Khoá luận tốt nghiệp ca dao về tình yêu quê hương đất nước với giáo dục học sinh tiểu học - Pdf 51

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
===o0o===

MAI THỊ NGẦN

CA DAO VỀ TÌNH YÊU QUÊ HƢƠNG ĐẤT NƢỚC
VỚI GIÁO DỤC HỌC SINH TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học dân gian

HÀ NỘI, 2018


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
===o0o===

MAI THỊ NGẦN

CA DAO VỀ TÌNH YÊU QUÊ HƢƠNG ĐẤT NƢỚC
VỚI GIÁO DỤC HỌC SINH TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học dân gian

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:

ThS. Đỗ Thị Huyền Trang



DANH MỤC VIẾT TẮT

Nxb:

Nhà xuất bản

ĐHQGHN:

Đại học quốc gia Hà Nội

SGK:

Sách giáo khoa

L:

Lớp

T:

Tập

Tr:

Trang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1

2.1.1. Giới thiệu về các địa danh trên mọi miền tổ quốc ................................ 23
2.1.1.1. Giới thiệu tên các danh lam thắng cảnh trên đất nƣớc....................... 23
2.1.1.2. Giới thiệu địa danh qua các đặc sản vùng miền................................. 27
2.1.1.3. Giới thiệu các địa danh qua con ngƣời và các sự kiện lịch sử ........... 30
2.1.1.4. Nhận thức về địa danh qua nét đẹp văn hóa ...................................... 32
2.1.2. Cung cấp những kiến thức về tự nhiên và đời sống xã hội ................... 35
2.2. Giáo dục thẩm mĩ ..................................................................................... 40
2.3. Ca dao tình yêu quê hƣơng đất nƣớc với việc hình thành nhân cách cho
học sinh Tiểu học ............................................................................................ 43
2.4. Ca dao tình yêu quê hƣơng đất nƣớc bồi dƣỡng năng lực cảm thụ Văn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học..................................................................... 48
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 54
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học dân gian đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống sinh
hoạt của nhân dân Việt Nam, nhất là đối với học sinh Tiểu học. Văn học dân
gian có nội dung phong phú, đa dạng, phản ánh nhiều mặt của cuộc sống, lí
tƣởng, mơ ƣớc của nhân dân lao động Việt Nam qua các thời kì lịch sử.
Chính vì lẽ đó mà văn học dân gian có vai trò giáo dục toàn diện nhân cách
cho học sinh Tiểu học.
Trong kho tàng ca dao Việt Nam, ca dao về tình yêu quê hƣơng đất
nƣớc chiếm số lƣợng khá lớn. Bởi quê hƣơng là nguồn cảm hứng vô tận của
thơ ca dân gian; là một thứ tình cảm thiêng liêng, thể hiện đậm nét trong đời
sống sinh hoạt của ngƣời bình dân. Sức hấp dẫn của ca dao không chỉ ở
ngôn ngữ giản dị, đời thƣờng mà còn ở nội dung thể hiện của nó. Ca dao
không chỉ cho thấy những nét đẹp về thiên nhiên, cuộc sống, phong tục tập
quán của ngƣời xƣa mà còn làm nổi bật tinh thần lạc quan, yêu đời của nhân

khía cạnh nhất định: hình ảnh con cò, cây tre, trăng, thuyền với bến, cà với
muối, cuội với trăng, quán mát với cây đa, bến xƣa với con đò cũ, mận với
đào, lê với lựu… ngƣời nghe cảm thấy tâm hồn rung động vì đã hiểu đƣợc ý
của ngƣời hát, đã bắt đầu đồng cảm. Chính sự lặp đi lặp lại nhiều lần ấy trở
nên thân thuộc”[9]. Hình ảnh của làng quê Việt Nam nhƣ in dấu đậm nét
trong kí ức của mỗi ngƣời, trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho các nghệ sĩ
từ xƣa đến nay.
Năm 1971, trong cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” khi đề cập
đến vấn đề tình yêu quê hƣơng đất nƣớc trong ca dao, Vũ Ngọc Phan có viết:
“Lòng yêu nƣớc của nhân dân Việt Nam không thể hiện một cách bóng gió
khắp toàn bài ca dao nhƣ những thơ văn thời thế của những ngƣời nho sĩ.
Lòng yêu đất nƣớc của nhân dân Việt Nam hòa với lòng yêu những cảnh

2


thiên nhiên trong đất nƣớc, hòa với lòng yêu những cảnh thiên nhiên trên đất
nƣớc, hòa với cả lòng yêu đồng ruộng, cảnh chợ, con đò; trong tình yêu ấy,
nhân dân nói lên những cái đặc biệt, những cái phong phú của từng miền,
những cái lớn lao của sông núi, của thác, của rừng, những cái hiểm trở nó làm
cho quân xâm lăng khiếp sợ”[10; Tr.42].
Năm 1997, trong cuốn Phê bình bình luận văn học ca dao, dân ca, tục
ngữ, vè do Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn và trích dẫn, với bài viết Thiên nhiên
đất nước trong ca dao, tác giả Đinh Gia Khánh đã trích dẫn rất nhiều câu ca
dao nói về cảm hứng thiên nhiên trong các bài ca dao. Trong đó tác giả có chỉ
ra một tính chất trong cảm hứng thiên nhiên là “Những niềm vui, niềm tự hào,
những cảm xúc dạt dào trƣớc vẻ đẹp của giang sơn đất nƣớc thân yêu” [11;
Tr.75]
Nguyễn Bích Hà khi viết về tình yêu đất nƣớc trong ca dao cũng từng có
nhận định: “Mỗi làng quê mang một sắc thái riêng nhƣng đều thể hiện sự gắn

- “Xoài nào ngon bằng xoài Cao Lãnh
Vú sữa nào ngọt bằng vú sữa Cần Thơ?
-

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Cần Thơ
Làm chi nay đợi mai chờ
Linh đinh Phong Mỹ, dật dờ Hoà An” [4]
Nhìn lại các vấn đề đã đƣợc nghiên cứu, ta thấy ca dao về tình yêu quê
hƣơng đất nƣớc chƣa thật sự nhận đƣợc sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà
nghiên cứu. Có thể nói, tất cả các ý kiến, nhận xét trong các giáo trình, các
bài báo trên đều xác đáng, nhƣng hầu hết mới chỉ dừng lại ở mức độ khái
quát, hoặc chỉ đề cập đến một phƣơng diện của ca dao về tình yêu quê
hƣơng đất nƣớc, chứ chƣa nói ra ý nghĩa của việc dạy các bài ca dao về tình
yêu quê hƣơng đất nƣớc với giáo dục học sinh Tiểu học. Song đó lại là
những gợi ý bƣớc đầu cho chúng tôi tiếp cận đề tài này.

4


Từ những gợi ý quý báu đó của những ngƣời đi trƣớc mà tôi đi nghiên
cứu đề tài “Ca dao về tình yêu quê hương đất nước với việc giáo dục học
sinh Tiểu học”.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu “Ca dao về tình yêu quê hương đất nước với giáo dục học
sinh Tiểu học” nhằm chỉ rõ ý nghĩa của văn học dân gian nói chung và ca dao
về tình yêu quê hƣơng đất nƣớc nói riêng với giáo dục học sinh Tiểu học.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: ý nghĩa của ca dao về tình yêu quê hƣơng đất

triển tâm lí của học sinh. Đặc trƣng của lứa tuổi này là tính chủ định, kĩ năng
làm việc trí óc và sự phản tỉnh. Nhà trƣờng và hoạt động học tập đem đến cho
trẻ nhiều điều mới lạ, đặt ra ở trẻ những đòi hỏi mới của cuộc sống khiến trẻ
không những tự lập mà còn phải thích ứng với nó. Trẻ cần có ý thức và trách
nhiệm với việc mình đang làm.
Ở trƣờng mầm non, hoạt động chủ yếu của các em là hoạt động vui chơi
thì giờ đây, khi sang trƣờng tiểu học, hoạt động học tập trở thành hoạt động
chủ đạo của các em. Ngoài việc học tập, học sinh sẽ tham gia vào một số hoạt
động lao động vừa sức nhƣ: quét dọn vệ sinh lớp học, sân trƣờng, tham gia
trồng cây, bắt sâu, nhổ cỏ,… Trẻ đƣợc tham gia vào các hoạt động của
trƣờng, của lớp mà trƣớc đây ở mầm non trẻ chƣa đƣợc biết tới.
Môi trƣờng sống của trẻ cũng đang đƣợc thay đổi. Trẻ không phải chỉ ở
nhà cũng với những ngƣời thân yêu trong gia đình mà còn đƣợc tiếp xúc với
thầy cô, bạn bè, các bậc cha mẹ học sinh, các đoàn thể. Trẻ 6 tuổi bƣớc vào
trƣờng tiểu học với một vốn liếng không nhỏ về thế giới xung quanh xong nó
chỉ dừng lại ở mức kinh nghiệm. Vì thế trẻ tò mò, muốn khám phá thế giới
xung quanh. Trẻ mạnh dạn, tự tin đi khám phá những điều mới lạ xung quanh

6


mình bằng những kiến thức khoa học. Tính tò mò, ham hiểu biết kích thích trẻ
ham học tập khiến trẻ ở lứa tuổi tiểu học đã có khả năng tập trung chú ý tƣơng
đối dài (khoảng 30-35p) vào đối tƣợng. Dƣới sự tổ chức, hƣớng dẫn của thầy
cô theo phƣơng pháp nhà trƣờng trẻ đƣợc trang bị kiến thức khoa học và
phẩm chất của một ngƣời công dân thực thụ trong tƣơng lai.
1.1.1.2. Đặc điểm về sự phát triển trí tuệ
Sự phát triển trí tuệ của trẻ lứa tuổi Tiểu học bao gồm nhận thức cảm
tính và nhận thức lí tính:
Nhận thức cảm tính: các cơ quan cảm giác đều phát triển và đang trong

điều kiện thuận lợi cho việc phát triển tƣởng tƣợng cho học sinh tiểu học.
Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất chiếm ƣu thế, nên ở học
sinh tiểu học, trí nhớ trực quan - hình tƣợng đƣợc phát triển hơn trí nhớ từ
ngữ-lôgic. Các em ghi nhớ tài liệu bằng trực quan tốt hơn bằng lời nói. Khi
ghi nhớ tài liệu bằng lời thì việc nhớ và tái hiện các từ gắn với các sự vật cụ
thể sẽ tốt hơn các từ có nội dung trừu tƣợng. Các em dễ ghi nhớ và nhớ lại tốt
hơn những câu chuyện, bài hát, câu ca dao tục ngữ hơn là các tài liệu học tập.
Ngoài ra tình cảm có ảnh hƣởng lớn đến độ bền vững và độ nhanh của sự ghi
nhớ. Dƣới ảnh hƣởng của hoạt động học tập, trí nhớ có chủ định, trí nhớ ý
nghĩa, trí nhớ từ ngữ - logic đƣợc xuất hiện, phát triển và cùng với trí nhớ
không chủ định, trí nhớ máy móc, trí nhớ trực quan - hình tƣợng, chúng giữ
vai trò quan trọng trong hoạt động học tập của học sinh.
Chú ý không chủ định đƣợc phát triển mạnh và chiếm ƣu thế ở học sinh
tiểu học. Tất cả những gì mới mẻ, bất ngờ, hấp dẫn, dễ dàng đều thu hút sự
chú ý của trẻ mà không cần bất kì một sự nỗ lực nào của ý chí. Sự chú ý ấy
càng trở nên đặc biệt tập trung và bền vững khi tài liệu học tập sinh động hoặc
khơi gợi ở trẻ những rung cảm tích cực. Ở đầu cấp Tiểu học, học sinh chỉ chú
ý đến những giờ học, tiết học mà có nhiều màu sắc, mới lạ, nhiều tranh ảnh.
Sự chú ý đó còn yếu, thiếu bền vững và không thể ổn định trong thời gian dài.
Đến cuối cấp Tiểu học, học sinh dần điểu chỉnh đƣợc sự chú ý của bản thân

8


vào các hoạt động học một cách có chủ định. Trong học tập không phải cái gì
cũng lí thú nên cũng cần có sự kết hợp giữa chú ý không chủ định và chú ý
chủ định để vừa giảm đƣợc sự căng thẳng cho học sinh vừa đem lại hiệu quả
thực hiện nhiệm vụ cao.
1.1.2. Đặc điểm về nhận thức, nhân cách và thẩm mĩ.
1.1.2.1. Đặc điểm nhận thức.

động nhận thức đƣợc hình thành và phát triển.
1.1.2.2. Đặc điểm nhân cách.
Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân, quy
định hành vi xã hội và giá trị của xã hội của cá nhân đó. Nhân cách cũng
chính là tƣ cách, phẩm chất đạo đức của một ngƣời. Nhân cách còn đƣợc hiểu
là toàn bộ những đặc điểm tâm lí, những thuộc tính tâm lý quy định cốt cách
làm ngƣời và giá trị xã hội của mỗi cá nhân.
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, nhân cách của trẻ vẫn mang tính chỉnh thể,
hồn nhiên. Trẻ rất thật thà, ngay thẳng và bộc lộ một cách vô tƣ, hồn nhiên
theo những gì mà trẻ nghĩ, trẻ thấy. Hơn thế, trẻ sống trong môi trƣờng học
đƣờng mới, vẫn còn có nhiều nhút nhát, rụt rè nên chƣa bộc lộ hết những
năng lực, tố chất tiềm ẩn về nhân cách. Tuy nhiên, một số tính cách tốt của trẻ
đã đƣợc bộc lộ ra ngoài nhƣ tính thật thà, dung cảm, tốt bụng,... Một số biểu
hiện về hành vi nhân cách của trẻ đƣợc biểu hiện ra ngoài chỉ mang tính chất
lâm thời nên cũng cần phải quan sát cẩn thận để có những điều chỉnh kịp thời.
Nhân cách của học sinh lứa tuổi Tiểu học vẫn mang tính tiềm ẩn. Những
năng lực, tố chất của các em vẫn chƣa đƣợc bộc lộ rõ rệt. Nhờ những tác động
thích ứng mà nhân cách có thể dần bộc lộ ra bên ngoài. Nếu đó là những biểu
hiện tốt thì chúng ta cần cổ vũ, khích lệ để trẻ tiếp tục phát huy. Nếu đó là
những hành vi, suy nghĩ chƣa đúng thì chúng ta có những biện pháp điều
chỉnh, ngăn chặn kịp thời.
Đặc biệt, nhân cách của trẻ ở lứa tuổi này phát triển chƣa hoàn thiện, nó

10


đang đƣợc dần hình thành, chau chuốt trong quá trình học tập, lao động. Việc
hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều. Muốn trẻ phát
triển toàn diện về mặt nhân cách cần kiên trì và có kế hoạch cụ thể theo sát
tiến trình phát triển của trẻ.

điều đó đƣợc thể hiện dƣới một hình thức khác, sinh động hơn, hấp dẫn hơn,
nhiều màu sắc hơn chắc chắn sẽ thu hút đƣợc sự chú ý của trẻ. Giáo dục thẩm
mĩ khơi dậy ở trẻ tính tích cực sáng tạo và sự tự giác sắc bén hơn. Học sinh sẽ
dễ dàng chú ý, ghi nhớ, tƣ duy để đƣa những hình ảnh mà các em quan sát
đƣợc vào bộ não của mình, góp phần phát triển năng lực nhận thức cho bản
thân. Từ đó trí tƣởng tƣợng của các em cũng trở nên phong phú hơn.
Giáo dục thẩm mĩ còn có liên quan đến giáo dục lao động và thể dục.
Toàn bộ vẻ đẹp của hoàn cảnh, của quá trình tổ chức hoạt động lao động giúp
cho trẻ tăng năng suất tham gia vào lao động để tạo ra sản phẩm tích cực. Trẻ
trở nên hứng thú và làm việc say mê hơn. Đồng thời, sức khỏe phát triển, thể
lực tốt có tác dụng thẩm mĩ đến sự phát triển chung về mặt tinh thần.
Nói tóm lại, giáo dục thẩm mĩ đóng góp một phần rất quan trọng vào
việc phát triển toàn diện cho học sinh Tiểu học.
1.2.Giới thiệu khái quát về ca dao tình yêu quê hƣơng đất nƣớc
1.2.1. Khái niệm về ca dao
Ca dao thƣờng là những bài thơ ngắn, những câu hát do nhân dân sáng
tác tập thể, đƣợc lƣu truyền và phổ biến rộng rãi trong nhân dân theo hình
thức truyền miệng. Ngoài sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất
của con ngƣời, ca dao còn phản ánh ý thức lao động, sản xuất của ngƣời dân
Việt Nam và tình hình xã hội thời xƣa về các mặt kinh tế và chính trị. Về khái
niệm ca dao, đã có rất nhiều cách lí giải khác nhau trong các công trình
nghiên cứu.ƣ
Trong cuốn Giáo trình Văn học dân gian của tác giả Nguyễn Bích Hà, ca
dao đƣợc hiểu là những câu thơ, câu hát trữ tình dân gian.

12


Trong Việt Nam văn học sử yếu, Dƣơng Quảng Hàm cho rằng: “Ca dao
(ca: hát; dao: bài hát không có chƣơng khúc) là những bài hát ngắn lƣu hành

thành những làn điệu dân ca.
1.2.2. Phân loại ca dao
Trong kho tàng văn học dân gian, ca dao là một thể loại có số lƣợng tác
phẩm rất lớn với nội dung phong phú và đa dạng. Chính vì vậy, việc phân loại
ca dao gặp rất nhiều khó khăn do có nhiều ý kiến khác nhau đƣợc đƣa ra.
Trong cuốn Giáo trình Văn học dân gian do Hoàng Tiến Tựu chủ biên,
ca dao đƣợc chia thành 6 loại:
- Ca dao lao động
- Ca dao ru con
- Ca dao nghi lễ, phong tục
- Ca dao trào phúng, bông đùa
- Ca dao trữ tình
- Đồng dao
Nhóm tác giả cuốn Văn học dân gian Việt Nam của Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội dựa vào chức năng sinh hoạt của ca dao chia chúng thành ba loại:
- Ca dao phong tục nghi lễ
- Những bài ca lao động
- Ca dao trữ tình sinh hoạt
Trong cuốn Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của tác giả Nguyễn
Bích Hà, dựa theo chức năng sinh hoạt, ca dao chia thành các loại:
- Những bài ca nghi lễ
- Những bài ca lao động
- Những bài hát cho trẻ
- Những bài ca sinh hoạt gia đình
- Những bài ca sinh hoạt xã hội, lịch sử
- Những bài ca giao duyên

14




yêu thích. Chẳng hạn nhƣ:
“Dƣa La, húng Láng, nem Bảng, tƣơng Bần
Nƣớc mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”
Bài ca dao giới thiệu tới tất cả mọi ngƣời những món ăn gần gũi, thân
thuộc, giản dị trong cuộc sống thƣờng nhật nhƣng trở thành đặc sản mà đâu
đâu trên cả nƣớc mọi ngƣời cũng muốn thƣởng thức nhƣ cá rô Đầm Sét, nƣớc
mắm làng Vạn Vân hay cả những món ăn bình dị, dân dã nhất nhƣ dƣa, rau
húng, nem, tƣơng bần cũng đƣợc nhân dân làng quê đó tự hào, yêu mến.
Mỗi ngƣời dân ở mỗi làng quê, họ rất tự hào về những đặc sản quê mình.
Họ gửi gắm tình yêu đó vào mỗi bài ca dao để lƣu truyền đến muôn đời và
cũng là để giới thiệu tới tất cả mọi ngƣời nét ẩm thực làng quê mình. Đó có
thể là bát cháo, bữa cơm hay cốc nƣớc chè xanh:
“Ra đi nhớ cháo làng Giề
Nhớ cơm Phố Mía, nhớ chè Đông Viên”.
Đặc biệt, đối với những ngƣời dân vùng nông thôn, quê hƣơng chiếm
một vị trí vô cùng quan trọng. Đối với trẻ em làng quê, niềm vui là đƣợc nô
đùa dƣới ánh trăng, nghe bố mẹ ngân nga những câu hát trữ tình về con
ngƣời, về đất nƣớc. Hạnh phúc là đƣợc sống nơi làng quê với những ngƣời
thân yêu trong gia đình. Quê hƣơng đi vào trong tiềm thức của mỗi ngƣời một
cách tự nhiên với biết bao kỉ niệm. Đó là vẻ đẹp yên bình của xóm làng:
“Làng tôi có lũy tre xanh,
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng
Bên bờ vải, nhãn hai hàng,
Dƣới sông cá lội từng đàn tung tăng”.
Làng quê gắn bó với lũy tre xanh, với dòng sông hiền hòa uốn lƣợn nhƣ
ngƣời mẹ đang ôm ấp, bảo vệ những đứa con của mình. Trên bờ những hàng
vải, hàng nhãn đƣợc trồng hai bên vừa đem lại bóng mát vừa đem đến quả

16

17


văn hóa về truyền thống yêu nƣớc đƣợc gửi gắm vào những câu ca dao. Yêu
cha mẹ, ông bà, lối sống nặng tình nặng nghĩa, đoàn kết với họ hàng, làng
xóm. Đặc trƣng nhất phải kể đến chính là các lễ hội đƣợc tổ chức trong năm.
Mùa xuân thƣờng là mùa rảnh rỗi nhất của ngƣời nông dân, họ tổ chức các lễ
hội về nông nghiệp (cầu mƣa, xuống đồng, cơm mới) và các lễ hội về nghề
nghiệp (đúc đồng, rèn, đua ghe). Ngoài ra còn tổ chức lễ hội kỉ niệm các anh
hùng dân tộc đã có công dựng nƣớc và giữ nƣớc. Không để những nét đẹp
văn hóa cổ truyền của dân tộc bị mất đi, ông cha ta đã đƣa chúng vào trong
những câu ca dao ngắn vừa để ca ngợi, thể hiện sự tự hào vừa để nhắc nhở
con cháu triết lí, đạo đức làm ngƣời:
“Dù ai đi ngƣợc về xuôi
Nhớ ngày giổ Tổ mùng mƣời tháng ba”
Câu ca dao nhắc nhở mỗi ngƣời báo đáp công ơn dựng nƣớc và giữ nƣớc
của các vua Hùng. Dù là ai, dù ngƣời đó đang ở đâu trên đất nƣớc Việt Nam
thì vào ngày mùng mƣời tháng ba hàng năm, những ngƣời con mang dòng
máu Lạc Hồng, những ngƣời con mang dòng máu rồng tiên, đều thu xếp công
việc của mình về với đất Tổ Phong Châu Phú Thọ để dâng hƣơng, tỏ lòng
thành kính, biết ơn tới các vị vua Hùng. Bài ca dao ngoài việc nhắc nhở ngày
giỗ tổ Hùng Vƣơng còn muốn giáo dục tới học sinh nét đẹp văn hóa của
ngƣời dân Việt Nam với truyền thống “Uống nƣớc nhớ nguồn”, lòng biết ơn
sâu sắc tới các vị vua Hùng đã có công khai phá và đấu tranh kiên cƣờng bảo
vệ non sông để ngày hôm nay chúng ta đƣợc sống trong hòa bình, ấm no.
Cũng chính vì lẽ đó mà có rất nhiều danh lam thắng cảnh đất nƣớc, đặc
sản vùng miền và những lễ hội đƣợc ghi lại trong những ca dao về tình yêu
quê hƣơng đất nƣớc.
1.2.3.2. Vài nét về nghệ thuật
Ca dao về tình yêu quê hƣơng đất nƣớc thƣờng là những bài hát ngắn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status