian lận và sai sót
phát sinh từ quá trình hoạt động kinh doanh. Vì vậy, nếu HTKSNB được thiết kế,
thực hiện tốt và hoạt động một cách hữu hiệu thì sẽ ngăn ngừa được gian lận và sai
sót phát sinh do con người tạo ra trong quá trình hoạt động kinh doanh hằng ngày

quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập
báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả
tài sản của đơn vị. Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm: môi trường kiểm soát, hệ
thống kế toán và các thủ tục kiểm soát.[1]
Các thử nghiệm kiểm soát được thực hiện trong các giai đoạn của cuộc kiểm
toán tùy thuộc vào mục tiêu của Kiểm toán viên đặt ra đối với quá trình kiểm soát
của đơn vị. Thử nghiệm kiểm soát bao gồm:[1]
- Kiểm tra chứng từ của các nghiệm vụ kinh tế và các sự kiện để thu được
bằng chứng kiểm toán về hoạt động hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm
soát nội bộ, ví dụ kiểm tra các chứng từ liên quan đến phiếu chi tiền được phê duyệt
đầy đủ hay không;
- Phỏng vấn, quan sát thực tế việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm soát
của những người thực thi công việc kiểm soát nội bộ xem có để lại bằng chứng
kiểm soát hay không;


11

- Kiểm tra lại việc thực hiện thủ tục kiểm soát nội bộ, ví dụ kiểm tra lại bảng
đối chiếu tiền gửi của đơn vị với ngân hàng, xem xét lại biên bản kiểm kê qũy, kiểm
kê hàng tồn kho, đối chiếu lại công nợ để đảm bảo rằng chúng có được đơn vị thực
hiện hay không
Kết quả của việc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát giúp kiểm toán viên có
sự đánh giá và kết luận về rủi ro kiểm soát của đơn vị được kiểm toán. Rủi ro kiểm
soát được hiểu là rủi ro sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục
trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ
thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp
thời.
1.2.1.2 Phương pháp kiểm toán cơ bản (thử nghiệm cơ bản)
Phương pháp kiểm toán cơ bản hay còn gọi là thử nghiệm cơ bản là phương

Đánh giá kết quả

- Phương pháp này chỉ được sử dụng khi không có rủi ro được phát hiện
trong chu trình hoặc tài khoản liên quan đến cơ sở dẫn liệu cần kiểm toán. Trường
hợp kiểm toán viên đánh giá là có rủi ro phát hiện trong chu trình hoặc tài khoản
cần kiểm toán thì kiểm toán viên sẽ thiết kế thủ tục kiểm toán riêng để đảm bảo thu
thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán đánh giá về ảnh hưởng của rủi ro đã phát hiện
đến Báo cáo tài chính, vì vậy trường hợp này không thể sử dụng phương pháp SAP.
- Phương pháp kiểm tra chi tiết (TOD) là phương pháp kiểm toán mà kiểm
toán viên sẽ kiểm tra chi tiết đến chứng từ thực tế phát sinh. Phương pháp này chỉ
áp dụng khi không thể thực hiện được thủ tục SAP. Để thực hiện thủ tục kiểm tra
chi tiết, kiểm toán viên có thể sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp các kỹ thuật kiểm toán
với nhau, bao gồm: quan sát, phỏng vấn, kiểm tra chứng từ, tính toán lại, xác nhận.
Vì vậy, khi kiểm toán viên kiểm toán BCTC của doanh nghiệp, kiểm toán
viên quyết định phương pháp kiểm toán nào là tùy thuộc vào đánh giá của KTV về
HTKSNB. Nếu kiểm toán viên đánh giá là HTKSNB là hoạt động tốt thì thử


13

nghiệm kiểm soát sẽ được áp dụng chủ yếu trong cuộc kiểm toán BCTC và ngược
lại, khi KTV có đủ bằng chứng kiểm toán để đánh giá rằng rủi ro kiểm soát của
doanh nghiệp được kiểm toán là cao thì thử nghiệm cơ bản sẽ được thực hiện chủ
yếu trong cuộc kiểm toán.
1.2.2 Mối liên hệ giữa đánh giá rủi ro kiểm soát và xác định phạm vi thử nghiệm
cơ bản
Trong kiểm toán Báo cáo tài chính, nếu sau khi thực hiện thử nghiệm kiểm
soát mà cho KTV có đủ bằng chứng để kết luận HTKSNB hoạt động hữu hiệu thì
phạm vi các thử nghiệm cơ bản sẽ nhỏ hơn trong trường hợp kết quả của thử
nghiệm kiểm soát là không hữu hiệu. Vấn đề này phát sinh là do HTKSNB tốt thì

cuối năm được thực hiện vào cuối niên độ kế toán có giá trị cao hơn là thực hiện
kiểm tra vào một thời điểm khác và phải điều chỉnh;
- Phạm vi thử nghiệm cơ bản, ví dụ xác định cỡ mẫu kiểm tra rộng hơn hay là
hẹp.
Tuy nhiên, khó có thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro phát hiện ngay cả khi kiểm toán
viên kiểm tra chi tiết toàn bộ các nghiệp vụ và số dư tài khoản.
Bên cạnh đó, chuẩn mực cũng nêu ra rằng, Mức độ rủi ro phát hiện tỷ lệ nghịch với
mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
Ví dụ: Khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá là cao thì rủi ro phát
hiện có thể được đánh giá ở mức độ thấp để giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến
mức có thể chấp nhận được. Ngược lại, khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được
đánh giá là thấp thì có thể chấp nhận mức độ rủi ro phát hiện cao hơn nhưng vẫn
đảm bảo giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có thể chấp nhận được. Vấn đề
này được thể hiện qua Bảng như sau:


15

Mối quan hệ giữa các loại rủi ro [1]
Sự biến động của rủi ro phát hiện dựa theo đánh giá của kiểm toán viên về rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được thể hiện trong bảng sau đây:

Đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro kiểm soát
Đánh

giá

của

kiểm toán viên về

Cao nhất

Trong đó:
 Mỗi loại rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều được chia thành 3 mức:
Cao, trung bình và thấp.
 Vùng tô đậm thể hiện mức độ rủi ro phát hiện.
 Loại rủi ro phát hiện được chia thành 5 mức: Cao nhất, cao, trung bình, thấp
và thấp nhất.
Mức độ rủi ro phát hiện tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát. Ví dụ: Trường hợp mức độ rủi ro tiềm tàng được kiểm toán viên đánh giá
là cao và mức độ rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá là thấp thì mức độ
rủi ro phát hiện có thể đánh giá là trung bình nhằm giảm rủi ro kiểm toán xuống
thấp đến mức có thể chấp nhận được. Ngược lại, nếu mức độ rủi ro tiềm tàng là thấp
và rủi ro kiểm soát được đánh giá là trung bình thì có thể xác định mức độ rủi ro
kiểm soát được đánh giá là trung bình thì có thể xác định mức độ rủi ro phát hiện là
cao nhưng vẫn đảm bảo rủi ro kiểm toán là thấp có thể chấp nhận được./.
Ngoài chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, các hãng kiểm toán lớn trên thế giới
cũng đã có nghiên cứu về mối liên hệ giữa rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, cụ
thể hãng Delloite Touch Tomatsu đã nghiên cứu mối liên hệ này bằng cách sử dụng


16

các hàm sác xuất thống kê toán. Người ta đã nghiên cứu ra rằng, rủi ro tiềm tàng là
nhân tố có thể có phát sinh hoặc không phát sinh, nhân tố rủi ro kiểm soát là nhân tố
được xác định thông qua quá trình nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ, theo
đó, nếu kiểm toán viên đánh giá rằng hệ thống kiểm soát nội bộ tốt, tương ứng với
độ đảm bảo về rủi ro kiểm soát cao thì mức độ đảm bảo về rủi ro phát hiện cũng
thay đổi tương ứng.
1.3 Phương pháp xác định phạm vi của thử nghiệm cơ bản

pháp
thống kê

CMA

Kiểm tra
tất cả
các phần
tử của
tổng thể

Chọn mẫu không đại
diện

Phương pháp
phi thống kê

Twostrata

Xét đoán
của KTV

Chọn mẫu
theo khối

Các phương pháp xác định phạm vi của thử nghiệm cơ bản bao gồm:
- Kiểm tra 100% các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của tài khoản hoặc số dư nghiệp vụ
đối với các khoản mục ít phát sinh, các nghiệp vụ hoặc số dư mà KTV đánh giá
rằng có sai sót trọng yếu.
- Sử dụng phương pháp chọn mẫu để chọn ra các một số phần tử để kiểm tra.

mẫu thích hợp. Cụ thể là đối với những khoản mục mà mục tiêu kiểm toán đặt ra là
cần kiểm tra theo hướng số dư hoặc giao dịch cần kiểm tra trình bày trong Báo cáo
tài chính bị thiếu (Understatment- có nghĩa là có một số nghiệp vụ kinh tế đã phát
sinh trong thực tế nhưng không được trình bày trong Báo cáo tài chính) thì tổng thể
được sử dụng để kiểm tra không phải là số liệu trong sổ kế toán mà phải là nguồn
tài liệu hoặc số liệu độc lập với sổ sách kế toán. Trường hợp này chủ yếu kiểm toán
viên sẽ sử dụng phương pháp chọn mẫu phi đại diện hoặc kiểm tra 100% phần tử
của tổng thể.
Trong phương pháp chọn mẫu thống kê, người ta thường sử dụng phương
pháp chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ để xác định các phần tử được kiểm tra, thông


19

thường là phương pháp CMA- Cumulative Moneytary Amounts selection và
phương pháp TSS- Two strata sample để chọn ra những phần tử cần kiểm tra trong
tổng thể.


20

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM SOÁT TẠI ATAX VÀ
MỐI LIÊN HỆ VỚI PHẠM VI THỬ NGHIỆM CƠ BẢN ĐANG ĐƯỢC ÁP
DỤNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI ATAX
2.1. Giới thiệu về công ty TNHH Kiểm toán và tư vấn Thuế-ATAX
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Thuế, tên viết tắt là ATAX- Auditting
and Tax consulting Company được thành lập ngày 30/06/2006 theo Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh số 3202003333 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đà
Nẵng cấp.

2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Thuế
Ban Giám đốc:

Phòng
hành
chính

Phòng
NV1

Phòng
NV2

Phòng
kiểm toán
XDCB

Phòng kế
toán

Chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận:
Giám đốc: Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty, là lãnh đạo
công ty, có nhiệm vụ điều hành toàn bộ các hoạt động của công ty, đề ra các phương
hướng phát triển cho công ty cùng những chính sách thủ tục trong hoạt động của
công ty.
Phó giám đốc: Các công việc của nhóm kiểm toán được thông qua Phó giám
đốc trước khi trình lên Giám đốc, Phó giám đốc chịu trách nhiệm soát xét lại công
việc của kiểm toán viên, đánh giá rủi ro về HTKSNB của khách hàng. Trực tiếp
quản lý nhóm kiểm toán, tham gia kiểm toán tại khách hàng.


23

Mỗi giai đoạn của cuộc kiểm toán có mục tiêu và nội dung công việc cần
thực hiện khác nhau:
- Giai đoạn trước khi ký hợp đồng kiểm toán: là giai đoạn mà Ban giám đốc ATAX
tìm hiểu khách hàng về quy mô khách hàng, yêu cầu của khách hàng, các loại rủi ro
có thể có sau đó so sánh với nguồn lực hiện tại của ATAX xem có ký kết hợp đồng
kiểm toán hay không. Trong giai đoạn này, các công việc về tìm hiểu và đánh giá rủi
ro của khách hàng được ghi nhận vào giấy làm việc A120- Chấp nhận khách hàng
và đánh giá rủi ro hợp đồng;
- Giai đoạn lập kế hoạch chiến lược: Những công việc trong giai đoạn này do
trưởng nhóm kiểm toán thực hiện sau khi hợp đồng kiểm toán được ký kết giao đến
cho các phòng kiểm toán thực hiện. Công việc trong giai đoạn này được ghi chép
vào giấy làm việc A310, các giấy làm việc về cam kết tính độc lập.
- Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: Đây là giai đoạn quan trọng của cuộc kiểm
toán, trong giai đoạn này, kiểm toán viên dựa vào đánh giá của mình về khách hàng
được kiểm toán để quyết định xem sẽ sử dụng phương pháp kiểm toán nào cho cuộc
kiểm toán, các loại rủi do sẽ phát sinh đối với từng phần hành, các thủ tục kiểm toán
nhằm thu thập bằng chứng để đánh giá tác động của những rủi ro đến cuộc kiểm
toán.
- Giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán: Đây là giai đoạn kiểm toán viên và các
trợ lý đến văn phòng khách hàng để thực hiện các thủ tục kiểm toán, bao gồm cả thủ
tục thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản. Kết quả kiểm tra của giai đoạn
này sẽ được ghi chép vào các giấy làm việc từ A410 đến phần H.
Kết quả ghi chép ở những giấy làm việc này là cơ sở cho kiểm toán viên đưa ra kết
luận về ý kiến kiểm toán viên đối với đơn vị được kiểm toán.
- Giai đoạn phát hành Báo cáo kiểm toán: Giai đoạn này, dựa vào bằng chứng kiểm
toán thu thập được từ giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên sẽ
soạn thảo Báo cáo kiểm toán để trình các cấp kiểm tra và phát hành cho khách hàng.


2.2.3.1.1 Trong giai đoạn tìm hiểu khách hàng và môi trường hoạt động
Giai đoạn tìm hiểu khách hàng và môi trường hoạt động chủ yếu được thực
hiện trong giai đoạn thứ nhất và giai đoạn thứ 2 của cuộc kiểm toán. Hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp được nhân viên ATAX tìm hiểu bao gồm:
- Tìm hiểu các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp:
Các yếu tố bên ngoài được tìm hiểu và ghi nhận vào Giấy làm việc số A310Tìm hiểu hoạt động kinh doanh. Cụ thể là kiểm toán viên sẽ đánh giá thông tin sau:
+ Các thông tin về môi trường kinh doanh chung của DN trong năm hiện
hành bao gồm, nhưng không giới hạn, các thông tin sau: Thực trạng chung của nền
kinh tế (suy thoái, tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát...); Biến động về
lãi suất cơ bản, tỷ giá ngoại tệ, và lạm phát; Biến động thị trường mà DN đang kinh
doanh; Các nội dung khác ….
+ Đánh giá các vấn đề về ngành nghề kinh doanh, cụ thể là Các thông tin
chung về ngành nghề mà DN đang kinh doanh và xu hướng của ngành nghề bao
gồm, nhưng không giới hạn, các thông tin sau: Thị trường và cạnh tranh, bao gồm
nhu cầu, năng lực cung ứng, cạnh tranh về giá; Đặc điểm kinh doanh ngành (liên tục
hay thời vụ); Các thay đổi trong công nghệ sản xuất, kinh doanh các sản phẩm
chính; Sự thu hẹp hay mở rộng quy mô kinh doanh của ngành; Nguồn cung cấp đầu
vào cho ngành và giá cả (nguyên vật liệu chính, dịch vụ, lao động)….
+ Các thông tin chung về môi trường pháp lý mà DN đang hoạt động bao
gồm, nhưng không giới hạn, các thông tin sau: Pháp luật và các quy định có ảnh
hưởng trọng yếu tới hoạt động của DN như các quy định pháp luật đối với loại hình
và ngành nghề kinh doanh của DN; Các quy định của Chính phủ hiện có ảnh hưởng
tới hoạt động kinh doanh của DN như các quy định về tiền tệ và kiểm soát ngoại tệ;
hỗ trợ tài chính của Chính phủ; thuế quan và các rào cản thương mại; thay đổi thuế
áp dụng…
- Tìm hiểu các yếu tố bên trong doanh nghiệp (hiểu biết về doanh nghiệp)




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status