Chính sách hợp tác văn hóa của hàn quốc với việt nam từ năm 1994 đến nay - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ THANH

CHÍNH SÁCH HỢP TÁC VĂN HÓA CỦA HÀN QUỐC
VỚI VIỆT NAM TỪ NĂM 1994 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ THANH

CHÍNH SÁCH HỢP TÁC VĂN HÓA CỦA HÀN QUỐC
VỚI VIỆT NAM TỪ NĂM 1994 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
Mã số: 60 31 02 06

Người hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG MINH HẰNG

Hà Nội – 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số

APEC

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

CA-TBD

Châu Á – Thái Bình Dương

CNTB

Chủ nghĩa Tư bản

DCND

Dân chủ Nhân dân

DCCH

Dân chủ Cộng hòa

ĐBÁ

Đông Bắc Á

ĐHQG

Đại học Quốc gia

EDCF


WTO

Tổ chức thương mại thế giới

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………………….......1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề……………………………………………………………3
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài……………………………………………………….8
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu……………………………………………………....9
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu…………………………………....9
6. Đóng góp của luận văn………………………………………………………………10
7. Bố cục luận văn………………………………………………………………………10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH HỢP TÁC VĂN HÓA CỦA
HÀN QUỐC VỚI VIỆT NAM…………………………………………………………12
1.1. Một số khái niệm và quan điểm về hợp tác văn hóa……………………………..12
1.2. Khái quát về lịch sử quan hệ Hàn - Việt và hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với
Việt Nam trước năm 1994……………………………………………………………...15
1.2.1. Khái quát về lịch sử quan hệ Hàn – Việt………………………………………...15
1.2.2. Quan hệ hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam trước năm 1994……....20
1.3. Cơ sở hoạch định chính sách hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam…..22
1.3.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực từ sau Chiến tranh lạnh……………………….....22
1.3.2. Chiến lược khuyếch trương văn hóa của Hàn Quốc ở khu vực Châu Á………27
1.3.3. Nhận thức lợi ích của Hàn Quốc trong hợp tác văn hóa với Việt Nam………..36
Tiểu kết………………………………………………………………………………….39
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ THỰC TẾ TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH HỢP TÁC

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử, thời phong kiến, nước Triều Tiên từng đã có mối quan hệ tốt
đẹp với nước Việt Nam. Hiện tượng có tới hai chi họ Lý có nguồn gốc Hoàng tộc
triều Lý Việt Nam thế kỷ XII-XIII ở Triều Tiên còn truyền đến ngày nay cho thấy
tính chất đặc sắc và độc đáo của mối quan hệ giữa hai nước. Đến thời cận đại, trong
bối cảnh cả Triều Tiên và Việt Nam đều trở thành thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc,
các nhà cách mạng hai nước đã từng gặp gỡ, trao đổi và ủng hộ lẫn nhau.
Từ sau khi bán đảo Triều Tiên bị chia cắt (1945), rồi Việt Nam cũng bị phân
chia thành hai miền (1954), quan hệ giữa bán đảo Triều Tiên với Việt Nam bịphân
thành những cặp đối ứng hữu hảo và thù địch Nam - Bắc rất rõ rệt: Đại Hàn Dân
quốc (Hàn Quốc, Nam Triều Tiên) hữu hảo, mật thiết với Việt Nam Cộng hòa (Nam
Việt Nam) và thù địch với Việt Nam DCCH (Bắc Việt Nam); ngược lại Cộng hòa
DCND Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) hữu hảo, mật thiết với Việt Nam DCCH và thù
địch với Việt Nam Cộng hòa. Những mối quan hệ đan cài, chằng chéo tưởng chừng
phức tạp ấy, thực chất lại rất giản đơn, bị chi phối “tuyệt đối” bởi sự đối đầu ý thức
hệ: Tư sản và Cộng sản, được hiện thực hóa bởi các chế độ chính trị-xã hội: TBCN
ở Nam Triều Tiên và Nam Việt Nam, XHCN ở Bắc Triều Tiên và Bắc Việt Nam.
Đó cũng là hình thái đặc biệt và độc đáo của lịch sử quan hệ giữa bán đảo Triều
Tiên và Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh lạnh toàn cầu. Mối quan hệ đó chỉ trở
nên thực sự phức tạp khi nước Việt Nam thống nhất dưới chế độ XHCN. Khi đó,
mối quan hệ của bán đảo Triều Tiên với Việt Namkhông chỉtồn tại giữa Cộng hòa
DCND Triều Tiên với Việt Nam DCCH (từ năm 1976 là Cộng hòa XHCN Việt
Nam), mà cả Hàn Quốc cũng có mối quan hệ với nước Việt Nam XHCN. Hình thái
hai chế độ ở bán đảo Triều Tiên cùng có quan hệ với nước Việt Nam XHCN thống

tương đồng văn hóa Hàn - Việt. Sau Hiệp định hợp tác văn hóa giữa hai nước năm
1994, Hàn Quốc liên tục thực hiện chính sách thúc đẩy quan hệ văn hóa với Việt
Nam, “cân bằng hóa” với quan hệ kinh tế, nhằm quảng bá hình ảnh Hàn Quốc, mở
rộng môi trường và xây dựng nền tảng cho tư bản Hàn đầu tư tại Việt Nam.
Chính sách hợp tác văn hóa với Việt Nam của Hàn Quốc có nhiều điểm đáng
chú ý, đặc biệt là tính chuyên nghiệp và hiệu quả kinh tế của nó. Tuy nhiên, bên
cạnh những thành quả tốt đẹp có lợi cho cả hai nước, chính sách hợp tác văn hóa
với Việt Nam của Hàn Quốc có một số nội dung cần phải “soi lại”, bởi những tác
động tiêu cực, không chỉ với Việt Nam, mà có thể còn ảnh hưởng đến hình ảnh của
Hàn Quốc. Có thể nói, đây là một vấn đề đáng được quan tâm nghiên cứu một cách
nghiêm túc, do vậytôi đã lựa chọn để làm luận văn thạc sĩ với nhan đề: “Chính sách
hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam từ năm 1994 đến nay”.

2


Đề tài luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. Ý nghĩa khoa học
của đề tài là góp phần lý giải những thành công của Hàn Quốc trong việc hoạch
định và thực hiện chính sách hợp tác văn hóa với Việt Nam. Từ việc lý giải đó, đề
tài bổ sung cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về CNTB Hàn Quốc nói riêng, CNTB
thế giới nói chung và nền công nghiệp văn hóa TBCN hiện đại. Ý nghĩa thực tiễn
của đề tài, đó là làm sáng tỏ thực chất chính sách hợp tác văn hóa của Hàn Quốc
được áp dụng với Việt Nam, góp phần đánh giá toàn diện hơn mối quan hệ hợp tác
giữa hai đối tác chiến lược Hàn Quốc và Việt Nam; giúp chính phủ Việt Nam hiểu
rõ đối tác trong quan hệ văn hóa; đúc rút kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc
hoạch định các chính sách ngoại giao văn hóa trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chính sách đối ngoại của Hàn Quốc, Quan hệ của Hàn Quốc với Việt Nam
nói chung và chính sách hợp tác văn hóa với Việt Nam nói riêng là vấn đề có tính
hấp dẫn đối với nhiều người làm công tác nghiên cứu, trong các lĩnh vực: Lịch sử,

được bảo vệ tại Học viện Quan hệ Quốc tế, Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam và
Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, với những mức độ và khía cạnh khác
nhau đề cập đến chính sách văn hóa với Việt Nam của Hàn Quốc, tiêu biểu như:
Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc từ 1992 đến nay của Nguyễn Văn Dương (Luận
văn, Quốc tế học, Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội. 2008); Quan hệ Việt NamHàn Quốc giai đoạn 1992-2002, đặc điểm và khuynh hướng của Nguyễn Nam
Thắng (Luận văn, Lịch sử thế giới, Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, 2004);
Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc thập niên đầu thế kỷ XXI: Thực trạng và triển vọng
của Nguyễn Minh Đức (Luận văn, Quan hệ Quốc tế, Học viện Ngoại giao, Hà Nội,
2013); Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc Koica và những đóng góp cho quan hệ
Việt Nam – Hàn Quốc thông qua các hoạt động tại Việt Nam của Nguyễn Hương
Giang (Luận văn, Quan hệ Quốc tế, Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, 2011);
Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục và xã hội từ năm
1992 đến nay của Vũ Thị Lệ Hằng (Luận văn, Quan hệ Quốc tế, Đại học
KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, 2014); Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn
thiện chính sách văn hóa vì sự phát triển ở Việt Nam của Nguyễn Văn Tình (Luận
án, Văn hóa học, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, 2006)…
Các công trình nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài còn là các kỷ yếu hội
thảo, có tham luận của cả học giả Hàn Quốc và Việt Nam, như: Quan hệ đối tác
chiến lược Hàn Quốc - Việt Nam trong 20 năm tới: Chia sẻ tầm nhìn và tri thức
(Viện Nghiên cứu ĐBÁ, kỷ yếu hội thảo, 2012); Việt Nam và Korea - Hàn Quốc
trong phối cảnh Đông Á (Viện Nghiên cứu ĐBÁ, kỷ yếu hội thảo, 2013), Quan hệ
Việt Nam - Hàn Quốc: 10 năm và xa hơn nữa (Viện nghiên cứu Quan hệ Quốc tế,
2012)… Đặc biệt, không thể không nhắc đến công trình: Điện ảnh Châu Á đương
đại: những vấn đề lịch sử, mỹ học và phong cách (Kỷ yếu hội thảo, Nxb ĐHQG Hà
4


Nội, 2015), với các nội dung: Vị trí của điện ảnh Châu Á trong tương tác nhiều
chiều với các trung tâm điện ảnh khác trên thế giới; mối quan hệ giữa các nền điện
ảnh trong khu vực; những vấn đề có tính nội tại của phim Châu Á; mỹ học và phong

5


Các sách viết về mối quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam có thể kể đến là: 10 năm
hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc: Rộng đường tiến xa (Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2002);
Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh quốc tế mới của Ngô Xuân Bình
(Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2012); Hàn Quốc với khu vực Đông Á sau Chiến
tranh Lạnh và quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc của Nguyễn Hoàng Giáp (Nxb.
CTQG, Hà Nội, 2009)… Trong đó, đáng chú ý là cuốn Quan hệ Việt Nam - Hàn
Quốc từ năm 1992 đến nay và triển vọng phát triển đến năm 2020của các tác giả
Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Văn Dương (Nxb. ĐHQG Hà Nội,
2011). Cuốn sách phân tích những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Hàn
Quốc; thực trạng quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trên các lĩnh vực: chính trị - đối
ngoại, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ từ khi hai nước thiết lập
quan hệ ngoại giao chính thức (từ 12/1992 đến 2011); trình bày mối quan hệ Việt
Nam - Hàn Quốc trong khuôn khổ hợp tác chiến lược, đồng thời đưa ra giải pháp
nhằm tăng cường mối quan hệ này.
Về các bài viết có nội dung liên quan gián tiếp đến đề tài, phải kể đến các bài
như Hợp tác văn hóa đa phương: Trung Quốc, Nhật bản, Hàn quốc với ASEAN của
Vũ Tuyết Lan (Nghiên cứu ĐBÁ, số 11 (81), 11/2007); Chính sách “mở cửa” của
Hàn Quốc đối với văn hóa đại chúng Nhật Bản của Hạ Thị Lan Phi (Nghiên cứu
ĐBÁ, số 3 (109), 3/2010), Sức mạnh mềm văn hóa của Trung Quốc ở Nhật Bản và
Hàn QuốccủaPhạm Hồng Thái (Nghiên cứu ĐBÁ, số 12 (154), 12-2013)... Đề cập
đến chính sách văn hóa của Hàn Quốc có các bài như: Xu hướng phát triển của
chính sách văn hóa Hàn Quốc của Phạm Bích Huyền (Nghiên cứu Văn hóa, ĐHVH
Hà Nội, số 1, 2010); Sự phát triển của công nghiệp văn hóa Hàn Quốc hiện nay của
Nguyễn Thị Miên Thảo (Nghiên cứu ĐBÁ, số 6 (136), 6/2012); Tìm hiểu văn hóa
của Hàn Quốc trong quá trình hội nhập và bài học kinh nghiệmcủaLý Xuân Chung
(Nghiên cứu ĐBÁ, số 12 (94), 12-2008); Những chính sách của Hàn Quốc làm gia
tăng quyền lực mềm vẫn của Lý Xuân Chung (Nghiên cứu ĐBÁ, số 10 (152), 102013)... Lý Xuân Chung còn có bài viết đáng chú ý, đó là Hàn lưu tại một số nước

Introduction to Korean History and Culture (Giới thiệu về lịch sử và văn hóa Hàn
Quốc) của Andrew C.Nahm (Hollym edition, 1993); South Korean Foreign
Relations Face the Globalization Challenges (Quan hệ đối ngoại Hàn Quốc đối mặt
với những thách thức của toàn cầu hóa) của Samuel Kim (ed., in Korea’s
Globalization, Cambrige university Press, UK, 2000); Korea 2010: The Challenges
of the New Millenium (Hàn Quốc năm 2010: Những thách thức của Thiên niên kỷ
mới) của Paul Chamberlain (Washington DC, CSIS Press, 2001); Pride and
Prejudice in South Korea’s Foreign Policy (Niềm kiêu hãnh và định kiến trong
chính sách đối ngoại của Hàn Quốc) của Koen De Ceuster (The Copenhagen
Journal of Asian Studies, Vol 21, 2005).… Những công trình nói trên, mặc dù
7


không đề cập trực tiếp đến vấn đề chính sách hợp tác văn hóa với Việt Nam của
Hàn Quốc, song phản ánh những vấn đề chung có liên quan, đó là những yếu tố lịch
sử, bản sắc dân tộc chi phối chính sách đối ngoại văn hóa của Hàn Quốc; những
thách thức của toàn cầu hóa đối với chính sách đối ngoại của Hàn Quốc; Hàn Quốc
trước những thách thức của thời đại ở ngưỡng cửa thiên niên kỷ mới; một số nguyên
tắc trong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc… Các nội dung nêu trên thường được
xem xét dưới lăng kính lợi ích quốc gia, dân tộc, cũng như thể hiện rõ quan điểm,
thái độ của người nghiên cứu nên phần nào hạn chế việc đánh giá thực chất chính
sách đối ngoại của Hàn Quốc và những tác động của nó đối với quan hệ quốc tế ở
khu vực Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Với các công trình của người nước ngoài được dịch hoặc viết bằng ngôn ngữ
Việt, đáng chú ý là cuốn của Yoshihara Kunio, nhan đề: Văn hoá, thể chế và tăng
trưởng kinh tế: nghiên cứu so sánh Hàn Quốc với Thái Lan (Nxb. CTQG, Hà Nội,
1996). Cuốn sách đề cập đến các vấn đề như: Can thiệp của chính phủ thay vì thả
nổi kinh tế; tương quan giữa các biến số kinh tế; chính phủ với tư cách là một yếu tố
tăng trưởng; ảnh hưởng của văn hoá và thể chế… Thông qua công trình này, người
đọc tiếp cận được, ở mức nhất định các chính sách văn hóa của Hàn Quốc cho mục

Namkể từ năm 1994 đến nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung: Chủ yếu nghiên cứu các đối tượng thuộc
lĩnh vực hợp tác văn hóa phục vụ cho đề tài. Các vấn đề thuộc các lĩnh vực khác
(chính trị, kinh tế, xã hội…) nếu có đề cập đến chỉ là bởi có liên quan đến các vấn
đề thuộc đối tượng nghiên cứu chủ yếu trong đề tài. Về thời gian: Từ tháng 8 năm
1994 (khi Hàn-Việt ký Hiệp định Hợp tác văn hóa) đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Những nguyên lý, phương pháp luận cơ bản của Chủ
nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, hệ thống quan điểm Mác xít
về quan hệ quốc tế, quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc là cơ sở phương pháp luận
của luận văn. Cơ sở lý luận của luận văn còn dựa trên hệ thống các quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối và chính sách đối
ngoại, hợp tác quốc tế trong thời đại ngày nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và một số phương
pháp khác của sử học (như phương pháp đồng đại, lịch đại…) để nhận diện và tái
hiện các vấn đề lịch sử thuộc đề tài, như lịch sử mối quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam

9


qua các thời kỳ, các sự kiện, diễn biến và những thành tựu nổi bật của quá trình thực
hiện chính sách hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam từ năm 1994 đến nay.
Sử dụng phương pháp logic để phân tích, lập luận, đưa đến những nhận định
có tính khái quát, nâng cao về các vấn đề nghiên cứu, đặc biệt là đúc rút bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam từ việc nghiên cứu chính sách hợp tác văn hóa của Hàn
Quốc với Việt Nam từ năm 1994 đến nay.
Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu, nhằm giám định tính
chính xác của nguồn tư liệu thu thập được, đặc biệt là nguồn tư liệu thứ cấp, đã qua
trích dẫn, sử dụng lại trong các công trình nghiên cứu.


11


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH HỢP TÁC VĂN HÓA CỦA
HÀN QUỐC VỚI VIỆT NAM
1.1. Một số khái niệm và quan điểm của Hàn Quốc về hợp tác văn hóa
* Chính sách (d): Theo Từ điển tiếng Việt, chính sách là “Sách lược và kế
hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung
và tình hình thực tế mà đề ra”. Một định nghĩa khác: Chính sách là tập hợp các chủ
trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ, nó bao gồm các mục
tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó.
Phân tích khái niệm “chính sách”, ta thấy: (1) Chính sách là do một chủ thể
quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; (2) Chính sách được ban hành căn cứ vào
đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; (3) Chính sách được ban hành bao
giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên
nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng.
* Văn hóa: Theo Từ điển tiếng Việt, văn hóa là: “1. Tổng thể nói chung
những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử; 2. Những
hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần; 3. Tri thức,
kiến thức khoa học nói chung”.1
Theo Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO: “Đối với một số người,
văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo;
đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này
khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng,
phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng
quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm
1970 tại Venisce”.2
*Hợp tác (đg): Theo Từ điển tiếng Việt, hợp tác là “Cùng chung sức giúp đỡ

mang tính lý trí để họ có thể trau dồi cách tư duy và đạo đức mới, thích hợp với
công dân toàn cầu hóa.4 Đây là quan điểm chiến lược phát triển mang tính sáng tạo
và đột phá. Bởi vì, trong xã hội Hàn Quốc cho đến những năm 90 của thế kỷ trước,
không ít người nghi ngờ về sự phát triển của cái gọi là “công nghiệp văn hóa” ở
nước này. Họ cho rằng, kinh tế quyết định văn hóa, trong văn hóa không bao hàm
yếu tố kinh tế. Văn hóa theo quan niệm cũ không hề sinh lời, không thể tạo ra của
cải vật chất. Nhưng thực tế sự phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó có hợp tác,
xuất khẩu văn hóa của Hàn Quốc đã chứng minh một cách đầy đủ tư duy hợp tác,
phát triển của Kim Young-Sam là hoàn toàn đúng đắn. Trong hợp tác văn hóa, Hàn
Quốc đặc biệt chú trọng thúc đẩy giảng dạy tiếng Hàn và Hàn Quốc học, coi đó như
việc thiết lập cây cầu kết nối Hàn Quốc với các quốc gia, dân tộc khác. Chính phủ
Hàn Quốc nêu mục tiêu chiến lựợc của Hàn Quốc học là nhằm nâng cao giá trị quốc

Lý Xuân Chung (2013), “Những chính sách của Hàn Quốc làm gia tăng quyền lực mềm”, Tạp chí Nghiên
cứu Đông Bắc Á, số 10 (152).
4

13


hiệu Hàn Quốc trên toàn thế giới. Để thực hiện mục tiêu này, các quỹ hỗ trợ quốc tế
của Hàn Quốc lần lượt ra đời, hoạt động tích cực nhất là các quỹ: Quỹ giao lưu
quốc tế Hàn Quốc, Quỹ Viện nghiên cứu Hàn Quốc Trung ương, Quỹ Biên dịch văn
học Hàn Quốc, Quỹ Daesan… Cùng với việc thúc đẩy Hàn Quốc học, chính phủ
Hàn Quốc còn đặc biệt quan tâm đến việc giảng dạy tiếng Hàn ở nước ngoài, trọng
tâm là các nước châu Á, trong đó có Việt Nam.5
Từ việc trình bày các khái niệm, cũng như phản ánh quan điểm của Hàn
Quốc về hợp tác văn hóa,coi đó như những tiêu chí để tham chiếu, chúng tôi muốn
nêu lên nhận thức của mình về chính sách hợp tác văn hóa, đó là tập hợp các chủ
trương và hành động về hợp tác văn hóa của một quốc gia, do chính phủ hoạch

thời trang, bảo tàng, quản lý di sản…), nghệ thuật (điện ảnh, phim truyền hình, văn
học, âm nhạc, hội họa), giáo dục-đào tạo (tiếng Hàn, tiếng Việt, Hàn quốc học, Việt
Nam học), một số lĩnh vực khoa học…
1.2. Khái quát về lịch sử quan hệ Hàn - Việt và hợp tác văn hóa của Hàn Quốc
với Việt Nam trước năm 1994
1.2.1. Khái quát về lịch sử quan hệ Hàn – Việt
Giới nghiên cứu đã nói nhiều về sự tương đồng địa lý, văn hóa, lịch sử…
giữa Hàn Quốc và Việt Nam. Sự thật, từ rất sớm, “số phận” lịch sử đã gắn kết hai
dân tộc, tạo nên mối quan hệ lâu đời. Ngay từ các thế kỷ XII-XIII, sự việc hai
Hoàng tử Triều Lý của Đại Việt là Lý Dương Côn (TK XII) và Lý Long Tường (TK
XIII), do những biến động của lịch sử Đại Việt, đã lần lượt đến Cao Ly, được vua
Cao Ly cưu mang, rồi đóng góp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Cao
Ly, tạo nên những dấu mốc đầu tiên cho mối quan hệ của hai dân tộc.
Cũng ở thời kỳ Trung đại, sứ thần Mạc Đĩnh Chi của Đại Việt từng được sứ
thần Cao Ly mến mộ, mời sang Cao Ly và kết hôn với người cháu gái của sứ thần
Cao Ly. Cuộc hôn nhân này đã để lại ở Cao Ly những di duệ họ Mạc. Sau Mạc
Đĩnh Chi, nhiều thế hệ sứ thần Đại Việt đã có những cuộc tiếp xúc, đàm đạo văn
chương, học thuật với các sứ thần Triều Tiên, trong đó phải kể đến các cuộc văn
chương tao ngộ của các cặp sứ thần trứ danh hai nước như Phùng Khắc Khoan (Đại
Việt) – Lý Túy Quang (Triều Tiên) ở thế kỷ XVI, Lê Quý Đôn (Đại Việt) - Hồng
Khải Hy (Triều Tiên) ở thế kỷ XVIII…
Trong thập kỷ đầu thế kỷ XX, Việt Nam và Hàn Quốc còn có chung hoàn
cảnh mất nước, nên các nhà yêu nước của hai dân tộc như: Phan Bội Châu, Nguyễn
Ái Quốc… (Việt Nam) và Triệu Tố Ngang, Kim Khuê Trực… (Triều Tiên) đã hợp
tác và hỗ trợ lẫn nhau trong công cuộc đấu tranh nhằm giải phóng hai dân tộc khỏi
ách thống trị của Pháp và Nhật. Tháng 8/1945, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc
với sự thất bại Phát xít Nhật đã tạo thời cơ cho nhân dân hai nước vùng lên giành
độc lập. Thế nhưng, khát vọng độc lập, tự do của hai dân tộc bị chủ nghĩa đế quốc

15

giữa hai dân tộc. Lý do giải thích cho hành động đó của Hàn Quốc, ngoài sự tương
đồng giữa hai chính quyền Sài Gòn và Seoul (cùng chống cộng cực đoan và cùng
thân Mỹ), còn là tính toán vụ lợi của Hàn Quốc: Kiếm được nhiều lợi ích kinh tế,
bày tỏ sự “nhiệt tình” để nhận được bảo đảm về an ninh quân sự từ phía Mỹ. Đó

16


cũng là lý do người Việt Nam kháng chiến gọi quân đội Hàn Quốc tham chiến ở
Việt Nam là “lính đánh thuê” (mercenaries) của Mỹ.
Trong những năm Hàn Quốc can dự vào chiến tranh Việt Nam, quan hệ
chính trị, kinh tế… giữa Đại Hàn Dân Quốc với Việt Nam Cộng Hòa khá gắn bó.
Những người đứng đầu chính phủ hai bên thăm viếng lẫn nhau để phối hợp hành
động chống lại cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Từ 7/1969, Mỹ
bắt đầu rút quân về nước, nhưng vì những mối lợi kinh tế, mãi đến hai năm rưỡi sau
Hàn Quốc mới rút quân. Vào cuối năm 1972, quân đội Hàn Quốc trở thành lực
lượng “đánh thuê” đông nhất của Mỹ ở Nam Việt Nam: Với số lượng lính đánh
thuê lên đến 300.000 quân. Quân đội Hàn Quốc chỉ rút hết sau khi có Hiệp đinh Pari
về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Sau đó, Hàn Quốc vẫn duy trì
mối quan hệ chính trị và kinh tế với Việt Nam Cộng Hòa cho đến khi chế độ này
sụp đổ.
Sau sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa, hai miền Nam - Bắc Việt Nam thống
nhất (30/4/1975) thành nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Hàn Quốc không thiết lập
mối quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam thống nhất cho đến năm 1992, tuy nhiên
giữa hai bên vẫn có một số quan hệ không chính thức. Trong những năm 19751982, Hàn Quốc và Việt Nam có quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian (Hồng
Kông, Nhật Bản…). Từ năm 1983, hai bên bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp và
một số quan hệ phi chính phủ. Năm 1985, Công ty Quốc doanh Xuất nhập khẩu
tổng hợp (The National Export-Import Corporation) của miền Trung Việt Nam lần
đầu tiên đưa ra danh mục các mặt hàng mà Việt Nam muốn xuất khẩu sang Hàn
Quốc là nông sản (đậu nành, đậu xanh, bắp…) và gỗ sơ chế. Những mặt hàng mà

Hàn Quốc cho phép doanh nhân của mình trực tiếp giao dịch với Việt Nam. Năm
1989, Việt Nam lại tham gia Đại hội thể thao thế giới (Olympiad) tổ chức tại Hàn
Quốc.
Từ năm 1991, Hàn Quốc và Việt Nam bắt đầu bàn đến vấn đề bình thường
hóa quan hệ thông qua hai đại sứ tại Bangkok. Từ ngày 17 đến ngày 23/12/1991,
phái đoàn đàm phán thiết lập quan hệ của Hàn Quốc do Đại sứ Hàn Quốc tại
Bangkok Jeong Ju Nyon dẫn đầu đã đến Việt Nam thực hiện cuộc hội đàm lần thứ
nhất với Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Lê Đức Cang. Đến tháng 1/1992, Chính
phủ Hàn Quốc lần đầu tiên cho phép doanh nghiệp của mình đầu tư trực tiếp vào
Việt Nam. Từ ngày 30/03 đến ngày 02/4/1992, hai bên tiếp tục có cuộc hội đàm lần
thứ hai cũng tại Việt Nam. Từ kết quả đó, hai nước tiến tới ký thỏa thuận trao đổi
văn phòng liên lạc. Ngày 22/12/1992, Bộ trưởng ngoại giao Hàn Quốc thay mặt
chính phủ chính thức ký kết các hiệp ước hợp tác và đặt quan hệ ngoại giao ở cấp

Nguyễn Văn Dương (2008), Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc từ 1992 đến nay, Luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Quốc tế học, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, tr. 43
6

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status