Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường mạo khê, thị xã đông triều, tỉnh quảng ninh - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

ĐÀO THỊ PHƯƠNG THẢO

XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ Ở
PHƯỜNG MẠO KHÊ, THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU,
TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Khóa 5 (2016 – 2018)

Hà Nội, 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

ĐÀO THỊ PHƯƠNG THẢO

XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ Ở
PHƯỜNG MẠO KHÊ, THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU,
TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 8319042

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Huệ

Hà Nội, 2018

: Lao động Thương binh Xã hội

MTTQ

: Mặt trận Tổ quốc

PCT

: Phó chủ tịch

TDĐKXDĐSVH : Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
TDTT

: Thể dục thể thao

TNHH MTV

: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

TTN

: Thanh thiếu niên

UBND

: Ủy ban nhân dân

VHVN

: Văn hóa văn nghệ

2.1.1. Ban chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa thị xã Đông Triều ........................................................................... 40
2.1.2. Phòng Văn hóa và Thông tin thị xã Đông Triều ............................... 41
2.1.3. Ban Văn hóa xã hội phường Mạo Khê.............................................. 43
2.1.4. Ban Chỉ đạo Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa phường Mạo Khê ........................................................................... 44
2.2. Cơ chế phối hợp xây dựng đời sống văn hóa ....................................... 45
2.3. Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở phường Mạo Khê ............ 48
2.3.1. Công tác ban hành và triển khai các văn bản quản lý ....................... 48
2.3.2. Xây dựng văn hóa trong chính trị ..................................................... 49
2.3.3. Xây dựng nếp sống văn hóa .............................................................. 53
2.3.4. Tổ chức các phong trào văn hóa ....................................................... 58


2.3.5. Xây dựng và tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao ở các thiết chế
văn hóa ........................................................................................................ 71
2.3.6. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm...................................... 75
2.3.7. Nhận xét, đánh giá về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở phường
Mạo Khê ...................................................................................................... 75
Tiểu kết ........................................................................................................ 79
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ Ở
PHƯỜNG MẠO KHÊ ................................................................................ 81
3.1. Các yếu tố cơ bản tác động đến sự phát triển đời sống văn hóa ở
phường Mạo Khê......................................................................................... 81
3.1.1. Yếu tố tích cực .................................................................................. 81
3.1.2. Yếu tố tiêu cực .................................................................................. 82
3.2. Phương hướng về phát triển văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa ...... 84
3.2.1. Phương hướng của tỉnh Quảng Ninh ................................................ 84
3.2.2. Phương hướng của thị xã Đông Triều ............................................... 85

Trong đời sống xã hội của con người, ngoài việc làm ra của cải vật
chất để thỏa mãn cuộc sống của mỗi người thì bên cạnh đó nhu cầu thụ
hưởng và sinh hoạt văn hóa để thư giãn trong lúc nhàn rỗi sau những giờ
lao động mệt nhọc cũng là một việc rất quan trọng, đó là nhu cầu thiết thực
trong đời sống nhân dân hiện nay.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa VIII) đã xác định: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội" [22, tr.3], vì vậy:
“Phải đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân, đặc
biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, bảo đảm mỗi nhà máy,
công trường, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện đều có đời sống văn
hóa" [22, tr.9].
Quan điểm đó được nhấn mạnh hơn ở Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X, nhiệm kỳ 2005 - 2010: “Tiếp tục phát triển sâu rộng
và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
phát triển văn hóa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế
- xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội” [25].


2

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 9 (khóa XI) đã
đánh giá 15 năm thực hiện Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng
lần thứ 5 (khóa VIII), khẳng định sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa,
con người Việt Nam đã có bước chuyển biến tích cực và đạt kết quả quan
trọng. Đời sống văn hoá của nhân dân ngày càng được nâng cao, nhiều
chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành… Tuy nhiên so với
những thành tựu trên các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, an ninh quốc
phòng, đối ngoại thì những thành tựu về lĩnh vực văn hóa chưa thực sự nổi

Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài “Xây dựng đời sống văn
hóa cơ sở ở phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý văn hóa, mong
muốn góp phần công sức nhỏ bé của mình để hạn chế những yếu kém trong
công tác xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương mình, phát triển hoạt
động văn hóa, hướng nhân dân giữ bản sắc và phát huy nền văn hóa dân
tộc, xóa đói giảm nghèo, giảm dần tệ nạn xã hội, nâng cao dân trí, ổn định
trật tự xã hội, thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của
chính quyền địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu
Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là một chủ trương lớn của Đảng
và Nhà nước ta, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng
nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc. Thời gian
qua, công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở đã và đang thu được
những thành tựu khả quan, góp phần tích cực vào việc thực hiện các nhiệm
vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Các hoạt động văn hoá ở cơ sở tập
trung vào triển khai đưa Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về “Xây dựng
nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” vào cuộc sống. Vì vậy, vấn
đề này đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và
quản lý văn hóa.


4

2.1. Các cuốn sách, công trình viết về lý luận chung xây dựng đời sống
văn hóa
Tác giả Hoàng Vinh trong công trình “Mấy vấn đề lý luận và thực
tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay” (Viện Văn hóa và văn hóa thông
tin Hà Nội, 1999) đã nhấn mạnh vai trò của việc tổ chức xây dựng đời sống
văn hóa cơ sở chính là bước đi ban đầu nhằm xây dựng nền văn hóa tiến

hóa, nếp sống văn hóa [13].
Bên cạnh đó còn khá nhiều cuốn sách đề cập đến vấn đề xây dựng
đời sống văn hóa ở cơ sở như: Cuốn Về văn hóa và xây dựng đời sống văn
hóa của tác giả Nguyễn Hữu Thức xuất bản năm 2005 [50]. Cuốn Về phát
triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
của Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm năm 2001 [35]; Cuốn Hỏi và đáp
về phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa của Ban chỉ
đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" Trung
ương (2000) [7]
2.2. Các luận văn liên quan đến xây dựng đời sống văn hóa
Viết về đề tài xây dựng đời sống văn hóa cơ sở có rất nhiều các luận
văn, khóa luận tốt nghiệp của các học viên cao học, sinh viên các trường
đại học văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là các bài báo, tạp chí do các cơ quan
quản lý về văn hóa trong cả nước đăng tải về xây dựng đời sống văn hóa ở
cơ sở tại địa phương. Chẳng hạn các công trình sau:
Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý văn hóa của tác
giả Hoàng Văn Tầm (2011), Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường
Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, Trường Đại học Văn hóa, Hà Nội. Các luận văn
tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý văn hóa của trường Đại học Sư
phạm Nghệ thuật Trung ương: “Xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Đông
Triều, tỉnh Quảng Ninh”, Hoàng Văn Vinh (2012); “Xây dựng đời sống văn


6

hóa cơ sở trên địa bàn phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, Thành
phố Hà Nội”, Nguyễn Thị Thu (2012); “Công tác xây dựng đời sống văn
hóa cơ sở trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ”, Nguyễn Anh
Hùng (2014); “Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở thành phố Hải Dương,
tỉnh Hải Dương”, Đinh Thị Thu Mai (2014); “Xây dựng đời sống văn hóa

4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn tập trung khảo sát, nghiên cứu thực trạng
công tác xây dựng đời sống văn hóa ở phường Mạo Khê, thị xã Đông
Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác xây dựng đời sống văn
hóa cơ sở ở phường Mạo Khê từ năm 2011 đến nay, đây là thời điểm
phường Mạo Khê bắt đầu triển khai mạnh công tác “Chỉnh trang đô thị” và
xây dựng “Đô thị văn minh” (chương trình xây dựng Nông thôn mới, nông
thôn kiểu mẫu) và là thời gian chuyển đổi từ thị trấn lên phường.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tra cứu tài liệu: Trên cơ sở các tài liệu, công trình
nghiên cứu về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của các nhà khoa học đi
trước, tác giả luận văn đã phân tích, tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên cứu
liên quan đến công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở để từ đó vận dụng
vào vấn đề nghiên cứu ở luận văn.
- Phương pháp khảo sát thực địa: qua việc quan sát, ghi hình, chụp ảnh
về đời sống văn hóa cơ sở ở phường Mạo Khê.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích: Đây là phương pháp thu thập,
cập nhật tài liệu, thông tin để giúp tác giả luận văn có cái nhìn sâu sắc hơn
về thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa phường Mạo Khê.
- Phương pháp thăm dò ý kiến, phỏng vấn sâu: Dùng mẫu phiếu thăm
dò ý kiến đối với người dân trên địa bàn và phỏng vấn những cán bộ làm
công tác văn hóa tại địa phương để nắm được thực trạng của công tác xây


8

dựng đời sống văn hóa cơ sở, những ưu điểm và hạn chế, từ đó đưa ra
những giải pháp cụ thể nâng cao đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn.
Ngoài những phương pháp chính trên, tác giả còn sử dụng phương

Đơn vị cơ sở là hình thái tổ chức cơ bản của xã hội. Đó là những
cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt diễn ra trong đời
sống hằng ngày. Theo tinh thần văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
V (1982) thì "Đơn vị cơ sở là làng, xã, phường ấp, nhà máy, công trường,
nông trường, đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, cơ quan trường
học, bệnh viện, cửa hàng và cộng đồng xã hội tương đương" [21]. Như vậy
khái quát là mỗi cộng đồng dân cư địa bàn sinh hoạt cố định và tổ chức
hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, đơn vị vũ trang, ổn định được
coi là một đơn vị văn hóa cơ sở. Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là xây
dựng văn hóa ngay trong đời sống hằng ngày của nhân dân. Bởi vì chính cơ
sở là nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội là nơi
thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước và quyền làm chủ của
nhân dân. Đây cũng là nơi để quần chúng nhân dân xây dựng đời sống văn
hóa và hưởng thụ các giá trị văn hóa, sáng tạo ra những văn hóa mới.
1.1.1.2 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở khắp các quốc gia
trên thế giới và ở các thời đại và hoàn cảnh khác nhau. Văn hóa là sản
phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại. Văn hóa có nguồn


10

gốc từ tiếng La - tinh “Cultus”, có nghĩa là vun trồng, gieo trồng, sau
chuyển nghĩa thành vun trồng trí tuệ con người. Sau này từ “Cultus” chữ
La tinh được ghi thành từ Culture tiếng Anh, có nghĩa là văn hóa và trở
thành thuật ngữ khoa học ở phương Tây vào giữa thế kỷ XIX. Khi đời sống
của con người càng phát triển cùng với những bước tiến vượt bậc của văn
minh, khoa học, giáo dục, văn hóa được gắn bó với lao động sáng tạo, làm
cho đời sống con người ngày càng hoàn thiện hơn. Do nhu cầu phản ánh
các hoạt động xã hội, khái niệm văn hoá đã được mở rộng trên nhiều lĩnh

kinh tế đến đời sống tinh thần, tình cảm, giáo dục, tâm linh, các hoạt động
sinh hoạt hàng ngày. Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng
vấn đề văn hoá và tư tưởng. Người quan niệm:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới
sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá [40, tr.431].
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hoá là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã
sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn, là toàn bộ những gì do con người sáng tạo ra, ở đâu có con người, quan
hệ giữa con người với con người thì ở đó có văn hoá. Văn hóa là những gì
gần gũi nhất xung quanh chúng ta, nhìn thấy, sờ thấy, nghe thấy, dù là văn
hoá vật chất hay văn hoá tinh thần cũng đều là sản phẩm trực tiếp hay gián
tiếp của con người, do con người sáng tạo ra vì mục đích của cuộc sống.
Theo tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam,
ông định nghĩa "Văn hóa là các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội" [48, tr.10].


12

Đảng ta có quan điểm cho rằng văn hóa và xây dựng đời sống văn
hóa là quá trình xuyên suốt toàn bộ tiến trình lãnh đạo của Đảng từ năm
1930 đến nay và khẳng định văn hóa, văn nghệ là bộ phận khăng khít và
gắn bó với đời sống nhân dân.
Trong cuốn Đề cương văn hóa Việt Nam do cố Tổng Bí thư Trường
Chinh khởi thảo và công bố năm 1943 đã xác định: “Văn hóa gồm tất cả tư

vai trò cán bộ gương mẫu của người cộng sản, vận động nhân dân cùng
thực hiện thắng lợi theo Nghị quyết của Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.
1.1.1.3. Khái niệm đời sống văn hóa và đời sống văn hóa cơ sở
Con người sinh ra và trưởng thành, muốn cho đời sống cá nhân được
phong phú, lành mạnh thì tất yếu người đó có quan hệ đến: đời sống vật
chất, đời sống tinh thần và đời sống xã hội.
Khái niệm Đời sống văn hóa được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận
trên nhiều phương diện khác nhau. Tác giả Hoàng Vinh trong công trình
nghiên cứu Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta
cho rằng: "Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các
yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn
hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt
động văn hóa của nó). Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao
gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa
tâm linh" [58, tr.268].
Trong cuốn Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của Viện Văn hóa
(2003) có đề cập đến: “Đời sống văn hóa nói chung là một tổng hợp những
yếu tố vật thể văn hóa nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố
hoạt động văn hóa của con người, những sự tác động lẫn nhau trong đời
sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người,
trực tiếp hình thành lối sống của con người trong xã hội” [57].
Như vậy, có thể hiểu rằng đời sống văn hóa được biểu hiện trong
mọi hoạt động sống của con người, thể hiện cụ thể mặt giá trị của đời sống


14

vật chất và tinh thần của con người. Vì vậy, muốn xây dựng đời sống văn
hóa phải xây dựng một cách toàn diện, tổng thể các mục tiêu, nhiệm vụ của
đời sống xã hội. Đời sống văn hóa được đánh giá tồn tại qua đời sống văn

Đề tài của tác giả đề cập đến: Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
Theo tác giả xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là nhằm xây dựng cơ sở
phát triển bền vững, có đời sống vật chất đầy đủ, đời sống tinh thần lành
mạnh, phong phú.
Xây dựng đời sống văn hóa là vấn đề khó khăn, phức tạp có nội dung
phong phú có ý nghĩa trước mắt và lâu dài phải tiến hành thường xuyên,
liên tục, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và xã hội, cả hệ thống chính trị phải
chăm lo, trong đó vai trò tham mưu, trách nhiệm chuyên môn của ngành
văn hoá - thể thao rất nặng nề.
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là công tác xây dựng, tổ chức và
hoạt động văn hóa phù hợp với yêu cầu của từng cơ sở địa phương. Đây
được coi là hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ngay trong cuộc sống
hàng ngày của nhân dân ở từng cấp đơn vị, nghĩa là từ tầng cấu trúc nền
tảng của xã hội, hướng tới xây dựng đời sống văn hóa mà mục tiêu là
những đơn vị ở cấp cơ sở.
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở cũng chính là xây dựng văn hóa
ngay trong đời sống hàng ngày của người dân. Bởi vì cấp cơ sở là nơi gần
dân nhất diễn ra các hoạt động kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội, là nơi
có sự quản lý của bộ máy hành pháp, thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, Nhà
nước và đề cao quyền làm chủ của nhân dân. Ở cấp cơ sở, quần chúng nhân
dân cùng tham gia xây dựng đời sống văn hóa dưới sự chỉ đạo của cấp
chính quyền đại diện cho Đảng, Nhà nước, đồng thời hưởng thụ các giá trị
văn hóa do mình sáng tạo ra.
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một trong những chủ trương
lớn của Đảng và Nhà nước. Đây là một chủ trương quan trọng, có ý nghĩa


16

chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa tiên tiến, đậm

18

1.1.2.2. Hệ thống các giá trị văn hóa
Giá trị văn hóa được xem là sự kết tinh những thành tựu của con
người trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới và cải tạo chính
bản thân.
Trong Từ điển Tiếng Việt định nghĩa "Giá trị - cái được xác định có
ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật chất và tinh thần" [56, tr.725]. Như
vậy, khi nói tới các giá trị văn hóa là nói đến những giá trị kết tinh trong
sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo ra. Giá trị
văn hóa chính là hạt nhân của đời sống văn hóa. Đời sống văn hóa giống
như một biểu đồ phản ánh sự sáng tạo, truyền bá và tác động của các giá trị
thông qua hoạt động sống của con người.
Tuy nhiên, giá trị không tồn tại riêng lẻ mà bao giờ cũng hợp thành
một hệ thống, tạo thành hạt nhân tinh thần, là chất keo gắn kết cộng đồng,
hướng tới một mục tiêu chung.
Hiện nay hệ thống các giá trị được quan niệm theo nhiều cách khác
nhau, nếu xem xét hoạt động sống của con người từ ba góc độ nhận thức,
hành động và cảm xúc thì chúng ta thấy rằng hệ thống giá trị bao gồm ba
phạm trù cơ bản đó là: chân, thiện, mỹ. Chân, thiện, mỹ là ba phạm trù khác
nhau, là đối tượng của nhận thức và sáng tạo khoa học, hành vi đạo đức và
hoạt động thẩm mỹ - nghệ thuật. Chúng thống nhất với nhau, phản ánh quan
niệm của con người về những mối quan hệ ứng xử với tự nhiên và xã hội
cũng như khả năng sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp. Như
vậy có thể khẳng định rằng, đời sống văn hóa là quá trình vận động của chủ
thể người và xã hội theo hướng ngày càng khẳng định giá trị của chân, thiện,
mỹ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thần cho con người.
1.1.2.3. Hệ thống các thiết chế và môi trường văn hóa
Trong tài liệu giảng dạy bộ môn Thiết chế quản lý Văn hóa - Nghệ
thuật của tác giả Nguyễn Hữu Thức tại trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status