VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ TÂM
ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC
TIỄN TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH
TẾ
Hà Nội - 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ
HỘI
HOÀNG THỊ TÂM
ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC
TIỄN TỈNH NINH BÌNH
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ PHÁP LUẬT
KIỆN
KINH
DOANH
DỊCH
VỤ
VỀ ĐIỀU
DU
LỊCH
........................................................................................7
1.1. Khái quát về du lịch và hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch
..............................7
1.2. Điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch và lý do việc quy định điều kiện kinh
doanh
với
hoạt
động
KIỆN
KINH
TIỄN
TỈNH
NINH
BÌNH.................................28
2.1. Lịch s ử hình t hành và phát triển pháp l uật
Nam..............................28
2.2. Các quy định điều
..............................................30
kiện
ki
nh
do
anh
dịch
Du lịch Việt
tại
Việt Nam.............................................................................................................................61
3.3. Các giải pháp nâng cao hiểu quả thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh
du
lịch
tại
Việt
Nam................................................................................................................65
KẾT LUẬN .......................................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................70
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
BQL
Ban quản lý
GDP
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
UNWTO
Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization)
WTO
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade
Organization) XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tí nh cấp thi ết của đề
tài
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng cùng với sự phát triển như vũ bão của
khoa học và công nghệ, nền kinh tế Thế
giới đang chuyển sang giai
đoạn“hậu công nghiệp”, phát triển theo hướng chuyển dịch cơ cấu sang ngành
dịch vụ. Trong đó du lịch là một trong những ngành chiếm tỉ trọng lớn trong ngành
dịch vụ.
Ngành du lịch Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước trên Thế giới
nhưng vai trò của nó thì không thể phủ nhận. Du lịch là một ngành “công
2
các loại hình dịch vụ du lịch, đóng góp không nhỏ trong việc tăng nguồn thu
ngân sách. Tài nguyên du lịch của Ninh Bình tương đối phong phú, đa dạng bao
gồm hệ thống núi đá vôi, rừng, hồ, các di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng. Đây
chính là điều kiện rất tốt để phát triển các loại hình kinh doanh dịch vụ du lịch, có
sức hấp dẫn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Phát huy lợi thế đó, trong
những năm qua, Ninh Bình đã tập trung đầu tư phát triển du lịch đồng bộ trên cả
ba nội dung: xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển sản phẩm du lịch, xây
dựng hệ thống cơ sở và đội ngũ nhân viên ngành du lịch. Ngày 13/07/2009, Ban
Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU về phát
triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Với sự quan
tâm chỉ đạo sát sao và được đầu tư thích đáng, các hoạt động kinh doanh dịch vụ
du lịch đã phát triển một cách nhanh
chóng.
Tuy nhiên trong giai đoạn chuyển giao giữa luật cũ và luật mới vẫn bộc
lộ những hạn chế gây ra khó khăn không nhỏ đến sự phát triển của ngành du lịch
Việt Nam nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng. Thực tế trong quá trình thực
hiện các quy định pháp luật về kinh doanh dịch vụ du lịch đặc biệt là trong kinh
doanh dịch vụ lữ hành và lưu trú tại tỉnh Ninh Bình cần đặt ra các vấn đề cần làm
rõ những cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn để hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Với những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Điều kiện kinh doanh
dịch
vụ du lịch theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình” làm nội
dung nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tì nh hì nh nghi ên cứu l i ên quan đến đề tài
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn về kinh doanh dịch vụ du lịch mà trong
những
năm qua đã có một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như:
kinh doanh qua hai loại hình kinh doanh dịch vụ là lữ hành nội địa và lưu trú du
lịch theo pháp luật Việt Nam hiện nay qua thực tiễn tại tỉnh Ninh Bình. Bên cạnh
đó, luận văn sẽ phân tích, đánh giá khái quát về thực trạng áp dụng pháp luật, xác
định định hướng, giải pháp hoàn thiện cũng như thực thi pháp luật về điều kiện
kinh doanh dịch vụ lữ hành và kinh doanh lưu trú tại Việt Nam.
5. Cơ sở lý l uận và phương pháp nghi ên cứu
Phương pháp luận
Phương pháp luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểm,
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa.
Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử. Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học
sau:
- Phương pháp phân tích: Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành
về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch tại Việt Nam.
- Phương pháp so sánh: So sánh những quy định của Luật Du lịch 2005 và
Luật Du lịch 2017 qua đó làm rõ về những yếu tố cấu thành các điều kiện kinh
doanh dịch vụ du lịch.
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các văn bản pháp luật khác nhau, các
nhận định của các chuyên gia, các công trình nghiên cứu trước đó, cũng như tổng
hợp các số liệu về kinh doanh dịch vụ du lịch.
- Phương pháp lịch sử: Nhìn lại quá trình thay đổi, cải cách về điều kiện kinh
doanh dịch vụ du lịch tại Việt Nam.
Từ các phương pháp trên, tác giả có được kết quả để đánh giá và nghiên
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐIỀU KIỆN KINH
DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN
KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH
1.1. Khái quát về du l ị ch và hoạt động ki nh doanh dị ch vụ du l ị ch
Khoa học phát triển luôn phải gắn liền với việc xây dựng hệ thống các
khái niệm. Bởi lẽ, khái niệm vừa là kết quả của tư duy khoa học vừa là phương
tiện để để tư duy. Do đó khi nghiên cứu pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ
du lịch chúng ta phải hiểu về những khái niệm cơ bản được sử dụng phổ biến và
rộng rãi trong du
lịch.
1.1.1. Khái niệm về du lịch
Từ giữa thế kỉ XIX, du lịch phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một
hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến, một nhu cầu không thể thiếu được trong đời
sống văn hóa xã hội của các quốc gia. Đối với các nước đang phát triển du lịch
được coi là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế ốm yếu của các quốc gia. Trước thực
tế phát triển của du lịch, việc nghiên cứu thảo luận để đi đến thống nhất một số
khái niệm cơ bản về du lịch, trong đó khái niệm về du lịch là một đòi hỏi cần thiết.
Thuật ngữ “du lịch” được bắt nguồn từ tiếng Pháp: “Tour” nghĩa là đi
vòng quanh, là cuộc dạo chơi, còn “ touriste” là người dạo chơi. Trong tiếng Anh
“to tour” có nghĩa là đi dã ngoại đến một nơi nào đó. Mặt khác, theo nhà sử học
Trần Quốc Vượng “du lịch” là từ Hán-Việt, có thể coi là từ ghép giữa “du” là đi
chơi với “lịch” là sự lịch lãm, hiểu biết. Có quan niệm cho rằng, du lịch là một
dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu
lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát
triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm
theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa[37].
Tại Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa–Canada (6/1991) đã đưa
ra định nghĩa:“Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi
và đều được định nghĩa theo nghĩa rộng, không phải tất cả các hoạt động đi lại khỏi
nơi cư trú đều là du lịch, việc du lịch được giới hạn lại bởi không gian, thời gian,
mục đích như tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng ở nơi khác, có thời gian cụ
thể, khi hết thời gian này thì chủ thể tham gia du lịch sẽ trở lại nơi xuất phát bán
đầu (nơi thường trú). Các hoạt động như đi xa vì công việc, đi chữa bệnh, đi du
học... đều
không phải là du lịch. Khái niệm du lịch theo quy định của pháp luật của Việt
Nam được giới hạn hẹp hơn với 4 mục đích chính là tham quan, tìm hiểu, giải
trí, nghỉ dưỡng. Hay nói cách khác du lịch phát sinh từ nhu cầu của người đi, thực
hiện sự di chuyển ra ngoài nơi cư trú thường xuyên, từ nơi này đến nơi khác bằng
bất kỳ phương tiện nào với mục đích tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng có
thời gian cụ thể và có sự trở về nơi xuất phát ban đầu.
1.1.2. Nhận diện kinh doanh dịch vụ du lịch
1.1.2.1. Khái niệm
Trước khi tìm hiểu về hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, có thể thấy
“kinh
doanh” là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống kinh tế của các
nước trên Thế giới cũng như ở Việt Nam. Khái niệm “kinh doanh” chính thức
đã được pháp luật Việt Nam sử dụng từ năm 1990 trong Luật Công ty và Luật
Doanh nghiệ p tư nhân. Đến năm 1999, khái niệm “kinh doanh” một lần nữa
được nhắc lại trong Luật Doanh nghiệp như sau: “Kinh doanh được hiểu là việc
thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất
đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh
lợi”[19]. Luật Doanh nghiệp 2014 đưa ra khái niệm cụ thể hơn về kinh doanh như
sau:“Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn
của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ
kéo theo các loại hình dịch vụ liên quan. Theo định nghĩa của ISO 9001:1991
dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và
khác h hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu
của người tiêu dùng. Dịch vụ có thể được tiến hành nhưng không gắn liền với sản
phẩm vật chất
[11].
Theo Điều 38, Luật Du lịch năm 2005 quy định kinh doanh du lịch là
kinh doanh dịch vụ bao gồm các ngành, nghề sau đây:
- “Kinh doanh lữ hành;
- Kinh doanh lưu trú du lịch;
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch;
- Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch;
- Kinh doanh dịch vụ du lịch khác”.
Khi Luật Du lịch 2017 được ban hành và có hiệu lực 01/01/2018 thì không
còn riêng một điều luật quy định cụ thể các hình thức kinh doanh dịch vụ du lịch
thay vào đó tại Chương V Luật Du lịch 2017 có quy định các mục về từng hình
thức kinh doanh du lịch bao gồm:
(1) Kinh doanh dịch vụ lữ hành
(2) Kinh doanh vẫn tải khách du lịch
(3) Kinh doanh lưu trú du lịch
(4) Kinh doanh dịch vụ du lịch khác (như dịch vụ ăn uống, dịch vụ mua
sắm, dịch vụ thể thao, dịch vụ vui chơi, giải trí, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch
vụ liên quan khác phục vụ khách du lịch).
Căn cứ vào chức năng, tính chất hoạt động, ngành nghề (2),(3),(4) được xếp
vào nhóm các nhà cung ứng dịch vụ du lịch, còn (1) được xếp vào nhóm nhà phân
phối sản phẩm du lịch.