HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI THỊ THU
THÀNH PHẦN LOÀI RUỒI ĐỤC QUẢ HẠI CÂY ĂN QUẢ
CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM GÂY HẠI CỦA LOÀI RUỒI ĐỤC QUẢ
PHƯƠNG ĐÔNG BACTROCERA DORSALIS HENDEL VÀ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ TRÊN CÂY BƯỞI
TẠI TÂN LẠC, HÒA BÌNH NĂM 2015
Chuyên ngành:
Bảo vệ thực vật
Mã số:
60.62.01.12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này được hoàn thành bằng sự nhận thức chính xác
của bản thân.
Các số liệu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất cứ công trình nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích
dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thu
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan .................................................................................................................i
Lời cảm ơn ................................................................................................................... ii
Mục lục ...................................................................................................................... iii
Danh mục chữ viết tắt................................................................................................... vi
Danh mục bảng ...........................................................................................................vii
Danh mục hình ...........................................................................................................viii
Trích yếu luận văn ........................................................................................................ ix
Thesis abstract .................................................................................................................xi
Phần 1. Mở đầu ........................................................................................................... 1
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................... 1
1.2.
2.2.1.
Thành phần loài, sự phân bố và ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả ..................... 5
2.2.2.
Tập tính của ruồi đục quả ................................................................................. 6
2.2.3.
Biện pháp phòng chống ruồi đục quả ............................................................... 9
2.3.
Nghiên cứu ở trong nước ............................................................................... 14
2.3.1.
Nghiên cứu thành phần loài, phân bố của ruồi đục quả ................................... 14
2.3.2.
Tình hình gây hại của ruồi đục quả ................................................................ 15
2.3.3.
Các biện pháp phòng chống ruồi đục quả ....................................................... 16
Phần 3 . Nội dung và phương pháp nghiên cứu ....................................................... 18
3.4.1.
Nghiên cứu tình hình sản xuất cây ăn quả có múi và cây bưởi huyện Tân
Lạc, Hòa Bình................................................................................................ 19
3.4.2.
Nghiên cứu thành phần loài ruồi đục quả bằng bẫy dẫn dụ ME (Methyl
eugenol)......................................................................................................... 19
3.4.3.
Phương pháp nghiên cứu hình thái các pha phát dục của ruồi đục quả
Bactrocera dorsalis Hendel và ký chủ của chúng ........................................... 20
3.4.4.
Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến sự phát sinh
và gây hại của ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis..................................... 22
3.4.5.
Phương pháp nghiên cứu đặc điểm gây hại của loài ruồi đục quả
Bactrocera dorsalis Hendel ........................................................................... 24
3.4.6.
Phương pháp nghiên cứu các biện pháp phòng trừ ruồi đục quả
Bactrocera dorsalis Hendel ........................................................................... 25
4.2.2.
Tỷ lệ xuất hiện các loài ruồi đục quả được thu thập từ bẫy ME tại vùng
trồng bưởi huyện Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 ............................................. 33
4.2.3.
Một số đặc điểm hình thái trưởng thành phân biệt các loài ruồi đục quả
thu thập được từ bẫy ME................................................................................ 35
iv
4.3.
Đặc điểm hình thái và thành phần cây ký chủ của loài Bactrocera
dorsalis Hendel.............................................................................................. 37
4.3.1.
Đặc điểm hình thái các pha phát dục của loài B. dorsalis ............................... 37
4.3.2.
Thành phần cây ký chủ của ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis tại
Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 ........................................................................ 39
4.4.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự gây hại của ruồi đục quả Bactrocera
Một số biện pháp phòng trừ ruồi đục quả phương đông B. dorsalis tại tân
lạc, hòa bình năm 2015 .................................................................................. 48
4.6.1.
Phòng trừ ruồi đục quả B.dorsalis trên bưởi bằng biện pháp bao quả tại
vùng trồng bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015............................................... 48
4.6.2.
Tính hiệu quả kinh tế của biện pháp bao quả phòng chống ruồi đục quả
tại vùng trồng bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 .......................................... 49
4.6.3.
Phòng trừ ruồi đục quả Phương Đông bằng bả Ento-pro 150DD trên bưởi
tại vùng bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 ................................................... 50
4.6.4.
Hiệu quả kinh tế của biện pháp phun bả Ento - pro 150DD phòng chống ruồi
đục quả Phương Đông tại vùng trồng bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 .......... 52
4.7.
Phần thảo luận .............................................................................................. 53
Phần 5. Kết luận và kiến nghị ................................................................................... 56
5.1.
HT
Hình thành
ME
Methyl engenol
PT
Phát triển
RĐQ
Ruồi đục quả
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1. Thực trạng thâm canh cây bưởi tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 ................ 29
Bảng 4.2. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác bưởi của nông hộ tại Tân
Lạc, Hòa Bình năm 2015............................................................................ 31
Bảng 4.3. Thành phần mức độ phổ biến của các loài ruồi đục quả trên cây ăn quả
có múi Hòa Bình năm 2015 thu được từ bẫy ME ...................................... 33
Bảng 4.4. Tỷ lệ các loài ruồi đục quả thu được từ bẫy ME tại vườn bưởi Tân Lạc,
Hòa Bình năm 2015 ................................................................................... 34
Bảng 4.5. Một số đặc điểm về hình thái của trưởng thành các loài ruồi đục quả ở
tại Tân Lạc, Hòa Bình ................................................................................ 36
Hình 3.2. Thu mẫu ruồi đục quả đem về phòng thí nghiệm giám định.......................... 20
Hình 3.3. Thu hái quả bưởi bị hại về phòng thí nghiệm................................................ 21
Hình 3.4. Theo dõi sâu non các tuổi trong phòng thí nghiệm....................................... 21
Hình 3.5. Treo bẫy Vizubon - D thu hút trưởng thành ruồi đục quả trên các giống
bưởi tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 ........................................................ 23
Hình 3.6. Tiến hành treo thẻ trên quả để theo dõi mức độ hại....................................... 25
Hình 3.7. Bố trí thí nghiệm bao quả ............................................................................. 26
Hình 3.8. Bố trí thí nghiệm phun bả Ento-Pro 150DD.................................................. 27
Hình 4.1. Tỷ lệ các loài ruồi đục quả thu được từ bẫy ME tại vườn bưởi Tân Lạc,
Hòa Bình năm 2015 ................................................................................... 35
Hình 4.2. Trưởng thành các loài ruồi đục quả giống Bactrocera .................................. 36
Hình 4.3. Các pha phát dục của ruồi đục quả Phương Đông Bactocera dorsalis Hendel ..... 38
Hình 4.4. Triệu chứng ruồi đục quả hại trên các loại cây ăn quả .................................. 40
Hình 4.5. Vườn bưởi có trồng xen ổi, thanh long ......................................................... 40
Hình 4.6. Diễn biến mật độ của ruồi đục quả vào bẫy Vizubon-D trên các giống
bưởi trồng tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 ............................................... 41
Hình 4.7. Tỷ lệ hại của ruồi đục quả trên các giống bưởi trồng tại Tân Lạc, Hòa
Bình năm 2015 ........................................................................................... 43
Hình 4.8. Tỷ lệ hại của ruồi đục quả B. dorsalis trên các biện pháp canh tác tại
Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 ..................................................................... 44
Hình 4.9. Triệu chứng ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis gây hại .......................... 45
Hình 4.10. Tỷ lệ quả bị ruồi đục quả Phương Đông hại, bị rụng trên bưởi đỏ Tân
Lạc qua các đợt điều tra ............................................................................. 47
viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Bùi Thị Thu
Phương pháp nghiên cứu hình thái của các pha phát dục, ảnh hưởng của một số
yếu tố về giống và phương thức canh tác tới sự gây hại của ruồi đục quả Phương Đông
Bactrocera dorsalis Hendel. Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ như bao quả và
phun bả Ento-pro 150DD.
ix
Kết quả chính và kết luận:
1. Thành phần ruồi đục quả hại cây ăn quả có múi tại Tân Lạc, Hòa Bình năm
2015 bao gồm 3 loài: Bactrocera dorsalis Hendel, Bactrocera correcta Bezzi, Bactrocera
curvifera Walker, trong đó loài B. dorsalis và B. corecta là 2 loài gây hại chủ yếu.
2. Đã xác định được có 6 loại quả là thức ăn của sâu non ruồi đục quả Phương
Đông B.dorsalis tại Tân Lạc, Hòa Bình bao gồm bưởi, cam, quýt, khế, ổi, thanh long. Ở
các giai đoạn phát triển quả bưởi, theo dõi thời gian từ cuối tháng 8 - đầu tháng 9, tỷ lệ
quả bị châm hại và tỷ lệ quả bị rụng cho thấy ở giai đoạn phát triển quả - quả già đạt cao
nhất 21,1%; tỷ lệ quả bị rụng đạt cao nhất 13,2% số quả vào giai đoạn quả bưởi chín
sinh lý - thu hoạch (khoảng thời gian cuối tháng 10 - trung tuần tháng 11).
3. Ruồi đục quả B. dorsalis xuất hiện và gây hại trên tất cả các giống bưởi được
trồng tại vùng Tân Lạc, Hòa Bình. Trong giai đoạn quả già tương đương trong khoảng
thời gian từ 09/8 đến 20/9/2015 số lượng ruồi trưởng thành vào bẫy Vizubon-D đạt cao
nhất trên giống bưởi Đỏ. Tỷ lệ quả bị ruồi đục quả B. dorsalis hại ở giai đoạn quả bưởi
đã già, cao nhất là 9,64% số quả trên giống bưởi Đỏ.
Ở vườn bưởi trồng thuần, cây được tạo cành tỉa tán, vệ sinh vườn, thu gom chôn lấp
quả rụng sau thu hoạch tỷ lệ quả bị ruồi hại cao nhất là 6,07% trong đó ở vườn bưởi trồng
tạp, không làm các biện pháp kỹ thuật trên tỷ lệ quả bị hại đạt 14,04%. Như vậy, phương
thức canh tác không tỉa cành tạo tán, thu gom quả rụng, vệ sinh vườn là nơi tích tụ nguồn
ruồi đục quả B. dorsalis gây hại cho vườn trồng vào năm sau.
4. Phòng trừ ruồi đục quả B. dorsalis bằng phương pháp thủ công bao quả tỷ
lệ quả bị ruồi hại đạt 1,2%, trong đó quả bưởi không được bao tỷ lệ bị ruồi hại đạt
Use Steiner trap types with Methyl eugenol lures are hanging traps under trees,
avoid exposed to light radiation, from the ground 1,5-2m, every 2 months rather bait
once, periodically 7 days / times pour samples for counting and classification of species
varieties fruit flies Bactrocera spp. Citrus fruit damage.
Research damaging characteristics of fruit flies Bactrocera dorsalis Hendel
Orient method hanging cards, cards made of cardboard, with a serial number tracking
grapefruit. Duration of the card hanging from the fruit set until harvest or fell out.
Morphological research methods of sexual maturity phase, the effects of some
factors on seeds and farming practices to the damaging of the fruit fly Bactrocera
dorsalis Hendel. Testing some preventive measures such as bags fruit and spray Entopro 150DD baits.
Main findings and conclusions
1. Composition of fruit fly damage in citrus fruit in Tan Lac, Hoa Binh 2015
includes three species: Bactrocera dorsalis Hendel, Bactrocera correcta Bezzi ,
Bactrocera curvifera Walker, in which species B. dorsalis and B. corecta 2 major pests.
xi
2. Identified 6 fruits eaten by fruit fly larvae in Tan Lac B.dorsalis Oriental,
Peace include grapefruit, oranges, mandarins, star fruit, guava, dragon fruit. In the
development phase grapefruit, track time from late August - early September, the rate of
damage results and ratios are lit falling out results showed that at the stage of fruit
development - the highest age 21, first%; results in falling out ratio reached 13.2% of
the fruits highest stage of maturity grapefruit - harvest (period end October - midNovember).
3. B. dorsalis fruit flies appear and damage on all varieties of grapefruit in Tan
Lac, Hoa Binh. In the period of ripe fruits period from 09/8/2015 to 20/9/2015 number
of adult flies into the trap Vizubon highest - on Red grapefruit varieties. The rate fruit
were harmful by fruit fly B. dorsalis is 9.64% of the highest in the fruit Red grapefruit.
In monoculture grapefruit garden, tree prunings created canopy, garden
sanitation, collection and burial of post-harvest drop fruit, the rate of fruit flies was
lực quan trọng góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp nói chung và sản xuất cây
ăn quả có múi nói riêng. Diện tích cây ăn quả có múi năm 2014 đạt 1.500 ha sản
lượng đạt 22 ngàn tấn, đứng thứ nhất về diện tích cây có múi của khu vực Trung
du và miền núi Tây Bắc. Theo quy hoạch của tỉnh, năm 2015 ước đạt 2.600 ha
với sản lượng khoảng hơn 27 nghìn tấn, đến năm 2020 đạt 5.800 ha với sản
lượng ước đạt trên 80 nghìn tấn (UBND tỉnh Hòa Bình, 2013).
Cây ăn quả có múi nói chung và cây cam, bưởi nói riêng là loại cây trồng
yêu cầu mức độ đầu tư, thâm canh cao hơn các loại cây trồng khác. Nếu mức đầu
tư thấp hoặc chỉ dựa vào độ phì nhiêu của đất thì hiệu quả kinh tế rất thấp và chu
kỳ kinh tế ngắn, thậm chí cho kết quả ngược lại.
Cây ăn quả có múi đặc biệt cây bưởi có nhiều đối tượng sâu bệnh hại,
nhiều sâu bệnh hại dễ lây lan và rất khó phòng trừ, có đến 98% các hộ trồng cam,
bưởi chủ yếu dựa vào biện pháp hóa học, phun thuốc với nồng độ cao, phun
thường xuyên liên tục theo định kỳ và kinh nghiệm là chính. Bên cạnh việc áp
dụng tiến bộ kỹ thuật thâm canh để nâng cao năng suất và sản lượng, người sản
xuất phải đối mặt với những yêu cầu cao về chất lượng và sự an toàn của sản
1
phẩm quả tươi. Để đạt được những yêu cầu này đòi hỏi người sản xuất phải thực
hiện tốt các giải pháp quản lý dịch hại theo hướng tổng hợp.
Ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel là một dịch hại
nguy hiểm đối với cây ăn quả vì sâu non sinh sống và gây hại trong quả, ăn thịt
quả, gây rụng quả hàng loạt dẫn đến làm giảm năng suất, thậm chí gây thất thu.
Ngoài tác hại trực tiếp, ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis còn là đối tượng
kiểm dịch thực vật của nhiều nước nhập khẩu sản phẩm quả tươi từ Việt Nam.
Để phòng trừ ruồi đục quả nói chung và ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis
nói riêng hiện nay chủ yếu dựa vào bẫy diệt trưởng thành đực và thuốc hoá học,
nhưng hiệu quả phòng trừ không cao. Các kết quả nghiên cứu về ruồi đục quả
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp dữ liệu khoa học về
thành phần loài ruồi đục quả giống Bactocera spp. tại vùng trồng cây ăn quả có
múi (cam, quýt, bưởi) Hòa Bình.
- Kết quả nghiên cứu đặc điểm gây hại và ảnh hưởng của một số yếu tố
sinh thái đến sự gây hại của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel trên cây
bưởi tại Tân Lạc, Hòa Bình.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất biện pháp phòng chống ruồi đục quả Phương Đông có hiệu quả,
an toàn đối với sản phẩm tươi và sức khỏe con người, thân thiện với môi trường
ở Tân Lạc, Hòa Bình và các vùng sản xuất cây căn quả có múi tập trung của tỉnh.
3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Từ khi thực hiện chủ trương đa dạng hóa cây trồng trong nông nghiệp, đặc
biệt chú trọng đến những cây trồng có giá trị kinh tế cao ngoài cây lúa. Trong những
năm gần đây, cây có múi (cam, chanh, quýt, bưởi) là những loại cây ăn quả có giá trị
dinh dưỡng và kinh tế cao, được xác định là một trong những cây ăn quả chủ lực
trong việc phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
Với những điều kiện thuận lợi từ các vùng, miền trên cả nước về điều kiện
thời tiết khí hậu mang lại, diện tích trồng cây ăn quả có múi ở nước ta năm 2007
khoảng 140,9 nghìn hecta với sản lượng 1.059,3 nghìn tấn, trong đó cam, quýt có
diện tích 86,2 nghìn hecta, sản lượng 654,7 nghìn tấn; bưởi 41,4 nghìn hecta, sản
lượng 310,6 nghìn tấn và chanh 13,3 nghìn hecta, sản lượng 94,0 nghìn tấn. Đến
năm 2009 diện tích cây có múi ở nước ta tăng nhưng cũng chỉ đạt 142,46 nghìn
hecta, trong đó diện tích cho sản phẩm khoảng 110,9 nghìn hecta và sản lượng
khoảng 1.221,8 nghìn tấn. Tuy diện tích tăng chậm nhưng năng suất luôn được cải
thiện, sản lượng cũng được tăng đáng kể. Số liệu sơ bộ năm 2010 cho thấy sản
trừ ruồi đục quả ngoài việc phải thu hoạch quả sớm hoặc sử dụng thuốc trừ sâu phun
khắp vườn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe con người và tiêu diệt
nhiều loài côn trùng có ích khác.
2.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC
2.2.1. Thành phần loài, sự phân bố và ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả
Trên thế giới có khoảng 4.500 loài ruồi đục quả (Diptera: Tephritidae)
(Drew, 2001), trong đó có 50 loài được phân loại là loài dịch hại nguy hiểm chủ yếu
đối với cây ăn quả và cây rau ăn quả và 30 loài khác được đánh giá là loài dịch hại
thứ yếu (Allwood and Drew, 1997). Tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương
chỉ riêng thuộc phân họ Dacinae đã ghi nhận có 642 loài ruồi đục quả (Drew and
Romig, 1996). Ruồi đục quả ở khu vực Canada, Mỹ và miền núi phía Bắc Mêxicô
có khoảng 60 loài gọi là nhóm Nearctic. Ruồi đục quả ở vùng Châu Mỹ là phân
nhóm Neotropical với khoảng 180 loài thuộc giống Anastrepha, một vài loài thuộc
phức hợp loài ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis và Ceratitis capitata và 21 loài
thuộc giống Rhagoletis. Giống ruồi đục quả Bactrocera được ghi nhận là quan trọng
ở khu vực Thái Bình Dương và đa số các loài trong giống này thuộc nhóm kiểm
dịch thực vật của nhiều nước ở trên thế giới (Roger et al., 2012).
Loài ruồi đục quả Phương Đông nằm trong giống Bactrocera, thuộc nhóm
B. dorsalis. Loài ruồi đục quả này xuất hiện ở California, Florida vào năm 1987
và đã bị tiêu diệt, nhưng đến 1989 nó lại xuất hiện trở lại. Loài ruồi đục quả này
chưa ghi nhận có ở khu vực châu Âu. Tại châu Á, loài ruồi đục quả Phương
Đông B. dorsalis được ghi nhận có mặt ở Đài Loan từ năm 1912. Từ đó đến nay
loài này đã mở rộng phân bố tới nhiều vùng khác nhau thuộc khu vực châu Á và
Thái Bình Dương như Ấn Độ, Paskistan, Nepan, Việt Nam, Lào, Thái Lan. Ruồi
5
đục quả Phương Đông là một trong năm loài ruồi đục quả quan trọng ở khu vực
Đông Nam Á.
Hoạt động của ruồi đục quả Tephritidae có rất nhiều kiểu khác nhau và đã
6
được nghiên cứu để các loài ruồi đục quả quan trọng có thể được hiểu, giám sát,
điều khiển và quản lý hoặc loại bỏ. Tập tính của một số loài ruồi thuộc họ
Tephritidae đã được nghiên cứu như là ruồi đục quả Queensland, ruồi đục quả
Phương Đông, ruồi đục quả Địa Trung Hải… do tầm quan trọng kinh tế của
chúng so với các loài khác (Prokopy et al., 1991). Hoạt động tìm kiếm ký chủ và
đẻ trứng của ruồi đục quả Tephritidae sẽ không diễn ra cho đến gần giai đoạn
trước khi ruồi cái thực sự trưởng thành và người ta đã phát hiện ra loài chủ thể,
đặc điểm hóa học và vật lý của chủ thể, thói quen trước đó của ruồi cái với sự
chấp nhận quả ký chủ là những nhân tố chính tác động đến hoạt động tìm kiếm
và đẻ trứng (Prokopy et al., 1991). Theo dõi chi tiết của từng con cái loài ruồi B.
dorsalis, B.tryoni…qua thời gian trên cây trồng đã phát hiện ra hoạt động tìm
kiếm vị trí và đẻ trứng của ruồi đục quả Tephritidae cái có liên quan đến số lượng
và chất lượng và sự phân bố của ký chủ trên cây, tán lá của cây, tình trạng của
các con trưởng thành (Prokopy et al., 1991), giá trị của khứu giác nhận được ám
hiệu thị giác từ quả ký chủ và các điệu kiện môi trường (nhiệt độ và cường độ
ánh sáng). Aluja (1989) cho rằng việc chấp nhận sự đẻ trứng của ruồi cái họ
Tetephritidae vào quả ký chủ bị ảnh hưởng bởi hình dáng, kích cỡ, màu sắc của
quả và một số các đặc điểm vật lý khác của quả như tính hóa lỏng trong quả, chất
hóa học trên bề mặt quả.
Sự ưu tiên lựa chọn quả ký chủ của ruồi cái Tephritidae cũng phụ thuộc vào
các nhân tố như loại quả, độ chín của quả, vết thương trên quả và vết chích trước của
các con cái khác. Cả con cái ruồi Queensland và ruồi đục quả Phương Đông đều thích
đẻ trứng trong những vết đẻ trứng cũ và chúng đẻ trứng thường xuyên ở các vết mới
đục hơn là trên các quả chưa bị đục lỗ. Chúng cũng thường bị thu hút bởi các vết
thương của quả do vết chích đẻ trứng của các con cái khác hoặc vết thương tự nhiên,
quả Tephritidae được thấy là bị tác động bởi một vài nhân tố vật lý và sinh học
như là thời gian trong ngày, thức ăn của con trưởng thành và quả ký chủ, đặc biệt
các loài Tephritidae thường có nhứng hoạt động mang nét đặc trưng tiêu biểu mà
các con đực dựa vào các ấu trùng ký sinh trên quả là các phạm vi theo loài để
“tán tỉnh” và giao phối (Jang et al., 1994). Con đực của loài ruồi đục quả Phương
Đông thường bị hấp dẫn bởi chất có hoạt tính sinh học cao methyl eugenol. Araki
et al (1984) chỉ ra rằng giai đoạn tiền giao phối của con đực loài ruồi đục quả
Phương Đông là từ 11 đến 51 ngày, trong đó 80% các con trưởng thành có đôi,
có cặp.
Trong tác động lên hoạt động của côn trùng, các tác nhân kích thích được
sử dụng trong quá trình chọn lựa ký chủ được phân loại là chất hấp dẫn, chất kích
thích, chất xua đuổi và các chất gây ngán. Các chất hấp dẫn ruồi đục quả như đặt
mồi bả để phát hiện, quản lý, điều khiển và loài trừ các loài dịch hại. Các chất
hấp dẫn hóa học là tiêu điểm chính của các nghiên cứu hành vi ruồi đục quả, việc
bẫy ruồi đực hoàn toàn hữu dụng đối với các chương trình phòng trừ ruồi đục
quả. Ví dụ, methyl eugenol (4- allyl- 1,2- dimethoxybenzene- carboxylate) hấp
dẫn ruồi đục quả Phương Đông và một số loại khác có liên quan. Các nhân tố
8
môi trường như nhiệt độ, lượng mưa và độ chín của quả cùng ảnh hưởng đến độ
hấp dẫn của ruồi đục quả Phương Đông đối với chất dẫn dụ là ME.
Nghiên cứu phản ứng của các con ruồi trưởng thành về màu sắc, Stark and
Vargas (1992) cho thấy con đực loài ruồi đục quả Phương Đông bị hấp dẫn mạnh
bởi bẫy màu trắng và vàng, trong khi đó màu xanh, đỏ, đen ít hấp dẫn hơn và
người ta cho rằng độ thu hút của bẫy chủ yếu là do mức độ phản xạ ánh sáng.
2.2.3. Biện pháp phòng chống ruồi đục quả
Các phương pháp quản lý được phát triển để loại bỏ hoặc điều khiển
Nghiên cứu phòng chống ruồi đục quả bằng các biện pháp canh tác như
thay đổi thời vụ sản xuất, vệ sinh đồng ruộng và thu hoạch quả sớm có thể cho
hiệu quả nhất định phụ thuộc điều kiện áp dụng.
Thời vụ: Nhiều nghiên cứu cho thấy ruồi đục quả xuất hiện quanh năm
trên đồng ruộng với mật độ quần thể trong tự nhiên rất biến động, khi cao khi
thấp. Mật độ quần thể của chúng thường cao vào các tháng mùa nóng và giảm
hoặc xuống rất thấp trong những tháng mùa đông. Do đó, các nhà bảo vệ thực vật
đã khuyến cáo người dân ở Tonga và Fiji nên trồng tăng diện tích cây ớt, cà vào
những tháng mùa đông để tránh sự gây hại của ruồi đục quả loài Bactrocera
facialis Coquilett (Allwood, 1996).
Vệ sinh đồng ruộng: Biện pháp vệ sinh đồng ruộng được thực hiện dưới
hình thức thu gom, xử lý quả rụng, quả bị ruồi đục quả gây hại còn ở trên cây và
thu hái quả từ cây thức ăn khác của ruồi đục quả nhưng không là loại cây chính
đang cần phòng trừ chúng. Theo dõi ở Hawaii cho thấy quả quả đu đủ bị loài ruồi
đục quả Phương Đông B. dorsalis và loài B. cucurbitae gây hại liên tục trong 21
tháng. Thực tế không phải lúc nào quả đu đủ cũng có trên cây. Như vậy, rõ ràng
là các loài ruồi đục quả này đã tấn công ngay cả những quả đu đủ đã bị rụng. Tỷ
lệ quả quất (Fortunella japonica Thunb) rụng xuống đất có ruồi đục quả loài B.
passiflorae Froggat đạt là 35%. Trong khi đó, những quả quất hái trên cây chỉ với
7% có ruồi đục quả loài B. passiflorae (Allwood and Leblanc, 1996). Tuy nhiên,
nhiều ý kiến cho rằng nếu thực hiện đơn lẻ biện pháp này thì chỉ thu được kết quả
nhất định, hiệu quả không cao. Biện pháp này chỉ đem lại hiệu quả kinh tế nhất
khi phối hợp với biện pháp phun bả Protein.
Thu hoạch quả sớm: Biện pháp này được thực hiện trước khi quả bước
vào giai đoạn mẫn cảm với ruồi đục quả. Ví dụ, với quả đu đủ giống Eksotika
(giống chuyên để xuất khẩu của Malaysia) được thu tại thời điểm vỏ quả có màu
hơi vàng thì hoàn toàn có thể tránh được bị ruồi đục quả gây hại (Vijayseganran,
1996). Tuy nhiên, biện pháp này không có hiệu quả đối với những loài ruồi đục
quả có tập tính gây hại ở thời kỳ quả còn xanh như loài ruồi đục quả chuối B.
héc ta thường tuỳ thuộc vào loài ruồi đục quả cần tiêu diệt và địa hình vườn. Ví dụ,
đối với ruồi đục quả loài Anastrepha suspensa Loew nên treo 45 bẫy cho một
hecta. Tác giả Allwood (1996) khuyến cáo trên mỗi ki- lô- mét vuông có thể đặt
250 mồi và thay mồi 6-8 tuần một lần. Chiều cao từ mặt đất lên điểm treo bẫy
cũng tuỳ thuộc vào kiểu vườn, khoảng 2 mét đối với vườn cây ăn quả hoặc treo
dưới tán cây nếu ở khu rừng. Biện pháp treo bẫy dẫn dụ thường được phối hợp với
các biện pháp khác trong phòng trừ ruồi đục quả như phun bả Protein, biện pháp
triệt sản. Hiệu quả của sự phối hợp này khá cao khi phòng trừ những loài ruồi đục
quả thuộc nhóm loài ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis. Điểm lưu ý khi phối
hợp với các biện pháp khác là cần dùng sốlượng bẫy nhiều. Ví dụ, trên diện tích 1
km² ở Mauritius đã đặt 1.000 bẫy nhằm giảm sức ép quần thể của ruồi đục quả
Phương Đông trong chương trình phòng trừ bằng kỹ thuật triệt sản (Nagel and
11
Peveling, 2005). Để làm tăng hiệu quả của việc dùng bẫy dẫn dụ, thường có sự
phối hợp giữa kiểu dáng vỏ bẫy, màu sắc vỏ bẫy, mùi vị của bẫy. Biện pháp bẫy
dẫn dụ là sử dụng riêng lẻ hiệu quả rất kém. Ví dụ, ở Hawaii đã áp dụng biện pháp
này để phòng trừ loài ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis hại quả đu đủ. Kết
quả ở nơi sử dụng bẫy dẫn dụ vẫn có tỉ lệ quả bị hại đạt 44-48% (Sabine, 1992).
Do vậy, sử dụng bẫy dẫn dụ thường phải dùng số lượng bẫy nhiều và ở nơi cách ly
về địa lý thì mới mong giảm được quần thể của ruồi đục quả trên đồng ruộng.
Sử dụng bẫy thức ăn: Đối với con cái của ruồi đục quả họ Tephritidae có
nhu cầu cao bởi thức ăn có chứa protein. Lợi dụng đặc tính này đã sử dụng bẫy
thức ăn để tiêu diệt ruồi đục quả. Cơ chế tác động của bả protein là do nhu cầu
buộc phải ăn thêm protein của trưởng thành cái để trứng của chúng phát triển.
Trong bả có thuốc trừ sâu nên khi con cái ăn bả ở trên bề mặt tán lá cây, bị nhiễm
thuốc sâu và chết. Bả protein chỉ cần phun ở một điểm bất kỳ trên tán lá cây mà
không cần phải phun phủ cả tán lá cây (Allwood and Drew, 1996). Tại Hawaii, bả