BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
XÁC ĐỊNH THỜI GIAN THU HOẠCH SÂU CHẾT ĐỂ
THU NHẬN VIRUS NPV TRÊN SÂU KHOANG ĂN TẠP
SPODOPTERA LITURA
Ngành:
CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Giảng viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN THỊ HAI
Sinh viên thực hiện
Lớp: 11HSH02
: NGUYỄN THỊ DIỄM CHI
MSSV: 1191111006
TP. Hồ Chí Minh, 2013
Đồ án tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên rất thuận
tiện cho cây trồng phát triển. Đồng thời với cây trồng phát triển là sâu bệnh hại
cũng phát sinh, chúng gây hại đáng kể đến năng suất. Theo thống kê của Cục Bảo
nguyên nhân làm cho sâu hại tái phát, mật độ sâu sau khi xử lý thuốc cao hơn trước
khi xử lý (Mariechel, J. Navarro, (1985). Tình hình sâu xanh tái phát cũng đã phát
hiện ở trung quốc: Theo tổng kết của Sheng, C.F (1993), sau một năm sử dụng
thuốc học đơn độc để trừ sâu, mật độ sâu xanh năm 1992 mật độ sâu xanh lên cao
hơn 40 lần so với năm 1982. Ở Việt Nam, Nguyễn Thơ (1993), cũng có nhận xét
nếu phun thuốc không đúng quy định sẽ tiêu diệt ong mắt đỏ cũng như các loài
thiên địch khác ngoài tự nhiên và lập tức sâu xanh bùng phát thành dịch. Một tác hại
lớn của thuốc hoá học trừ sâu hiện nay mà toàn thế giới đang quan tâm đó là: việc
sử dụng thuốc hoá học liên tục đã làm tăng sự sự chọn lọc gen của quần thể sâu hại
và làm cho sâu ngày càng chịu đựng với thuốc. Tính đến năm 1986 cả thế giới đã có
447 loài sâu kháng thuốc, trong đó có 264 loài phá hoại trong nông nghiệp (Nguyễn
Thiện Thuật, 1996).
Ở Việt Nam, Sâu tơ hại bắp cải (Plutella xylostella St.) đã kháng hầu hết các
loài thuốc trừ sâu thông dụng (Lê Trường,1981).
Tồn dư của thuốc hoá học trừ sâu đã gây ô nhiễm lớn cho nguồn nước, nhiễm
độc cho thức ăn. Frisbie, R. et al (1991) cho biết sự phun thuốc hoá học trừ sâu ở
Mỹ đã làm nhiễm độc nặng cho nguồn nước và thức ăn. Ở Việt Nam, Bùi Sĩ Oanh
và ctv (1995) đã cho biết dư lượng thuốc Cypermerthin trên các loài đậu đỗ đã lên
tới 0,4 -0,7 mg/kg, vượt xa so với mức tồn dư cho phép.
Do vậy, việc sử dụng thuốc hóa học chỉ là biện pháp tình thế.
Đứng trước thực trạng đó thì biện pháp sinh học là một giải pháp được đánh
giá là có hiệu quả cao, vì nó không những không gây hại cho người, an toàn cho gia
súc, không ảnh hưởng đến các loài sinh vật có ích mà còn góp phần cải thiện môi
trường,… Trong số này, đáng kể nhất là virus đa diện nhân (NPV). Virus đa diện
nhân Nucleopolyhedrovirus (NPV) là một tác nhân gây bệnh rất phổ biến trên sâu
ăn tạp, được công nhận là một tiềm năng cho việc quản lý côn trùng, có hiệu quả
tiêu diệt cao do tính chất lây lan virus NPV trong quần thể sâu, đồng thời virus sẽ
Trang 2
thu nhận sâu chết để thu nhận NPV trên sâu khoang ăn tạp Spodoptera litura thích
Trang 3
Đồ án tốt nghiệp
hợp trong quy trình sản xuất sinh khối lớn NPV nhằm cung cấp cho quá trình sản
xuất chế phẩm NPV trên quy mô lớn.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Nuclear polyhedrosis virus – NPVgây chết sâu khoang thu được từ tự nhiên và
nhân lên trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Nguồn sâu khoang ăn tạp Spodoptera litura dùng để nhân nhiễm virus NPV
được bắt từ tự nhiên đem về nhân nuôi để thu được F1.
Địa điểm
Các thí nghiệm được tiến hành nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Khoa môi
trường và công nghệ sinh học, trường đại học Kỹ thuật Công nghệ thành phố Hồ
Chí Minh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nhân nhiễm virus NPV trên bề mặt thức ăn nhân tạo của
McKInley (1985)
Số liệu thí nghiệm được đưa vào xử lý thống kê, bằng chương trình Microsoft
Excel, Statgraphic centurion.
Trang 4
Đồ án tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
trụi cành hoa, chui và đục khoét trong quả, nụ hoa.
Khi SAT phát sinh thành dịch, chúng gây thiệt hại khá nặng cho cây trồng.
Đối với rau ăn lá thì bị giảm sản lượng và giá trị thương phẩm, đối với cây lấy quả
như cà chua, đậu đũa thì hoa nụ sẽ bị rụng và quả bị hại cũng sẽ rụng sớm hoặc trở
nên thối khi gặp trời mưa.
Hình 1.2: Hoa màu bị phá hủy bởi sâu khoang
1.1.4. Đặc điểm hình thái và sinh thái
Sâu khoang có nhiều loại, bướm trưởng thành có chiều dài thân từ 20 - 25
mm, sải cánh rộng từ 35 - 45 mm, cánh trước màu nâu vàng. Phần giữa từ mép
trước cánh tới mép sau cánh có một vân ngang rộng màu trắng. Trong đường vân
này có 2 đường vân màu nâu (ở con đực không rõ). Cánh sau màu trắng loáng phản
quang màu tím. Bướm có đời sống trung bình từ 1 - 2 tuần tuỳ thuộc vào điều kiện
thức ăn. Trung bình một bướm cái có thể đẻ 300 trứng, nhưng khi gặp điều kiện
thích hợp bướm có thể đẻ từ 900 - 2.000 trứng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen,
2004). Theo Phạm Thị Nhất (2000) ở điều kiện Việt Nam thì tổng số trứng trung
bình của sâu ăn tạp là 1000 trứng/ổ. Thời gian đẻ trứng trung bình kéo dài từ 5 - 7
ngày nhưng cũng có khi lên đến 10 hoặc 12 ngày.
Trang 6
Đồ án tốt nghiệp
Hình 1.3: Trứng sâu khoang
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) trứng hình bán cầu, đường kính 0,5 mm. Bề
mặt trứng có những đường khía dọc từ đỉnh trứng xuống đáy trứng (36 - 39 đường)
và bị cắt ngang bởi những đường khía ngang tạo thành những ô nhỏ. Trứng mới đẻ
có màu trắng vàng, sau chuyển thành màu vàng tro, lúc sắp nở có màu tro đậm.
Trứng xếp với nhau thành từng ổ có lông từ bụng bướm mẹ phủ bên ngoài. Thời
cũng như tỷ lệ trứng nở. Ẩm độ thích hợp cho sự sinh trưởng của ấu trùng sâu ăn
tạp dao động từ 85% - 100%.
Hình 1.5 Thành trùng, trứng và ấu trùng sâu ăn tạp trong đất (Nguồn: Trần Văn
Hai, ĐHCT
Trang 8
Đồ án tốt nghiệp
Hình 1.6: Sơ đồ vòng đời của sâu khoang
1.1.5. Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại
Theo Lê Thị Sen (1999) bướm thường vũ hoá vào buổi chiều và bay ra ngoài
hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày bướm đậu ở mặt sau lá hoặc trong các bụi cỏ.
Thời gian hoạt động từ tối đến nửa đêm. Bướm bay rất khoẻ, có khi bay xa đến vài
chục mét và có thể cao đến 6 - 7 m. Sau khi bắt cặp vài giờ bướm có thể bắt cặp và
1 ngày sau là có thể đẻ trứng.
Bướm có xu tính mạnh với mùi vị chua ngọt và với ánh sáng đèn, đặc biệt là
đối với đèn có bước sóng ngắn (3,650 A0). Thành trùng đẻ trứng vào đêm thứ 2 sau
khi vũ hóa. Một đời con cái giao phối 3 - 4 lần, trong khi đó con đực có thể giao
phối 10 lần (Nguyễn Đức Khiêm, 2006).
Trang 9
Đồ án tốt nghiệp
Bướm có tính chọn lọc ký chủ để đẻ trứng, bướm đẻ trứng thành từng ổ
khoảng vài trăm trứng, thường đẻ ở mặt dưới lá, ổ trứng có phủ lông màu vàng.
Đồ án tốt nghiệp
Sâu ăn tạp phát sinh quanh năm trên rau. Mỗi năm có 7 đỉnh cao mật độ sâu
trên đồng ruộng, thời gian giữa 2 đỉnh cao là 20 - 26 ngày. Trong thời gian từ tháng
5 đến tháng 11 thì các đợt mưa lớn kết hợp với sự phát sinh bệnh thối nhũn do virus
NPV là nguyên nhân làm giảm mật số sâu ăn tạp trên đồng ruộng ở đồng bằng sông
Hồng (Nguyễn Đức Khiêm, 2006).
Hình 1.7: Thiệt hại do sâu ăn tạp trên lá đậu nành, ớt, cải xà lách và dưa hấu
(Nguồn: Trần Thị Ba, ĐHCT)
1.1.6. Biện pháp phòng trị
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) thì trong những năm gần đây để phòng trừ
sâu ăn tạp trên thế giới cũng như ở nước ta đã và đang áp dụng các biện pháp quản
lý dịch hại tổng hợp (JA Wightman, ICRISAT, DNAhra Pradesh, India, 1996) vì
sâu này kháng thuốc rất mạnh nên áp dụng các biện pháp ngăn ngừa sâu trước khi
phát sinh thành dịch, bao gồm các biện pháp sau:
+ Dùng bẫy đèn và bẫy chua ngọt để bắt và tiêu diệt. Vừa có ý nghĩa trong dự
báo vừa làm giảm số lượng thành trùng trước khi đẻ trứng.
+ Bắt sâu tuổi nhỏ lúc chưa phân tán và ngắt bỏ ổ trứng là biện pháp có hiệu
quả. Khi dự tính được thời gian trưởng thành ra rộ thì định kỳ 2 - 3 ngày 1 lần đi thu
bắt sâu tuổi nhỏ và ngắt ổ trứng chưa nở.
+ Tiến hành cày bừa, phơi ải kỹ đất trước khi trồng rau, kết hợp với làm cỏ
xung quanh bờ ruộng để tiêu diệt chỗ ẩn náu của thành trùng. Có thể cho ruộng
ngập nước từ 2 - 3 ngày để diệt nhộng.
+ Sử dụng bẫy pheromone.
+ Bảo vệ và thả các loài ong ký sinh sâu non, có thể sử dụng loài bắt nồi ăn
thịt Conocephalus sp.
Trang 11
pháp:
Trang 12
Đồ án tốt nghiệp
- Tạo môi trường thuận lợi cho các loài sinh vật có ích là kẻ thù tự nhiên của
dịch hại, phát triển nhằm góp phần tiêu diệt dịch hại, bảo vệ thiên địch tránh khỏi
độc hại do dùng thuốc hoá học, tạo nơi cư trú cho thiên địch sau vụ gieo trồng bằng
cách trồng xen, làm bờ rạ cho thiên địch ẩn nấp... Áp dụng các kỹ thuật canh tác
hợp lí tạo điều kiện cho thiên địch phát triển.
- Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học, các loại thuốc sinh học chỉ
có tác dụng trừ dịch hại, không độc hại với các loại sinh vật có ích an toàn với sức
khỏe con người và môi trường
- Tập trung nhân nuôi, sử dụng thiên địch nhóm bắt mồi, ký sinh và vi sinh
vật để phòng trừ sâu hại cây trồng.
Trong tự nhiên, phòng trừ tự nhiên (Natural control) hay đấu tranh sinh học
luôn có mặt một cách tích cực tại mọi hệ sinh thái trên khắp hành tinh, khống chế
trực tiếp đến 95% các loài chân khớp hại (100 000 loài được phòng trừ tự nhiên),
trong khi các biện pháp mà con người thực hiện bây giờ chủ yếu tập trung vào 5000
loài mục tiêu. Chi phí hàng năm về thuốc trừ dịch hại là khoảng 8,5 tỷ USD, trong
khi tổng số chi phí ước tính cho phòng trừ tự nhiên hàng năm vào khoảng 400 tỷ
USD (dẫn theo Van Lenteren, 2005).
Biện pháp sinh học cổ điển áp dụng cho 350 triệu ha tức bằng 10% diện tích
canh tác có tỷ lệ thuận trên gia thành là 20-500 lần, cao hơn nhiều so với biện pháp
sinh học nuôi nhân và phóng thích thiên địch (BPSH tăng cường).
Biện pháp sinh học tăng cường được áp dụng cho 16 triệu ha tức bằng 0,046%
diện tích canh tác có tỷ lệ lợi nhuận/giá thành là 2-5 lần.
Tổng hợp trong 120 năm qua, trên 196 nước và vùng lãnh thổ đã có 5000 lần
giới thiệu 2000 loài chân khớp ngoại lai để phòng chống chân khớp hại và hiện có
(Vũ Văn Đĩnh và ctv, 2004):
- Ít gây nguy hại đến thực phẩm, nước và môi trường.
- Đóng góp cho sản xuất thực phẩm bền vững.
- Đóng góp cho bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học.
- Không có dư lượng trên nông sản.
1.2.2. Một số thành tựu của biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu hại
1.2.2.1. Châu Âu
Trang 14
Đồ án tốt nghiệp
Theo kinh nghiệm của người nông dân Trung Quốc, người trồng cây có múi ở
vùng Địa Trung Hải đã biết sử dụng loài kiến bắt mồi Oecophylla smaragdia
Fabricius phòng chống sâu ăn lá cam (Mc Cook 1882, Clausen 1966).
Ngay từ thời xa xưa người trồng chà là ở Ả rập đã nhân nuôi kiến bắt mồi để
phòng chống kiến ăn cây chà là. Đây cũng được coi là những trường hợp đầu tiên
con người biết sử dụng kẻ thù tự nhiên (thiên địch) với mục đích của biện pháp sinh
học. Họ biết phân biệt các loài kiến dựa trên tập tính ăn của chúng.
Vallisnieri (1661-1730) là người Italia đầu tiên đề nghị sử dụng ong ký sinh
Apanteles glomeratus Linneaus phòng chống bướm trắng hại cải Pieris rapae
Linneaus (Doutt 1964). Tiếp theo đó, vào những năm đầu của thế kỷ 18 nhiều báo
cáo đã đề cập đến tập tính ký sinh của một số loài côn trùng. Các tác giả cho rằng
nhiều loài thiên địch có thể được sử dụng như một tác nhân quan trọng phòng chống
sâu hại cây trồng. Có thể khẳng định, ngay từ thế kỷ 18 những kết quả ứng dụng
đầu tiên biện pháp sinh học ở châu Âu chủ yếu tập trung sử dụng côn trùng ký sinh
hoặc bắt mồi để phòng chống sâu hại cây trồng mà chưa có đề nghị nào về việc
nhập nội thiên địch để phòng chống sâu hại cây trồng ở địa phương.
Năm 1991, ở một số nước châu Âu đã nghiên cứu nhân nuôi và sử dung ong
côn trùng để phòng chống các loài sâu hại cây trồng. Năm 1878, Metschnhikov đã
phát hiện và phân lập được nấm xanh Metashizium aurisophiae trừ sâu non bọ cánh
cứng hại lúa mì Anisophiae austrinia có hiệu quả phòng chống sâu non, trưởng
thành bọ đầu dài hại củ cải đường Bothinoderes pauctiventris.
V.I. Bilai (1961), G. Seiketov (1962), Domsch (1980) đã lần lượt phát hiện
nấm Trichoderma là những thành viên phổ biến trong hệ vi sinh vật đất, có khả
năng đối kháng với các vi sinh vật khác thông qua việc tiết ra các chất kháng sinh,
men rượu các chất có hoạt tính sinh học cao tạo khả năng ức chế các nấm dịch hại
cây trồng như Rhizoctonia, Sclerotium, Verticillium. Đến nay nhiều nước châu Âu
đã nghiên cứu sản xuất và sử dụng nấm Trichoderma để phòng chống hơn 150 loài
vi sinh vật gây hại trên 40 loại cây trồng khác nhau.
Ngay từ giữa thế kỷ 19 đã hình thành hướng nghiên cứu sử dụng tuyến trùng
phòng chống côn trùng. Trước hết phải kể đến những công trình khoa học của các
nhà tuyến trùng học như P. Bovien, J. R. Christie, N. A. Cobb, I. N. Filipjev, G.
Fuchs, G. Steiner, G. Thorne (Nickle và Welch 1984). Theo Hara (1991) tuyến
trùng ký sinh côn trùng (EPN) có phổ sâu chủ rộng, khả năng tìm kiếm sâu chủ và
Trang 16
Đồ án tốt nghiệp
sinh trưởng rất mạnh. Khoảng đầu những năm 1980, người ta đã có thể nhân nuôi
hàng loạt tuyến trùng ký sinh côn trùng bằng in vi tro với các loài vi khuẩn cộng
sinh của chúng (Beđing 1981, 1984) gắn liền với việc sử dụng những loài EPN nay
phòng chống có hiệu quả sâu đục thân (Lindegren 1981), bọ cánh cứng hại nho đen
(Ređing và Miller 1981, Simons 1981) tạo khả năng thương mại hóa sản phẩm sinh
học tuyến trùng EPN diệt côn trùng gây hại cây trồng.
Brooks (1986) chỉ rõ hầu hết các loài Nosema thuộc nguyên sinh động vật
Pzotozoa đã được nghiên cứu sử dụng trong biện pháp sinh học phòng chống sâu
non bộ cánh vẩy và sâu non thuộc bộ cánh thẳng như châu chấu, cào cào (Maddix
A. Koebele. Ông là người đầu tiên nghiên cứu biện pháp ĐTSH chống cỏ dại.
Vào những năm 70 của thế kỷ 20 ở Mỹ đã nhân nuôi và sử dụng có hiệu quả
ong mắt đỏ Trichogramma sp. và ong vàng Habrobracon sp. để phòng chống sâu
xanh hại ngô, rau, đậu.
Từ năm 1980 ở Mỹ đã phát hiện 86 giống với 1380 loài bọ mắt vàng, trong đó
một số loài đã được nhân nuôi và sử dụng phòng chống có hiệu quả sâu hại bông,
đay,…
Năm 1947 ở Haoai, Mỹ đã nhập nội ong ký sinh Opius oophibis từ Ấn Độ,
Malasia để phòng chống ruồi đục quả Dacus dorsalis đạt kết quả tốt.
Năm 1938 ở Haoai, Mỹ đã nhập nội và sử dụng thành công côn trùng bắt mồi
Telsimia nitida từ Guama và Chilocorus nigritus từ Ấn Độ để phòng chống Rệp sáp
Pinnapis buxi hại dừa, cọ. Năm 1993 ở Mỹ đã sản xuất chế phẩm virus NPV của
sâu Spodoptera exigua cũng như một số chế phẩm virus khác được sử dụng có hiệu
quả phòng chống sâu keo da láng hại bông, sâu cắn lá rau, đậu, cây lâm nghiệp,…
ngay ở những nơi mà biện pháp hóa học bị cấm.
1.2.2.3. Châu Á
Hirashima (1990) cho rằng ở Nhật Bản ngay từ 1986 đã sử dụng ong Cotesia
phitellae, Tetrastichus sokolowski và Diadromus subtilicornis phòng chống sâu tơ
hại bắp cải trên diện rộng có kết quả tốt.
Wauchrea (1988) chỉ rõ ở Trung Quốc ngay từ những năm 70 của thế kỷ 20
người nông dân ở các tỉnh An Huy, Vũ Hán, Hồ Bắc,… đã sử dụng ong mắt đỏ
Trichogramma japonicum, Trichogramma dendrolimi để phòng chống sâu cuốn lá
lúa, sâu róm hại thông, sâu cuốn lá hoa lan có hiệu quả rõ rệt, tỷ lệ ong ký sinh đạt
trên 70% so với ruộng không thả ong.
Trang 18
Đồ án tốt nghiệp
Từ những năm 1985-1990 ở Nhật người ta đã tạo ra quy trình sản xuất bọ mắt
Đồ án tốt nghiệp
Năm 1856 Cornalia và Maestri đã mô tả bệnh tằm nghệ - bệnh virus. Các tác
giả này đã phát hiện thấy các thể đa diện trong cơ thể tằm. Bolle (1898) mô tả sự sự
hoà tan thể đa diện trong ruột tằm và giải phóng các hạt.
Năm 1919 Akkva, Komarek và Breidl (1923) đã phát hiện dịch qua lọc có bản
chất virus và gây bệnh, tạo nên những thể đa diện ở côn trùng.
Người đầu tiên nhìn thấy virus gây bệnh côn trùng là Bergold trong những công
trình công bố 1943-1947 sau khi có kính hiển vi điện tử.
1.3.1.1. Tình hình nghiên cứu sử dụng virus côn trùng trên thế giới
Virus gây bệnh côn trùng là một nhóm tác nhân sinh học có nhiều triển vọng
trong phòng chống côn trùng gây hại cây trồng. Bệnh virut hại côn trùng dược mô
tả sớm hơn bệnh virus hại thực vật. Bệnh virus hại côn trùng đầu tiên do Cornalia
và Maestri mô tả vào năm 1856 chính là bệnh tằm nghệ (mặc dù bệnh này được biết
từ trước đó rất lâu). Các tác giả này là những người đầu tiên phát hiện thấy khi hòa
tan thể vùi trong ruột tằm sẽ giải phóng ra các thể nhỏ. Komarek và Breindl vào
năm 1923 đã khẳng định bản chất virus của bệnh tằm nghệ và bệnh thối nhũn ở sâu
róm Lymantria monacha. Tuy nhiên, người đầu tiên tìm thấy các virus gây bệnh
côm trùng lại là Bergold với các nghiên cứu công bố từ năm 1943 đến năm 1947.
Sau đó trên thế giới xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu về virus gây bệnh
cho côn trùng, đặc biệt sau khi có kính hiển vi điện tử (dẫn theo P.V.Lầm, 1995).
Đến năm 1975, Martignoni và Iwai đã đưa ra danh sách 647 loài côn trùng
thuộc các họ khác nhau bị virus tấn công. Đến những năm giữa thập niên 80, các
nhà khoa học đã mô tả hơn 700 virus gây bệnh cho 800 loài côn trùng khác nhau
(Jayaraj, 1985).
Ngày nay, các nhà khoa học đã xác định có khoảng hơn 1.450 loài virus gây
bệnh khác nhau thuộc 13 họ siêu vi khuẩn thiên địch được phân lập từ côn trùng và
ve bét, trong đó khoảng 90% là thể vùi (Georghe và Gerard, 1984).
Virus gây bệnh cho côn trùng (hay virus côn trùng) chỉ có khả năng sống, sinh
sản ở trong các mô, tế bào sống, không thể nuôi cấy trên các môi trường dinh dưỡng
Viện BVTV và Trung tâm nghiên cứu cây bông Nha Hố đã xây dựng được
quy trình sản xuất chế phẩm NPV của sâu xanh, sâu khoang, sâu keo da láng, sâu đo
xanh hại đay, sâu róm thông. Các chế phẩm HaNPV, SeNPV, S1NPV được sản xuất
ở cả dạng lỏng và dạng bột thấm nước (1,5x107 PIB/mg).
Trang 21
Đồ án tốt nghiệp
Trong phòng thí nghiệm, hiệu lực các chế phẩm AfNPV, HaNPV và S1NPV
đối với sâu đo xanh hại đay, sâu xanh và sâu khoang tương ứng là 72,2-100; 78,7100 và 52,6-100%.
Ở điều kiện đồng ruộng, hiệu quả chế phẩm NPV đối với sâu xanh, sâu keo da
láng, sâu khoang, sâu đo xanh hại đay và sâu róm thông dùng trong liều lượng 2501000 sâu chết/ha rất biến động phụ thuộc vào cây trồng, địa điểm và thời gian sử
dụng. Hiệu lực của chế phẩm HaNPV đối với sâu xanh trên thuốc lá tại Đồng Nai
đạt 57,8-78,6%, còn tại Hà Nội chỉ đạt 31,6-51,1%. HaNPV để trừ sâu xanh trên
bông ở Nha Hố và Sơn La cho hiệu lực tương ứng là 34,0-65,0 và 43,4-89,8%,…
(P. H. Nhượng và nnk, 1996, 1997; H. T. Việt và nnk, 1999, 2000).
Đến nay chỉ mới có chế phẩm HaNPV được sử dụng nhiều hơn cả. Hàng năm
chế phẩm được sử dụng trên diện tích vài trăm ha bông ở phía Nam. Sau đó là chế
phẩm NPV sâu keo da láng được sử dụng trên hàng trăm ha hành tây, nho, đậu xanh
ở Nam Trung Bộ.
1.3.2. Cơ sở khoa học sử dụng virus diệt côn trùng trong đấu tranh sinh học
Khi xâm nhập vào cơ thể côn trùng, các virus nhân lên ngay trong nhân hoặc
trong chất nguyên sinh của tế bào, phá huỷ các mô và làm cho vật chủ chết. Những
côn trùng còn sống sót vẫn tiếp tục bị ảnh hưởng trong giai đoạn nhộng (nhộng bị
thối, ngài vũ hoá bị biến dạng), trong giai đoạn ngài (khả năng đẻ trứng giảm) và
ảnh hưởng tới các thế hệ sau. Nguồn virus tồn đọng trong tự nhiên lại gây lây nhiễm
cho các thế hệ mới. Trên cơ sở khoa học này, virus gây bệnh côn trùng ngày càng
được chú ý nghiên cứu và được coi là một trong những nhân tố có triển vọng trong
+ Hình thái:
Virus có cấu trúc hình học, 5 - 6 đến 20 cạnh với nhiều nhóm virus khác nhau.
Các axit nucleic (ADN, ARN) gồm dạng sợi đơn và sợi đôi.
+ Cấu trúc:
- Vỏ và nhân:
ADN virrus
Sợi đơn
ARN virus
Sợi đôi
Sợi đơn
Sợi đôi
Khi có bộ gen trong vỏ capsid thì gọi là virion hoặc là hạt virus. Vậy virion là
hạt virus đầy đủ về hình thái, nó có thể là một nucleocapsid có vỏ bọc gọi là virus
có vỏ, hoặc là một nucleocapsid trần gọi là virus không vỏ (Hình 1.8):
Trang 23
Đồ án tốt nghiệp
Axit Nucleic
Nucleocapsid
Capsid
xuất hiện của các thể protein khác nhau, bởi virus côn trùng thường có vỏ protein
Trang 24