CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN TÍNH mơ hồ TRONG NGÔN NGỮ THƠ TƯỢNG TRƯNG - Pdf 51

CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU
HIỆN TÍNH MƠ HỒ TRONG
NGÔN NGỮ THƠ TƯỢNG
TRƯNG


- Tính mơ hồ trong ngôn ngữ thơ tượng trưng được
tạo ra qua các hình ảnh ẩn dụ, các ngữ âm lạ, lối so sánh
đặc biệt và các kết hợp từ
-Tính mơ hồ trong ngôn ngữ thơ tượng trưng được thể
hiện qua các hình ảnh ẩn dụ
Nếu như chủ nghĩa lãng mạn coi thế giới là hữu hình,
miêu tả cảm xúc một cách trực tiếp, chẳng hạn như các nhà thơ
lãng mạn bộc lộ tâm trạng một cách không che dấu, coi trọng
cảm xúc tình cảm:
“Hôm nay trời nhẹ dâng cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”.
(Xuân Diệu)
Thì các nhà thơ tượng trưng ngược lại, nhìn thế giới ở
trạng thái vô hình, nên không còn bộc lộ tình cảm trực tiếp
không còn là truyền cảm nữa mà là gợi cảm, ám thị. Bên cạnh
đó thơ truyền cảm thì người đọc có thể dễ dàng nhận ra được
những thông điệp những cung bậc cảm xúc mà tác giả muốn
bộc bạch, còn thơ gợi cảm thì người đọc khó nắm bắt. Và người
đọc phải tự cảm nhận tự khai mở để có thể tiếp nhận được


những phần tinh túy nhất của thơ. Như vậy ngôn ngữ có thể
giúp thi nhân truyền tải được những ý tưởng của mình về thế
giới đến người đọc thông qua những hình ảnh ẩn dụ. Các hình
ảnh ấy được chắp vá, đứt đoạn khiến cho chúng trở nên độc đáo

nhân màu sắc của “chén trăng” thi nhân đã dắt người đọc
thưởng thức hương vị của tình yêu mật ngọt “say tình ái”. Chén
trăng đã trỏ thành người yêu hay người yêu trở thành chén
trăng? Đỗ Lai Thuý trong “Mắt thơ” đã bình thật độc đáo: “Ẩn
dụ chén trăng đã làm nổ một dây chuyền ngữ nghĩa. Trăng màu
vàng, nên chén trăng cũng là chén vàng (màu vàng), nhưng khi


thi nhân hạ bút vàng ròng thì chén trăng lại thêm một lần
chuyển nghĩa nữa, chén bằng vàng, biểu tượng của sự quí giá.
Chén làm liên tưởng đến thứ đựng trong chén, rượu nên có
thể kề môi và say, nhưng say ân ái thì chén trăng lại là chén tình
yêu. Vầng trăng bỗng thoắt biến thành người yêu, hoặc người
yêu biến thành vầng trăng lúc nào không ai hay”.
-Tính mơ hồ trong ngôn ngữ thơ tượng trưng được thể
hiện qua các ngữ âm lạ
Ngôn ngữ thơ là phương tiện có thể khiến chúng ta “cảm
thông đến cái vô cùng”, thấu hiểu được tận cùng mọi ý nghĩa và
thâm nhập được vào mọi cái đẹp tiềm tàng huyền diệu của thiên
nhiên vũ trụ.
Ngôn ngữ lạ hóa là thứ ngôn ngữ khiến cho người đọc
thấy mới, cũng có thể nó phá vỡ những quy cách thông thường,
khó hiểu nhưng ngược lại nó gây hiệu quả thẩm mỹ, giúp cho
lời thơ thêm huyền ảo mơ hồ đa nghĩa.
Bích Khê cũng có những câu thơ sử dụng ngôn ngữ lạ hóa
gây mơ hồ hư ảo:
“ Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tay mềm



theo một khuôn phép nào cả. Ngôn ngữ thơ trở thành phương
tiện để bạn đọc có thể cảm nhận thơ. Để có thể lột tả được hết
thế giới nội tâm của mình Bích Khê đã dung ngôn ngữ, thật lạ
vì thi nhân đã vật chất hóa những gì thuộc về thể lỏng, chẳng
hạn mắt được ví như ngọc:
“Hỡi đôi mắt, nơi người là ngọc thạch”.
Và ngược lại nhà thơ lại hóa lỏng những gì thuộc về
thể rắn sang thể lỏng:
“Lệ tích lại sắp tuôn hang đũa ngọc”.
(Tranh lõa thể)


Trong thơ Bích Khê ngôn ngữ về thân thể là ngôn ngữ táo
bạo nhất và cũng là ngôn ngữ lạ hóa nhất. Ngôn ngữ thân thể
trong thơ ông có thể chia thành các phần như sau: Phần ngoại lộ
có thể kể đến như: da, môi, vai, tóc…; Những phần được che
kín như ngực, bụng…; Ngôn ngữ nói về những cảm xúc thầm
kín trong lòng như: buồn, vui, uống, say, cắn…; Và một phần
nữa là phần bí ẩn trong cơ thể con người, chỉ thấy được khi mà
con người ta phải đối diện trước sự sống hay cái chết như : sọ,
tủy, máu, xương…Tất cả các bộ phận trên cơ thể con người đều
trở thành thứ ngôn ngữ mới lạ gây đam mê mê hoặc người đọc.
Hãy xem trong bài thơ “Mộng cầm ca” thi nhân viết:
“Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?
Vú non non? Da dịu dịu, êm êm?
Đâu hang báu cho ta phải khóc?
Trên môi son ta liếc lưỡi gươm mềm!”
Hay:
“Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm
Một bàn chân ve vuốt một bàn chân

(Nhạc – Bích khê)
Màu không gian trắng nhẹ nhàng nhưng âm điệu lại thật
dữ dội “gờn gợn sóng”. Hình ảnh so sánh giữu hai vật hữu hình
với nhau, không gian màu trắng là cái vô hình lại được so sánh
với cái hữu hình: con sóng gợn gợn khiến cho không gian trải
dài như những lớp sóng trùng điệp miên man, làm cho tâm thức
người đọc mơ hồ phải suy tư tưởng tượng.
Thơ tượng trưng thường sử dụng các từ để so sánh, chẳng
hạn:
“Ngọc Kiều! Ngọc Kiều! Ðến cặp song
đôi
Cho tôi đọ vẽ hương trời sắc nước”.
( Tranh lõa thể - Bích Khê)


Hay trong bài thơ “Hồ Xuân Hương” tác giả Bích Khê
viết:
“Xanh liễu ngoài song vừa đổi biếc
Màu thi sắc lá đọ dung nghi”.
Theo tác giả Lê Lưu Oanh trong bài “Thơ Bích Khê - Một
thể nghiệm thơ tượng trưng” có viết: “Tuy có đem hai hay
nhiều sự vật, hiện tượng đặt ở thế trực tiếp để đối lập nhau
nhưng kết quả so sánh thì thường là ngầm ẩn, còn các mô thức
còn lại đều ít nhiều mang lại hiệu quả so sánh”. Hay trong bài
thơ “Hồn ngàn xưa”, Nguyễn Xuân Sanh viết:
“Hồn ngàn mùa lạnh lẽo tay hương.
Hoàng hôn kinh dậy đất mênh mông
Trái đẹp sau xưa gợn gió bồng
Vai sầu chín thuở Đức say Bông
Người ngàn mùa kiếp trắng nghiêng

nhà thơ lại kết hợp với các từ mang tính trừu tượng khó nắm bắt
“thiêng liêng”, và “thanh sắc” khiến cho ý thơ mờ nhòe giữa cái
hữu hình với cái vô hình, giữa thực và hư.
Trong bài thơ “Một cõi trời”, cũng bắt gặp kết hợp từ rất
lạ:
“Trí thơm tho nên rung động bồi hồi
Trong phút lạ! - mơ hồ xương sọ vỡ...”
(Bích Khê)
Hoặc bài “Mộng”:
“Có người thi sĩ nhặt hoa rụng.
Những cánh đau thương sắp mặt lầu”.
Các kết hợp từ “trí thơm tho”, “cánh đau thương”, là sự
sáng tạo tuyệt vời của thi nhân, đó là phép thơ rất riêng của ông,
một phép thơ đã khiến cho thơ đầy hương sắc âm thanh, dẫn dắt
người đọc vào thế giới đầy mơ hồ huyền bí.
- Âm nhạc trong ngôn ngữ thơ tượng trưng
tạo tính mơ hồ đa nghĩa


Theo tác giả Lê Lưu Oanh: “Nhạc không chỉ là nhịp điệu của
thế giới huyền diệu mà còn là nhịp điệu của vũ trụ, của thế giới
tâm linh sâu thẳm, là nhịp điệu của hồn thơ, của sáng tạo”. (Thơ
Bích Khê- Một thể nghiệm thơ tượng trưng). Nhìn thế giới bằng
con mắt âm nhạc chính là một bước đi của thơ ca tượng trưng với
tuyên bố của P.Veclen, thi sĩ nổi tiếng của trường phái thơ tượng
trưng Pháp: “Âm nhạc đi trước mọi thứ. Nơi nơi thế giới hòa tan
trong nhạc”.
Bích Khê là thi sĩ đi theo quan điểm của Verlaine “trên hết
mọi sự của thơ là âm nhạc”. Đối với thi nhân thơ phải là sự kết
hợp hài hòa là sự hội tụ đủ các yếu tố hội họa, âm nhạc, điêu

Nhạc tính nổi bật trong thơ của thi nhân chính là nhạc tính
thơ bình thanh, thi sĩ đã khoác lên mình thơ bộ áo âm thanh


mượt mà êm ái đầy ảo diệu mà mơ hồ đầy cảm xúc. Nhà thơ
Xuân Diệu cũng có những câu thơ sử dụng bình thanh:
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng long lên chơi vơi”.
(Nhị hồ)
Nguyễn Xuân Sanh trong bài thơ “Xây mơ” cũng có viết:
“Tay sương lam mờ đường buông tơ,
Nghe sương lam mờ đường giăng tơ,
Đêm rải men tràn nơi lối đi
Hàng dương say đường thôi ngâm thơ”.
Tuy vậy đây mới chỉ là ngẫu hứng phải đến thơ Bích Khê
thì sức mạnh về bình thanh mới được khẳng định. Hãy xem bài
thơ “Tỳ bà”, toàn bộ bài thơ toàn sử dụng thanh bằng với những
câu thơ được coi là tuyệt bút:
“Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi”.
Lời ca vang lên nhẹ như hơi thở, như tiếng nhạc điệu ngân
nga réo rắt, bình thản đến lạ, như dẫn dắt con người ta vào


mênh mông xa vắng mà mơ hồ ảo diệu. Khiến cho ta lạc vào
chốn bồng lai tiên cảnh “bồng lai tiên nhạc phách” là chốn thần
tiên, cõi mộng cõi mơ. Gam màu mùa thu trong thơ ông cũng
thật lạ. Mây màu “nhung”, còn sương màu “lam”, tất cả đều
thật khiến cho người ta thêm mơ hồ ảo diệu.
Thơ Bích Khê du dương luyến láy như những nốt nhạc

Vườn thơ của ông ngân vang đầy nhạc điệu”. Với Bích Khê ngoài
trời là cả một trời nhạc, chẳng thế mà thi nhân đã viết:
“Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà
Thơ ngà ngà say, thơ ngà ngà say.


Nàng ơi đừng động, có nhạc trong giây
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trời mây”.
(Nhạc)
Nhạc bao trùm khắp không gian hòa giữa con người và
cảnh vật. Nhạc lan tỏa khắp nơi nơi, nhạc làm nên hồn của thế
giới huyền diệu này, nó làm xôn xao cả vạn vật, lan truyền từ
trong tiềm thức của mỗi con người đến cả vũ trụ bao la. Nhạc
được tạo ra bởi thủ pháp điệp từ:
“Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan.
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn,
Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân…
Đầm mưa xuống, nẻo đồi mưa xuống,
Bóng dương tà rụng bóng tà dương.
Hoa xuân rơi với bóng dương
Mưa trong ý khách mưa cùng nước non.
(Tiếng đàn mưa)


Điệp từ “mưa” và điệp ngữ “mưa xuống” được nhắc lại
khiến cho không gian được mở rộng ra hơn, mưa xuống “thềm
lan”, mưa xuống đầm, mưa xuống đồi. Mưa từ hữu hình cụ thể
chuyển sang trạng thái hư vô “mưa trong ý khách, mưa cùng
nước non”. Tiếng mưa tạo thành bản nhạc đàn mưa khiến cho

mơ mộng huyền diệu này. “Nhạc không chỉ là nhịp điệu của thế
giới huyền diệu mà còn là nhịp điệu của vũ trụ, của thế giới tâm
linh sâu thẳm, là nhịp điệu của hồn thơ, của sáng tạo. Nhìn thế
giới bằng con mắt âm nhạc chính là một bước đi của thơ ca tượng
trưng với tuyên bố của P.Veclen, thi sĩ nổi tiếng của trường phái
thơ tượng trưng Pháp: Âm nhạc đi trước mọi thứ”. (Lê Lưu OanhBích Khê một thể nghiệm thơ tượng trưng)


Kỹ thuật điệp từ điệp ngữ trong thơ Bích Khê đã đạt tới
mức nghệ thuật vi diệu khiến cho lời thơ đẹp long lanh lại gây ấn
tượng hư vô cho người đọc. Âm hưởng thơ trôi chảy nhẹ nhàng
bay bổng như làn gió thổi như áng mây bay:
“Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của gương hồ im lặng tợ bài thơ.
Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nằng
nặng
Đây bài thơ không tiếng của đêm thơ
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của hồn thu đi lạc ở trong mơ”.
(Mộng cầm ca)
Âm nhạc trong thơ Bích Khê không có những âm điệu ồn
ào, giòn giã, nhưng về ngữ điệu thì thật mạnh mẽ dồn dập, tạo sức
ám gợi đi vào thế giới tâm linh sâu thẳm, màu sắc thì thật hư ảo
mông lung “trăng gây vang”, “vàng gây nên sắc trắng”. Màu sắc
tthật lạ đem đến cho người đọc cảm giác thật mới mẻ, đi đến
những khoái lạc trong tưởng tượng bởi sự mơ hồ trong từng màu
sắc âm thanh.


Như vậy âm nhạc trong thơ đã làm cho thơ của thi nhân

mọi sự việc. Như vậy nếu thiếu cảm quan cảm nhận của người
đọc thì thời gian nghệ thuật không thể tồn tại được.
Chúng ta bắt gặp rất nhiều hình ảnh về thời gian trong thơ
ca. Chẳng hạn như: Xuân Diệu là nhà thơ sống cuống quýt vội
vàng vồ vập với sự sống, muốn quấn riết với đời:
“Ta ốm bó cánh tay ta làm rắn,
Làm dây da quấn quýt cả mình xuân.
Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần.
Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất”.
(Thanh niên )


Không phải Xuân Diệu là người đầu tiên băn khoăn về
vấn đề thời gian. Trước ông các thi gia cổ điển cũng đã suy
ngẫm về sự ngắn ngủi của thời gian của cuộc đời. Nhà thơ Lý
Bạch đã triết lý về cuộc đời của con người qua sự đổi màu của
mái tóc:
“Sớm còn xanh mượt như tơ.
Tối đà như tuyết bạc phơ đời đời”.
Còn Thôi Hiệu đời Đường thì mượn những cánh hoa rơi
để diễn tả nhịp trôi chảy của thời gian:
“Mùa xuân mới đó trôi như nước.
Hoa mới hôm qua nay đã rơi”.
Thời gian trong “Xuân Thu nhã tập” cũng mang tính mơ hồ
đa nghĩa bởi nó góp phần làm bừng tỉnh những cung bậc cảm xúc
mà thi nhân muốn gửi gắm.
“Xuân Thu nhã tập” ra đời khi Thơ mới đã rơi vào bế tắc,
khủng hoảng. Cái tôi- mảnh đất linh diệu của Thơ mới đã được
đào sâu đến tận cùng, và lúc này, đã mất hết sức sống. Trong xu
thế đó, “Xuân Thu” đã trăn trở và tìm một hướng đi mới cho thơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status