NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ, THEO DÕI, ĐIỀU TRỊ CÓ KIỂM SOÁT NGOẠI TRÚ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI VÀ MỘT SỐ BỆNH VIỆN KHÁC - Pdf 51

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch ở
các nước phát triển và ngày càng tăng ở các nước đang phát triển như nước
ta. THA đang trở thành một vấn đề sức khoẻ trên toàn cầu do sự gia tăng về
tuổi thọ và tăng tần suất mắc bệnh. THA là bệnh nguy hiểm bởi các biến
chứng của nó nếu không gây chết người thì cũng thường để lại những di
chứng nặng nề (ví dụ: tai biến mạch máu não, suy tim..) ảnh hưởng đến chất
lượng cuộc sống và là gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Theo tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ THA năm 2000 khoảng 26,4 %, dự
tính đến năm 2025 sẽ là 29,2 % tức khoảng 1,56 tỷ người b ị THA. Ở Việt
Nam, tần suất THA ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển. Theo các
số liệu điều tra cho thấy năm 1960 tỷ lệ THA mới chỉ là 1% dân số, năm
1992 tăng lên 11,79% dân số nhưng đến năm 2002 tỷ lệ THA đã là 23,2%
khu vực Hà Nội, TPHCM 20,5% (2004). Theo điều tra của GS Phạm Gia
Khải ở miền bắc Việt nam, năm 1999 thấy rằng tỷ lệ THA là 16,05 %, năm
2008 là 25,1 %, tỷ lệ được điều trị là 19,1%; tỷ lệ huyết áp được kiểm soát mới
chỉ khoảng 2,2 %.
Theo số liệu điều tra của NHANES – 2000, tại Mỹ tỷ lệ bệnh nhân tăng
huyết áp trong khoảng 24 % - 27,4%, nhưng tỷ lệ bệnh nhân THA được điều
trị mới chỉ đạt 59%, huyết áp được kiểm soát là 34%, các nước châu Âu tỷ lệ
huyết áp được kiểm soát cũng chỉ chiếm 8%, Trung Quốc là một đất nước đang
phát triển, có tỷ lệ bệnh nhân THA được điều trị mới chỉ 28.8 %, huyết áp
được kiểm soát là 8.1%. Với khoảng 20% người lớn trên thế giới bị tăng
huyết áp và được ước tính đã gây ra tử vong 6% trong tổng số nguyên nhân
tử vong trên toàn thế giới. Trong vòng khoảng 30 năm qua, việc điều trị
bệnh tăng huyết áp đã có nhiều tiến bộ, góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong do
đột quỵ và bệnh mạch vành. Hiện nay, tử vong do bệnh tim mạch đã chiếm
1/3 tử vong trên thế giới, THA ước tính là nguyên nhân gây tử vong cho 7
triệu người trẻ tuổi và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu. Để
1


- Bệnh nhân không đồng ý hoặc khó khăn khi tham gia .
2. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
2.1. Phương pháp quản lý:
Mô hình quản lý, điều trị ngoại trú bệnh nhân THA được xây dựng trên cơ sở
khuyến cáo của Hội Tim mạch Quốc gia Việt Nam áp dụng cho phù hợp với
điều kiện của Việt Nam.
2.1.1. Phương tiện quản lý:
- Hồ sơ quản lý: mỗi bệnh nhân có một bộ hồ sơ sau
+ Bệnh án: (Bệnh án 1 do bệnh viện quản lý) bao gồm:
Thủ tục hành chính, lý do khám chữa bệnh, tiền sử, bệnh sử, các yếu tố nguy
cơ tim mạch, các xét nghiệm, chẩn đoán bệnh, các thuốc sử dụng.
Theo dõi diễn biến của bệnh ở các lần khám bệnh, số lần nhập viện trong quá
trình điều trị.
+ Sổ theo dõi tại nhà (do bệnh nhân quản lý) gồm:
Thủ tục hành chính, lý do khám chữa bệnh, tiền sử, bệnh sử, các yếu tố nguy
cơ tim mạch, các xét nghiệm, chẩn đoán bệnh, các thuốc sử dụng.
Theo dõi những diễn biến của bệnh do người bệnh tự ghi chép lại và có nhận
xét của BS mỗi lần khám bệnh.
+ Sổ hẹn khám bệnh: để quản lý bệnh nhân, theo dõi việc tái khám của bệnh
nhân. Nhắc nhở những bệnh nhân quá hẹn đến khám lại bằng điện thoại hoặc
thư mời.
+ Giấy cam kết tham gia quản lý, điều trị theo mô hình:
Tái khám đúng hẹn và tuân thủ điều trị và không bỏ khám ...

3


- Đội ngũ nhân viên:
+ Hàng ngày có ít nhất 1 bác sỹ khám bệnh, tư vấn và điều trị cho bệnh
nhân.

Bệnh nhân sau khi được hỏi bệnh (tiền sử, bệnh sử, các thói quen, yếu
tố nguy cơ tim mạch...), khám bệnh và làm các xét nghiệm, chẩn đoán bệnh,
làm hồ sơ, bệnh án và cho hướng điều trị. Bệnh nhân sẽ được xếp loại yếu tố
nguy cơ tim mạch để quản lý, theo dõi và điều trị. Xếp loại yếu tố nguy cơ tim
mạch (theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Quốc gia Việt Nam 2010):
- Nguy cơ nhóm A và B:
+ Bệnh nhân được tái khám sau 2 – 4 tuần khởi đầu điều trị, khi huyết áp
được kiểm soát, hẹn tái khám từ 1 đến 3 tháng.
+ Huyết áp mục tiêu cần đạt < 140/90 mmHg.
+ Điều trị và kiểm soát các yếu tố nguy cơ đi kèm.
- Nguy cơ nhóm C:
+ Bệnh nhân được tái khám sau 1-2 tuần khởi đầu điều trị. Nếu bệnh nhân
có biến chứng nặng như NMCT cấp, TBMN nặng, cơn đau thắt ngực không ổn
định, suy tim độ III và IV: cho nhập viện điều trị, sau khi ổn định bệnh nhân lại
được tái khám sau 1-2 tuần hoặc hàng tháng tuỳ từng bệnh nhân.
+ Huyết áp mục tiêu cần đạt < 130/80 mmHg. Nếu có suy thận với Protein
niệu > 1g/ 24 giờ thì huyết áp mục tiêu < 125/75 mmHg
+ Điều trị và kiểm soát các yếu tố nguy cơ đi kèm.
+ Điều trị các biến cố và tổn thương cơ quan đích đi kèm.
- Theo dõi diễn biến của bệnh, trị số huyết áp: qua các lần khám bệnh được
nhân viên y tế hỏi, khám bệnh và làm các xét nghiệm để theo dõi diễn biến của
bệnh, trị số huyết áp để hướng dẫn và điều chỉnh thuốc cho phù hợp; ghi lại
toàn bộ những thông tin của những lần khám đó vào sổ theo dõi HA tại nhà và
bệnh án tại bệnh viện.
- Theo dõi việc tuân thủ điều trị: bệnh nhân có khám đúng hẹn không (nếu
bệnh nhân không tái khám đúng hẹn phải có biện pháp nhắc nhở như gọi điện
hoặc gửi thư mời). Có thực hiện đúng y lệnh không (bằng việc kiểm tra vỉ hoặc
5



hoặc cho vào điều trị nội trú thông qua kết quả thăm khám của bác sỹ, các
thông số xét nghiệm, qua thông tin từ việc tự theo dõi của bệnh nhân.
2.3. Đánh giá kết quả quản lý và điều trị
2.3.1. Đánh giá kết quả quản lý
Chúng tôi đánh giá kết quả quản lý và hiệu quả điều trị dựa vào những
tiêu chí sau:
- Đánh giá kết quả quản lý tốt:
Bệnh nhân tái khám đúng hẹn, không cần phải có biện pháp nhắc nhở
(gọi điện hoặc gửi thư) và thực hiện đúng y lệnh của bác sỹ.
- Đánh giá kết quả quản lý chưa tốt:
Bệnh nhân tái khám không đúng hẹn, vẫn có biện pháp nhắc nhở (gọi
điện hoặc gửi thư) bệnh nhân mới tái khám.
- Đánh giá kết quả quản lý thất bại:
Bệnh nhân không tái khám, không liên hệ được với bệnh nhân, bệnh
nhân bỏ điều trị hoặc điều trị không đều.
2.3.2. Đánh giá kết quả điều trị
- Đánh giá hiệu quả điều trị tốt:
+ Đạt HA mục tiêu ≤ 140/90 mmHg đối với bệnh nhân thuộc nguy cơ nhóm
A và B, ≤ 130/80 mmHg đối với bệnh nhân thuộc nguy cơ nhóm C.
+ Thay đổi nhận thức về bệnh THA và các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm.
+ Giảm được tỷ lệ biến cố tim mạch.
- Đánh giá hiệu quả điều trị chưa tốt:
+ Không đạt huyết áp mục tiêu.
+ Không giảm được tỷ lệ biến cố tim mạch.

7


3. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Bệnh viện


Có 54.500 bệnh nhân THA được quản lý, theo dõi và điều trị tại 12 bệnh
viện Đa Khoa và 10 bệnh viện Huyện kết quả cho thấy:

3.1. Đặc điểm chung của các đối tượng THA
Thực hiện quản lý và điều trị 54.500 bệnh nhân THA tại Bệnh viện Bạch
Mai và 21 bệnh viện các tỉnh và huyện phía Bắc kết quả cho thấy:
3.1.1. Đặc điểm tuổi, giới và nghề nghiệp
Bảng 3.1. Phân bố tỷ lệ tuổi, giới
8


Thông số
n
tỷ lệ %
Tuổi trung bình
Tuổi cao nhất
Tuổi thấp nhất
Nhận xét:

Nam

Nữ

Tổng số

22.073
40,5

32.427

8,6

- Số bệnh nhân THA mức độ II là 43,2 % và độ III chiếm 33,5 %.
- Chỉ có 14,7 % số bệnh nhân THA mức độ I.
- Tỷ lệ THA tâm thu đơn độc chiếm ít nhất 8,6 %.
Bảng 3.3. Thời gian phát hiện bệnh
Thời gian
Mới phát hiện
Từ 1-5 năm
> 5 năm
Nhận xét:

n= 54.500
8.338
23.545
22.617

Tỷ lệ %
15,3
43,2
41,5

- Số bệnh nhân có thời gian phát hiện bệnh THA từ trên 1năm chiếm chủ yếu
(1-5 năm 43,2 % và > 5 năm là 41,5 %).
- Tỷ lệ bệnh nhân mới phát hiện chiếm khá cao 15,3 %.
9


3.1.3. Yếu tố nguy cơ tim mạch và tổn thương cơ quan đích
Bảng 3.4. Các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm


10.682
12.807

19,6
23,5

Trong số 54.500 bệnh nhân THA được quản lý và điều trị cho thấy tỷ lệ bệnh
nhân THA kèm rối loạn chuyển hoá lipid chiếm 29,2 %, bị tiểu đường 11,2 %,
thừa cân và béo phì 7,9 %, tổn thương thận 7,7 %, tăng acide uric máu 5,7 %,
bệnh nhân đã bị TBMN (xuất huyết não và nhũn não) 5,1 %, có bệnh mạch
vành (đã hoặc chưa can thiệp) chiếm 9,8 %, hút thuốc 23,5 % và uống nhiều
rượu, bia 19,6 %. .
3.2. Kết quả quản lý và hiệu qủa điều trị tại các bệnh viện
Bảng 3.5. Kết quả quản lý tốt
Bệnh viện
BV Bạch Mai
Bắc Giang
Lạng Sơn
Điện Biên
Yên Bái
Hà Giang
Phú Thọ
Hoà Bình

n
(4.344/5.350)
(18.200/22.067)
(527/571)
(1.260/1.260)

97,0
79,7
97,8
87,1
85,1 %

Bảng 3.5, kết quả cho thấy tỷ lệ quản lý tốt đạt 100% (BV Điện Biên), thấp
nhất là 79,7 % (BVĐK Nam Định), tỷ lệ quản lý tốt cả nghiên cứu là 85,1 %.

Bảng 3.6. Kết quả quản lý chưa tốt
Bệnh viện
BV Bạch Mai
Bắc Giang
Lạng Sơn
Điện Biên
Yên Bái
Hà Giang
Phú Thọ
Hoà Bình
Hà Nam
Nam Định
Viện Lão Khoa QG
Thanh Nhàn
Cả nghiên cứu
Nhận xét:

n
(1.006/5.350)
(3.867/22.067)
(44/571)



Bảng 3.7. Nguyên nhân quản lý chưa tốt cả nghiên cứu
Nguyên nhân
Chưa nhận thức được
Điều trị nơi khác
Điều kiện khó khăn
Lý do khách quan khác
Cả nghiên cứu

n=8.120
(4.831/8.120)
(1.390/8.120)
(1.112/8.120)
(787/8.120)
8.120

Tỷ lệ %
59,5
17,1
13,7
9,7
100 %

Lý do khách quan khác: thủ tục chuyển viện chưa thuận lợi, mô hình quản lý còn nhiều thủ tục, đi
lại khó khăn..

Nhận xét:
Trong cả nghiên cứu có 14,9 % (8.120/54.500) bệnh nhân chưa quản lý được
tốt trong đó có tới 59,5 % là do chưa nhận thức được về bệnh tăng huyết áp,

(15.100/16.412)
(483/750)
120 bệnh nhân
(1.114/1.487)
(1.170/3.025)
(823/1.245)
(950/1.900)
36.406/54.500

Tỷ lệ %
78,7
74,5
52,3
59,2
66,7
92,0
64,4
Không rõ
74,9
38,7
66,1
50,0
66,8 %

Nhận xét:
Bảng 3.8, kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân THA điều trị đạt huyết áp mục tiêu
ở nhóm quản lý tốt đạt 66,8 %. Cao nhất là 92,0 % (theo BVĐK tỉnh Hà
Giang), thấp nhất là 38,7 % (BVĐK Nam Định).Vẫn còn 33,2%
(18.094/54.500) số bệnh nhân THA chưa đạt huyết áp mục tiêu.


9,1
6,1
6,2

Nhận xét:
Trong số 18.094 bệnh nhân (33,2 %) chưa đạt HAMT cho thấy, bệnh nhân
THA thường phối hợp các bệnh khác, kèm các yếu tố nguy cơ hoặc có tổn
thương cơ quan đích:
- 22,3 % số bệnh nhân THA chưa tuân thủ điều trị
- 17,6 % số bệnh nhân có THA kháng trị
- 17,3 % có ĐTĐ, 11,3 % có hội chứng chuyển hoá và 9,1 % có thừa cân,
béo phì.
- 9,9 % có biến chứng thận (tăng creatinin, protein niệu).
- Số bệnh nhân có các bệnh khác phối hợp chiếm tới 6,2 %.

Bảng 3.10. Những biến cố chính phải nhập viện trong quá trình điều trị
Bệnh viện

n
14

Tỷ lệ %


BV Bạch Mai
Bắc Giang
Lạng Sơn
Điện Biên
Yên Bái
Hà Giang

4,4
Không rõ
3,3
12,6
16,7
9,7
4,8 %

Biến cố chính: bệnh mạch vành và TBMN

Nhận xét:
Bảng 3.8, kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân THA xuất hiện những biến chứng
của bệnh như TBMN, NMCT, cơn đau thắt ngực phải nhập viện điều trị trung
bình là 4,8 % (2.643/54.500); đơn vị xuất hiện biến chứng cao nhất là 16,7 %,
thấp nhất là 2,3 %.

3.3. Đặc điểm các yếu tố nguy cơ,các biến chứng tim mạch của bệnh
bệnh nhân THA tại các đơn vị nghiên cứu
Bảng 3.11. Kết qủa Bệnh viện Đ.Khoa tỉnh Bắc Giang.(Ths.Từ Quốc Hiệu)

15


Biến chứng và các yếu tố nguy cơ
Hút thuốc lá hoặc thuốc lào
Uống nhiều rượu, bia
Đái tháo đường
Rối loạn lipid máu
Tăng acid uric, gut
TBMN

Tỷ lệ %
18,5
20,1
19,2
20,7

Bảng 3.11. Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Hà Giang . (Ths. Hoàng Duy Hoà)
Biến chứng và các yếu tố nguy cơ
Tai biến mạch não
Bệnh mạch vành (đã can thiệp hoặc chưa)
Suy tim ( theo NYHA)
Biến chứng thận (có protein niệu hoặc tăng
creatinin máu)
Đái tháo đường
Rối loạn lipid máu
16

n=16.412
209
754
147
1.706

Tỷ lệ %
1.3
4,6
0,9
10.4

428


n= 5.350
3.857
1.262
877
797
733
611
1.209

Tỷ lệ %
72,1
23,6
16,4
14,9
13,7
11,4
22,6

647
497

12,1
9,3

Bảng 3.13. Bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội – (Ths.Phạm Tuyết Trinh)
Biến chứng và các yếu tố nguy cơ
Tai biến mạch não
Bệnh mạch vành(đã can thiệp hoặc chưa)
Suy tim(theo NYHA)

21,3

Bảng 3.14. Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Nam Định – (Nguyễn Tấn Phong)
Biến chứng và các yếu tố nguy cơ

n=3.025
17

Tỷ lệ%


Tai biến mạch não
Bệnh mạch vành (đã can thiệp hoặc chưa)
Suy tim ( Theo NYHA )
Biến chứng thận ( có protein niệu hoặc tăng
creatinin máu)
Đái tháo đường
Rối loạn lipid máu
Thừa cân, béo phì
Hút thuốc
Uống nhiều rượu, bia

60
321
240
82

1,6
8,4
6,3

10
5

Tỷ lệ %
2,2
0,5
0,7
0,3

87
186
267
256
162

5,9
12,5
17,9
17,2
10,9

Bảng 3.16. Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Điện Biên – (Lê Văn Thanh)
Biến chứng và các yếu tố nguy cơ
Tai biến mạch não
Bệnh mạch vành(đã can thiệp hoặc chưa)
Suy tim(theo NYHA)
Biến chứng thận(có protein niệu hoặc tăng
creatinin)
Đái tháo đường
Rối loạn lipid máu


17,3

Bảng 3.17. Bệnh viện Lão Khoa Quốc Gia – (Ths. Nguyễn Trung Anh)
Biến chứng và các yếu tố nguy cơ
Tai biến mạch não
Bệnh mạch vành(đã can thiệp hoặc chưa)
Suy tim(theo NYHA)
Biến chứng thận(có protein niệu hoặc tăng
creatinin)
Đái tháo đường
Rối loạn lipid máu
Thừa cân béo phì
Hút thuốc
Uống nhiều rượu bia

n=1.245
12
245
38
300

Tỷ lệ%
0,9
19,6
3,0
24,1

570
643

0.25
4,6
3,7
17.4

4
13
60
52
86

2,0
25,5
19,1
16,6
27,4

Bảng 3.19. So sánh đặc điểm bệnh nhân THA kèm YTNC giữa các bệnh
viện
BC và
YTNC

BM
(%)

BG
(%)

HG
(%)


TN
(%)
12,1


19,6

4,6

11,0

0,5

8,4

16,4

ST

3,0

3,7

5,0

0,7

6,3


16,4

3,7

1.3

45,7

2,0

1,7

5,9

1,0

9,7

10.4

51,6

25,5

11,2

12,5

41,5



25,5

19,5

16,6

14,6

17,2

17,9

17,1

Uống
rượu

12,1

12,3

17,7

2,4

27,4

17,3


Bảng 3.19, kết quả cho thấy đặc điểm các yếu tố nguy cơ và các biến chứng
tim mạch của bệnh nhân THA của BVBM, BVLK nhiều hơn các đơn vị khác,
Tuy nhiên các thói quen trong sinh hoạt như hút thuốc và uống nhiều rươụ tại
các đơn vị tuyến tỉnh lại cao hơn.

4. Bàn luận
4.1. THA, bệnh phối hợp và các yếu tố nguy cơ

20


Bảng 3.4 cho thấy trong số trong số 54.500 bệnh nhân THA được quản
lý và điều trị cho thấy tỷ lệ bệnh nhân THA kèm rối loạn chuyển hoá lipid
chiếm 29,2 %, bị tiểu đường 11,2 %, thừa cân và béo phì 7,9 %, tổn thương
thận 7,7 %, tăng acide uric máu 5,7 %, bệnh nhân đã bị TBMN (xuất huyết não
và nhũn não) 5,1 %, có bệnh mạch vành (đã hoặc chưa can thiệp) chiếm 9,8 %.
Tuy nhiên, đặc điểm bệnh nhân THA được quản lý, điều trị tại Bệnh
viện Bạch Mai và BV Lão Khoa cho thấy có nhiều yếu tố nguy cơ và biến
chứng của bệnh nhiều hơn các bệnh viện tuyến dưới như rối loạn chuyển hoá
lipid máu chiếm 72,1 %, ĐTĐ 16,4 % (BV Lão Khoa tỷ lệ này là 45,7 %), tổn
thương thận 22,6% (BV Lão Khoa tỷ lệ này là 24,1 %); đặc biệt có 11,4% bệnh
nhân bị TBMN (xuất huyết não và nhũn não) và 23,6 % có bệnh mạch vành
(đã hoặc chưa can thiệp). Điều đó nói lên đặc điểm bệnh nhân THA ở tuyến
trên (BVBM) có nhiều yếu tố nguy cơ, bệnh nhân đã có nhiều biến chứng và
tổn thương cơ quan đích nhiều hơn. Nhưng ngược lại các yếu tố về thói quen
trong sinh hoạt như hút thuốc và uống rượu, bia lại thấp hơn đặc điểm bệnh
nhân THA ở tuyến dưói (từ bảng 3.11 đến 3.19).
Theo Nguyễn Thị Dung (1998), nghiên cứu trên 1.160 bệnh nhân THA
tháy rằng tỷ lệ rối loạn lipid máu chiếm 75,76% trong đó (tăng Cholesterol
toàn phần 45,02 %, tăng LDL 14,64%, tăng Triglyxerit 36,52% và giảm HDL

(8.120/54.500) bệnh nhân chưa quản lý được tốt, có tới 59,5 % là do chưa nhận
thức được về bệnh tăng huyết áp, tưởng bệnh đã khỏi chiếm ..., điều trị nơi
khác chiếm 17,1 %, điều kiện khó khăn 13,7 % và đặc biệt những lý do khách
quan khác (thủ tục chuyển viện chưa thuận lợi, mô hình quản lý còn nhiều thủ
tục, đi lại khó khăn...) chiếm 9,7 %.
Kết quả quản lý của chúng tôi cũng tương tự kết quả của dự án Phòng,
chống tăng huyết áp (THA) quốc gia triển khai trong giai đoạn năm 2009-2010
cho thấy, dự án đã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền trong cộng đồng, trên
các phương tiện thông tin đại chúng, nói chuyện chuyên đề, phát tờ rơi hướng
dẫn cách phòng, chống bệnh THA, mở 18 lớp tập huấn cho 1.450 lượt cán bộ y
tế tuyến dưới để nâng cao năng lực khám, chẩn đoán và điều trị bệnh THA. Dự

22


án đã phối hợp với Cục Quản lý khám chữa bệnh soạn thảo ban hành: phác đồ
điều trị và quản lý THA, hướng dẫn khám sàng lọc và phát hiện sớm bệnh
THA nhằm trang bị những kiến thức thiết yếu trong khám, chẩn đoán và điều
trị các trường hợp THA cho cán bộ y tế các địa phương. Dự án hiện đã quản lý
được 56.879 người, chiếm gần 80% số người bị THA trong số đối tượng điều
tra (điều tra của Viện Tim mạch - 2008, tỷ lệ THA chiếm 25,1%).
Trong số 85,1 % bệnh nhân quản lý tốt thì có 66,8 % số bệnh nhân đạt
được huyết áp mục tiêu, vẫn còn 33,2 % (18.094/54.500) số bệnh nhân THA
chưa đạt huyết áp mục tiêu. Vì đa số bệnh nhân không chỉ có THA đơn thuần
mà thường có kèm một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ và bệnh phối hợp cùng một
lúc như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, biến chứng thận và đặc biệt là
những bệnh nhân này thường kém tuân thủ điều trị như ngừng thuốc một vài
ngày sau đó mới tái khám, bệnh nhân tái khám không đúng hẹn, điều trị không
đều... như 22,3 % số bệnh nhân THA chưa tuân thủ điều trị, 17,6 % số bệnh
nhân có THA kháng trị, 17,3 % có ĐTĐ, 11,3 % kèm hội chứng chuyển hoá,

nhập viện trong suốt quá trình điều trị chỉ chiếm 8,6 % ( bệnh viện Bạch Mai là
6,5 %), chủ yếu là bệnh nhân THA xuất hiện những biến cố của bệnh như
TBMN, NMCT, cơn đau thắt ngực (bảng 3.10).
Ở các nước phát triển, trình độ dân trí cao hơn. Như ở Hoa Kỳ, người
dân biết bệnh THA thông qua kiểm tra sức khỏe định kỳ, các kênh thông tin
như truyền hình giáo dục sức khỏe, đài, báo chí, mạng internet …do đó tỷ lệ
biết bệnh THA của người dân Hoa Kỳ chiếm tới 75,7 % (NHANES 2004). số
người Mỹ được điều trị tăng từ 31% lên 75%, số người được điều trị đạt huyết
áp mục tiêu (dưới 140/90 mmHg) tăng từ 10% lên 34 %. Năm 2004 ở năm
nước Châu Âu và Bắc Mỹ cho thấy có 29% số bệnh nhân tăng huyết áp được
kiểm soát tốt, trong đó Canada là 17%, ở Anh đạt 16 %. Kiểm soát huyết áp là
yếu tố rất quan trọng nhất trong điều trị THA. Do vậy khi huyết áp chưa đạt
mục tiêu và kiểm soát được thì vẫn là yếu tố nguy cơ cao dẫn đến các biến
chứng của bệnh là rất lớn.

24


Ở nước ta, do thói quen và quan niệm của người dân chỉ đi khám bệnh
khi thấy trong người khó chịu, khi đã bị biến chứng của bệnh. Trong khi đó
bệnh THA là bệnh mạn tính, diễn biến thầm lặng, ít triệu chứng lâm sàng, nên
số ít người bị THA đi khám bệnh vì thấy người khó chịu, nhiều bệnh nhân khi
bị các tai biến của bệnh mới biết bị bệnh THA
Như vậy, bệnh THA nếu được phát hiện sớm, được quản lý chặt chẽ,
điều trị có kiểm soát kết hợp với việc giáo dục sức khỏe thường xuyên đối với
bệnh nhân THA nói riêng và cộng đồng nói chung. Người dân cần hiểu, biết rõ
về bệnh THA thì mới biết cách phòng bệnh, biết cách thay đổi lối sống tích cực
có lợi cho bệnh THA cũng như việc phát hiện bệnh và tuân thủ điều trị tốt hơn.
Việc kiểm soát huyết áp tốt sẽ hạn chế được các biến chứng của bệnh gây ra,
giảm tỷ lệ nhập viện đồng nghĩa với giảm chi phí cho bệnh nhân, gia đình và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status