VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
ĐỖ THỊ GẤM
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG THÀNH TỰU KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
TỈNH NINH BÌNH
Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8 34 04 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Xuân Long
Hà Nội - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Xuân Long.
Các số liệu sử dụng trong luận văn có trích dẫn nguồn rõ ràng, không sao chép
của người khác. Các kết luận nghiên cứu trong luận văn được đúc kết từ cơ sở lý luận
đến thực tiễn của vấn đề luận văn cần giải quyết.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./.
nông nghiệp t nh Ninh Bình .......................................................................................... 66
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 81
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CNSH
Công nghệ sinh học
DN
Doanh nghiệp
KH&CN
Khoa học và Công nghệ
KT-XH
Kinh tế - xã hội
Bảng 2. 9 Nguồn nhân lực trong các cơ quan nghiên cứu, triển khai KH&CN trên
địa bàn t nh Ninh Bình ..............................................................................................45
Bảng 2. 10 Tổng hợp tình hình các hộ điều tra phân theo nhóm hộ điều tra ............46
Bảng 2. 11 Ảnh hưởng trình độ lao động đến khả năng tiếp cận thông tin của các
nhóm hộ điều tra ........................................................................................................49
Bảng 2. 12 Đánh giá về các khó khăn trong việc chuyển giao công nghệ tại các cơ
quan nghiên cứu, triển khai KH&CN .......................................................................56
Bảng 2. 13 Khó khăn của doanh nghiệp trong việc chuyển giao công nghệ ............57
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống con ngườivà
trong toàn bộ quá trình phát triển của đất nước nói chung và t nh Ninh Bình nói
riêng. Đảng đã chủ trương đẩy mạnh việc ứng dụng thành tựu KH&CN vào sản
xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản
chủ lực của từng địa phương
Là một t nh nằm ở cực nam đồng bằng Bắc Bộ, có 3 vùng rõ rệt; vùng đồng
bằng, vùng đồi núi và bán sơn địa, vùng ven biển, là t nh thuộc vùng nông nghiệp
truyền thống đồng bằng Sông Hồng với diện tích 1.400 km2, dân số 961.915 người.
Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa
học và công nghệ, T nh ủy, HĐND và UBND t nh đã ban hành các Nghị quyết, Ch
thị, Chương trình, Kế hoạch triển khai thực hiện sâu rộng và có hiệu quả các chủ
trương trên nhằm tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá;
phát triển công nghiệp công nghệ cao; nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng
hiện đại, bền vững, xây dựng nông thôn mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
và an sinh xã hội.
Tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ t nh Ninh Bình lần thứ 21 nhiệm kỳ 20152020 đã đề ra: “Nâng cao giá trị sản xuất trên 01 ha canh tác, phát triển nông nghiệp
theo hướng sản xuất hàng hoá”. Trong đó, với định hướng phát triển nông nghiệp,
lâm nghiệp, thủy sản theo hướng toàn diện, bền vững, hiệu quả, gắn với nhu cầu của
biểu như:
- Nguyễn Tiến Thịnh: Xã hội hoá các hoạt động chuyển giao và ứng dụng
tiến bộ KH&CN trên địa bàn t nh Ninh Bình, tác giả đề tài nhánh thuộc đề tài Xã
hội hoá các hoạt động khoa giáo trên địa bàn t nh Ninh Bình, năm 2011.
- Ngô Anh Thư: Ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nông
nghiệp ở t nh Bình Định. Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003.
- Phạm Xuân Thăng: Nâng cao hiệu quả hoạt động các mô hình chuyển giao
kỹ thuật và công nghệ tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp của thanh niên nông thôn
t nh Hải Dương. Luận văn thạc sỹ Quản lý KH&CN, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn Hà Nội, 2010.
- Phạm Đỗ Chí, Đặng Kim Sơn, Trần Nam Bình, Nguyễn Tiến Triển: Làm gì
2
cho nông thôn Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2005.
Các nghiên cứu đã phân tích được những ứng dụng thành tưu KH&CN vào
SXNN, đồng thời xác định vai trò, mối quan hệ, tác động của KH&CN đến quá
trình CNH - HĐH trong nông nghiệp, nông thôn ở một số địa phương. Tuy nhiên,
ngoài một số điểm chung, ứng dụng thành tưu KH&CN vào SXNN phụ thuộc vào
điều kiện đặc thù của từng địa phương. Trong khi đó hiện nay chưa có những
nghiên cứu về ứng dụng thành tưu KH&CN vào SXNN trên địa bàn t nh Ninh Bình.
Mặt khác, một số đề tài đã khảo sát các mô hình chuyển giao công nghệ trong
SXNN nhưng chưa đề cập đến các khía cạnh liên quan đến ứng dụng thành tựu
KH&CN cho nông nghiệp và một khía cạnh quan trọng khác là: cần phải có những
giải pháp gì để có thể khuyến khích các hoạt động ứng dụng thành tựu KH&CN cho
nông nghiệp nhằm phù hợp với bối cảnh mới hiện nay.
Câu hỏi đặt ra ở đây là: thực trạng ứng dụng KH&CN vào SXNN trên địa
bàn t nh Ninh Bình hiện nay là như thế nào? Ứng dụng KH&CN vào SXNN trên
SXNN ở t nh Ninh Bình, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, thu nhập cho người
nông dân.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động ứng dụng các thành tựu KH&CN vào
SXNN từ các đề tài, dự án KH&CN của t nh Ninh Bình.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Luận văn ch tập trung nghiên cứu ứng dụng thành tựu
KH&CN vào SXNN t nh Ninh Bình, trong đó tập trung vào lĩnh vực sản xuất cây
trồng và vật nuôi trên địa bàn t nh Ninh Bình hiện nay.
+ Về thời gian: Luận văn tập trung phân tích thực trạng giai đoạn 2013-2017
và định hướng, giải pháp giai đoạn 2018-2025.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập tư liệu
- Thông tin thứ cấp;
Thông tin thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu như các lý luận, kinh nghiệm trong
và ngoài nước, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn t nh Ninh Bình, tình hình
ứng dụng thành tựu của KH&CN vào SXNN được thu thập từ báo cáo các Sở ban
ngành, UBND t nh, Nghị quyết của HĐND t nh, Quyết định của UBND t nh.
- Thông tin sơ cấp;
Tham vấn ý kiến cán bộ quan lý trong lĩnh vực KH&CN tại các Sở Khoa học và
Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND t nh Ninh Bình và các
4
huyện thị xã trong toàn t nh, để thấy được bức tranh tổng thể về tình hình ứng dụng
thành tựu KH&CN và SXNN trên địa bàn t nh.
5.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích
5
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng dụng thành tựu khoa học và
công nghệ vào sản xuất nông nghiệp
- Chương 2: Thực trạng ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản
xuất nông nghiệp t nh Ninh Bình
- Chương 3: Chính sách thúc đẩy ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ
vào sản xuất nông nghiệp t nh Ninh Bình
6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ỨNG DỤNG THÀNH TỰU KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
1.1. Khái niệm về khoa học và công nghệ
Khái niệm khoa học
Khoa học, tiếng Latin là “Scientia”, “Science” là hệ thống tri thức gồm
những quy luật về tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích lũy trong quá trình nhận
thức thực tiễn, thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết.
Khoa học, theo nghĩa rộng nhất, đó là sự nghiên cứu một cách có hệ thống
các hiện tượng vật chất hoặc xã hội. Theo nghĩa hẹp, đó là sự nghiên cứu các hoạt
động vật chất hoặc xã hội bằng các phương thức như quan sát, thí nghiệm, trắc
- Tổ chức OECD, gồm các nước phát triển châu Âu, Nhật Bản, Mỹ và
Canada lại có một định nghĩa chung: Công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ
thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc
lựa chọn ch dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của
con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước.
Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 đã nêu “Công nghệ là giải pháp, quy
trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng
để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm…”. Theo quan điểm này, công nghệ bao gồm
phần cứng (công cụ, phương tiện...) và phần mềm (kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm...).
Cũng cần lưu ý thêm, công nghệ là tập hợp chứ không phải tổng số, nguồn lực bao
gồm nhân lực, vật lực, tài lực. Sản phẩm của công nghệ có thể dưới dạng hữu hình
hoặc vô hình, vật thể hoặc phi vật thể.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đi theo quan điểm của Luật
Khoa học và Công nghệ năm 2013. Theo đó công nghệ là toàn bộ hệ thống công cụ,
phương tiện kỹ thuật, bí quyết, phương pháp tổ chức, quản lý nhằm khai thác, biến
đổi nguồn lực thành các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu của
con người.
1.2. Khái niệm thành tựu khoa học và công nghệ
1.2.1. Thành tựu khoa học và công nghệ
Thành tựu là những kết quả đạt được, có ý nghĩa lớn sau một quá trình hoạt
động thành công
Theo Wikipedia.org, thành tựu khoa học và công nghệ là những kết quả có hàm
lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, được tích hợp từ thành tựu
khoa học và công nghệ hiện đại, nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt
trội, trị giá gia tăng cao và thân thiện với môi trường; đóng một vai trò rất quan trọng
đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa, công nghiệp
hóa các ngành sản xuất dịch vụ hiện có.
Thành tựu KH&CN đang được ứng dụng vào sản xuất trong tất cả các lĩnh vực,
các ngành như; Ngành nông nghiệp, công nghiệp, cơ khí hoá, điện khí hoá, tự động
thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y.
Những thành tựu KH&CN được ứng dụng vào SXNN có nội dung khác
nhau, phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
Thứ nhất, tính khoa học và mới mẻ của thành tựu KH&CN. Kết quả của công
trình được công bố là những thành tựu đạt được trong nghiên cứu, giá trị thực tiễn
của thành tựu KH&CN được thể hiện qua việc so sánh kết quả đạt được so với những
công nghệ sản xuất đã có trước đó. Ví dụ như ưu thế cho năng suất cao của giống lúa
9
Tám Xoan đột biến là: Cho năng suất cao, khả năng chống chịu với điều kiện thổ
nhưỡng rộng, kháng sâu bệnh, chất lượng cao.
Thứ hai, những tiêu chuẩn cụ thể về yêu cầu kỹ thuật của một thành tựu
KH&CN. Sản xuất nông nghiệp là: thời gian sinh trưởng, trọng lượng của hạt lúa
giống mới hay thành phần dinh dưỡng trong tiêu chuẩn thức ăn của lợn, bò, gà….
Những tiêu chuẩn đó là những thành phần cụ thể của một thành tựu KH&CN.
Thứ ba, Phương thức kết hợp các yếu tố vật chất của thành tựu KH&CN là
cần thiết cho người ứng dụng thành tựu KH&CN vào sản xuất vì nó chứa đựng
những ch dẫn cụ thể về nguyên tắc vận hành.
Thứ tư, những hạn chế của thành tự KH&CN là: Mức độ của sự tiến bộ tức
là tại thời điểm nhất định, thành tựu KH&CN chưa đạt được kết quả mong đợi của
người sản xuất. Chính những hạn chế này đòi hỏi phải có sự xuất hiện thành tựu
KH&CN mới.
1.3. Đặc điểm hoạt động ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản
xuất nông nghiệp và những yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động ứng dụng thành
tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp
Hoạt động ứng dụng thành tựu KH&CN trong SXNN có 5 đặc điểm cơ bản
như sau:
- Một là, phải mất thời gian tương đối dài để nghiên cứu tạo ra được những
+
Nhóm yếu tố về chỉnh sách: Hệ thống Luật pháp về KH&CN tạo ra
hành lang pháp lý cho các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN trong SXNN.
Chính sách là công cụ điều tiết hữu hiệu của Chính phủ nhằm hướng hoạt động nghiên
cứu và ứng dụng KH&CN trong SXNN phục vụ các mục tiêu chiến lược phát triển
nông nghiệp trong từng thời kỳ. Nhằm khuyến khích, thúc đẩy nghiên cứu và ứng
dụng thành tựu KH&CN trong SXNN, Chính phủ có thể sử dụng một hệ thống các
nhóm chính sách khác nhau: chính sách quản lý KH&CN, chính sách đầu tư cho hoạt
động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN trong SXNN, chính sách đãi ngộ cho đội ngũ
cán bộ nghiên cứu và chuyển giao ngành nông nghiệp,.. Nhóm yếu tố này cần được
thực sự quan tâm với chính sách đầu tư, ưu đãi ...
+ Nhóm yếu tố về nguồn nhân lực: Nhân lực chất lượng cao mới là yếu tố
có vai trò quan trọng nhất trong ứng dụng thành tựu KH&CN vào SXNN. Kết quả
của hoạt ứng dụng KH&CN vào SXNN phụ thuộc rất lớn vào số lượng và chất
lượng nguồn nhân lực này. Không ch là lực lượng cán bộ nghiên cứu và chuyển
giao mà còn bao gồm cả nhân lực tiếp nhận chuyển giao là đối tượng ứng dụng
thành tựu KH&CN.
+ Nhóm yếu tố về cơ sở vật chất kỹ thuật: Có thể nói cơ sở vật chất kỹ thuật
là nền tảng, là điều kiện cần để ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, các yếu tố
về cơ sở vật chất kỹ thuật liên quan trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp có thể nhắc
đến như hệ thống giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện; hệ thống
thông tin liên lạc… Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tốt, hiện đại cho phép ứng
dụng những thành tựu khoa học tiến bộ vào sản xuất nông nghiệp. Chúng ta không
thể áp dụng mô hình chăm sóc cây trồng bằng hệ thống tưới tự động tại những vùng
chưa có điện lưới hoặc điện lưới không ổn định…
11
công nghệ chìa khoá trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Israel. Theo
các nhà khoa học nông nghiệp nước này, nhà kính nông nghiệp công nghệ cao (Hitech greenhouses) là loại hình nhà kính ứng dụng các công nghệ cao, hiện đại để tạo
12
lập ra một môi trường sinh thái thuận lợi nhất có thể cho cây trồng sinh trưởng phát
triển; để thực hiện các công nghệ thâm canh cao; để tối thiểu hoá thậm chí có thể
loại trừ các yếu tố ngoại cảnh bất lợi cho sản xuất; để sản xuất ra loại nông sản thực
phẩm mà thiên nhiên không ưu đãi (trái vụ), thậm chí không sản xuất được ngoài
môi trường tự nhiên (như sản xuất nấm mỡ trên sa mạc); để tối đa hoá năng suất
chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất; tối thiểu hoá các khoản chi phí sản xuất
và đặc biệt là để tiết kiệm nước. Ngoài mục tiêu sản xuất ra các nông sản thực phẩm
“sạch” an toàn cho sử dụng, canh tác nhà kính đã tạo ra một cuộc cách mạng về
năng suất cho các loại cây trồng. Nhờ canh tác nhà kính mà năng suất cà chua ở
Israel đã đạt mốc 500 tấn/ha/vụ hay 3 triệu bông hồng/ha; cũng nhờ công nghệ canh
tác nhà kính mà Israel đã biến sa mạc Negev toàn cát đá (chiếm 65% diện tích đất
nước) trở thành một "cánh đồng xanh công nghệ cao" có năng suất cây trồng cao
nhất thế giới. Trong mấy thập kỷ qua, nhà kính ở Israel chủ yếu sử dụng cho canh
tác hoa, rau, các loại cây màu thực phẩm đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao, như ớt,
hành, tỏi, dưa v.v…Hiện tại, Israel đang phát triển loại hình nhà kính dùng để sản xuất
một số loại cây cảnh, cây ăn quả lưu niên vì mục tiêu thương mại và xuất khẩu như
nho, táo, đào, lê, vv. Những năm gần đây các loại hình công nghệ nhà kính ở Israel
không ngừng được phát triển nâng cao trình độ công nghệ đáp ứng chi tiết hơn, đa
dạng hơn các nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Cùng với việc
đẩy mạnh phát triển công nghệ nhà kính cho ngành trồng trọt, Israel còn phát triển
thêm một số loại hình nhà kính sử dụng cho ngành chăn nuôi, chủ yếu cho chăn nuôi
gia cầm và nuôi trồng thuỷ hải sản công nghệ cao trên sa mạc. Nhà kính công nghệ cao
Israel, ngoài việc đảm bảo yêu cầu kết cấu bền vững, yêu cầu cho việc thực hiện cơ
giới hoá đến mức cao nhất các công đoạn sản xuất, nhà kính còn có thể cho phép đáp
các dữ liệu đó, máy tính sẽ cho nông dân biết cần phải điều ch nh các ch tiêu nào
và mọi hoạt động đều được điều khiển thông qua các thiết bị thông minh. Ngoài ra,
để hỗ trợ nông dân xuất khẩu nông sản ra thị trường thế giới, Chính phủ nước này
cũng chủ trương đẩy mạnh quảng cáo, tiếp thị trực tiếp sản phẩm sang các thị
trường tiềm năng thông qua mạng Internet. Do đó, đến nay, khoảng 60% tổng sản
lượng hoa sản xuất ra được bán trực tiếp từ nông dân cho các nhà đấu giá hoa ở Tây
Âu; 20% còn lại xuất sang các thị trường truyền thống như Đông Âu, Mỹ; một phần
nhỏ bán sang châu Á – chủ yếu là Nhật Bản.
Về công nghệ sau thu hoạch: Israel không ch được biết đến với việc sáng tạo
ra công nghệ tưới nhỏ giọt – được ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới, quốc gia
này còn nổi tiếng với công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Nhằm phát triển công
nghệ nói trên, Chính phủ Israel đã thành lập Viện nghiên cứu khoa học thực phẩm
và sản phẩm sau thu hoạch thuộc Tổ chức nghiên cứu nông nghiệp (ARO), tại đây
các nhà khoa học thực hiện các nghiên cứu và cho ra đời nhiều công nghệ bảo quản
14
giúp nông sản được tươi ngon trong thời gian dài và vẫn giữ được giá trị dinh
dưỡng cao chẳng hạn như phương pháp bảo quản khoai tây không sử dụng hóa chất
để giảm đáng kể t lệ nảy mầm trong quá trình lưu trữ (với bí quyết chính là ở thành
phần dầu bạc hà), tăng thời hạn sự dụng cho quả lựu tới 4 tháng mà vẫn duy trì
lượng dinh dưỡng, sử dụng các túi khí vi đục, hay các hệ thống sưởi ấm giúp giải
quyết vấn đề về hình thức cho hành tây và tiêu. Ngoài ra còn có các công nghệ mới
khác như các phương pháp kéo dài tuổi thọ của táo Granny Smith; phát triển loại
ngũ cốc giàu protein đặc biệt cho thức ăn gia súc giúp tăng sản lượng sữa; công
nghệ không sử dụng GMO (biến đổi gien) với tên gọi Enhanced Ploidy (EP) có thể
giúp tăng sản lượng các loại cây trồng như ngô lên tới 50%.
Về nghiên cứu và phát triển (R&D): Bất chấp các điều kiện khắc nghiệt về
thời tiết, hạn chế về diện tích đất canh tác, sản lượng nông nghiệp của Israel liên tục
đầu thế giới về khoa học và công nghệ vào năm 2050. Điểm nổi bật của Kế hoạch
là coi đổi mới như một chiến lược quốc gia và đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.
Một trong các điểm nổi bật của Kế hoạch là “KH&CN nông nghiệp phải đạt được
trình độ tiên tiến trên thế giới, để nâng cao tính cạnh tranh trong nông nghiệp và đảm
bảo an ninh lương thực quốc gia”. Để thúc đẩy SXNN phát triển, Trung Quốc đã xác
định phương hướng nghiên cứu KH&CN NN như sau: “ 1), Biến đổi các công nghệ
nghề nông thông thường bằng cách áp dụng công nghệ cao nhằm nâng cao năng suất
nông nghiệp toàn diện theo cách bền vững. Ưu tiên cho việc nghiên cứu ứng dụng
công nghệ sinh học, đẩy mạnh sự tích hợp và tương hợp của các ngành với nhau đặc
biệt là ngành công nghệ nông nghiệp; 2), Mở rộng dây chuyền sản xuất nông nghiệp
nhằm đạt được sự cải tiến nông nghiệp tổng thể, ưu tiên phát triển các công nghệ tinh
chế trong sản xuất nông nghiệp, giảm thất thoát sau thu hoạch, đưa vào ứng dụng
thương mại dây chuyền cung ứng xanh. Phát triển các công nghệ và thiết bị chế biến
và giám sát an toàn thực phẩm. 3), Nghiên cứu, phát triển công nghệ sản xuất thuốc
bảo vệ thực vật và phân bón sinh học dễ phân hủy và an toàn tuyệt đối cho con người
và vật nuôi. Tận dụng phế thải nông và lâm nghiệp để đưa vào tái sản xuất; 4), Phát
triển nền nông nghiệp theo mô hình nhà máy (factory-like) nhằm tăng năng suất lao
động trong các hoạt động nông nghiệp.
Các chủ đề ưu tiên: 1), Bảo tồn, phát huy các nguồn Gen quý hiếm; 2), Áp dụng
các biện pháp an toàn trong chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản, liên kết phòng
tránh và kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh; 3). Nghiên cứu cách chế biến tinh các sản phẩm,
các phương tiện bảo quản và vận chuyển nông sản tiên tiến, hiện đại; 4). Phát triển và
sử dụng tích hợp sinh khối nông lâm nghiệp; 5), An toàn sinh thái nông lâm nghiệp và
lâm nghiệp hiện đại; 6), Sản xuất các loại thuốc bảo vệ thực vật và phân bón thân thiện
với môi trường, an toàn cho con người và vật nuôi. 7), Phương tiện và thiết bị nông
16
nghiệp đa chức năng; 8), Nông nghiệp chính xác và tin học hóa kèm theo;
nghiệp nhằm giúp nông dân có kiến thức sản xuất, tiếp cận thị trường nông sản trong
17
nước và thế giới. Chính phủ Thái Lan đã cho xây dựng 6 trung tâm nghiên cứu về
cây trồng vật nuôi đặt ở các vùng miền. Mỗi trung tâm có một chức năng và nhiệm
vụ nghiên cứu các giống cây trồng, vật nuôi chuyên biệt để đưa vào sản xuất trong
vùng đó; tăng cường công tác chuyển giao kỹ thuật cho người nông dân, đào tạo nghề
cho nhân dân trong vùng. Chi phí cho nghiên cứu, ứng dụng được Chính phủ tài trợ
tập trung cho các nông sản xuất khẩu có giá trị và vị trí chiến lược đối với nền kinh
tế. Cục triển khai nông nghiệp Thái Lan (DOAE) là cơ quan khuyến nông hoạt động
có hiệu quả của nhà nước. Cơ quan này hàng năm sử dụng nguồn kinh phí 1.358 triệu
bạt (54 triệu USD) cho công tác khuyến nông [1, tr.8]. Cơ quan khuyến nông không
ch triển khai các kỹ thuật mới thông qua tham quan, đào tạo mà còn sản xuất một
khối lượng lớn các loại hạt giống mới phục vụ sản xuất. Cùng với các chương trình
ưu tiên sản xuất nông, thủy sản xuất khẩu, chính phủ còn mở rộng cửa để thu hút các
nhà đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản, chú trọng đến công nghệ hiện đại để tạo
nên những sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường lớn. Do vậy, hàng nông
sản của Thái Lan hết sức đa dạng, mẫu mã đẹp, có độ tin tưởng về an toàn vệ sinh
thực phẩm và đã được các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, EU chấp nhận. Từ
những cách làm đó đã đưa nền nông nghiệp Thái Lan trở thành một nền nông nghiệp
lớn, một cường quốc về xuất khẩu gạo của thế giới.
1.4.2. Kinh nghiệm trong nước
1.4.2.1 Kinh nghiệm ở t nh Lâm Đồng
Lâm Đồng là t nh có nhiều tiềm năng, lợi thế về tài nguyên đất đai, khí hậu,
nguồn nước, nguồn nhân lực và điều kiện sinh thái phù hợp phát triển sản xuất nông
nghiệp hàng hóa, nhất là những loại nông đặc sản có ưu thế như rau, hoa cao cấp.
Đến nay trên địa bàn t nh Lâm Đồng có 8 doanh nghiệp được công nhận doanh
nghiệp NNCNC, tạo cơ hội cho nông dân tiếp cận và ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ
với sản xuất; KH&CN là yếu tố quyết định nâng cao năng suất lao động, chất lượng
và hiệu quả tăng trưởng, tăng khả năng cạnh tranh cho nền kinh tế, xác định nông
nghiêp ứng dụng công nghệ cao là một trong những khâu đột phá để phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương hiện tại và tương lai. Chương trình nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao t nh Lâm Đồng đã đưa ra những định hướng lớn cho nông dân
và doanh nghiệp với những giải pháp chính sách cơ bản sau: (1) Quy hoạch sản
xuất NNƯDCNC; (2) Chính sách đất đai; (3) Chính sách khoa học và công nghệ;
(4) Chính sách xúc tiến thương mại; (5) Chính sách về đào tạo nguồn nhân lực, đặc
biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; (6) Chính sách tín dụng và (7) Chính sách
hợp tác và hội nhập quốc tế.
Thuận lợi về điều kiện sinh thái, sự ch đạo quyết liệt của các cấp ủy đảng và
thực thi nhiệm vụ của các cấp chính quyền địa phương, thu hút được doanh nghiệp
và bà con nông dân, tiếp cận ứng dụng công nghệ mới vào trong sản xuất. Hiện nay,
19
Lâm Đồng đã tiếp cận được công nghệ mới như nhà kính, nhà lưới, tưới nước tiết
kiệm, công nghệ sinh học, công nghệ xử lý môi trường, công nghệ thủy canh...
được áp dụng đồng bộ.
Công tác quy hoạch được triển khai sớm, đảm bảo phù hợp điều kiện sinh
thái, phát huy lợi thế cạnh tranh của từng địa phương... Xác định rõ doanh nghiệp là
đội ngũ tiên phong làm NNCNC.
Đặc biệt, đúc rút kinh nghiệm làm NNCNC của Lâm Đồng trong thời gian
qua. Làm NNCNC phải thực hiện nguyên tắc “4 lấy”: Lấy doanh nghiệp làm nòng
cốt, lấy nông dân làm chủ thể, lấy KH&CN làm then chốt, lấy liên kết sản xuất để
phát triển bền vững. Tùy theo mỗi giai đoạn thì thực hiện 4 lấy này với những yêu
cầu khác nhau và ngày càng cao hơn
1.4.2.2 Kinh nghiệm ở Thành phố Hồ Chí Minh
Nông nghiệp công nghệ cao tại Thành phố Hồ Chí Minh với đặc trưng là