những nét văn hóa tương đồng và dị biệt qua một số sản phẩm gốm nổi tiếng của hàn quốc và việt nam. - Pdf 20

Đề tài: Những nét văn hóa tơng đồng và dị biệt qua một số sản phẩm gốm nổi tiếng của
Hàn Quốc và Việt Nam.
A-Mở đầu
I-Lý do nghiên cứu
Trong đờng lối đổi mới của Đảng ta, vấn đề hội nhập quốc tế đợc đặt ở vị
trí quan trọng. Hàn Quốc (thuộc bán đảo Triều Tiên) là một quốc gia hàng đầu
của khu vực Châu á có tốc độ phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt. Đặc biệt trong
những năm gần đây, bằng hình thức quảng bá hình ảnh đất nớc v con ng ời,
Hàn Quốc đã tạo nên sự quan tâm lớn với Việt Nam về lĩnh vực văn hóa. Điều
này đã thúc đẩy nhu cầu nghiên cứu về văn hóa Hàn Quốc ở Việt Nam ngày
càng tăng lên. Tuy nhiên, văn hoá của một quốc gia, nhất là của đất nớc có lịch
sử lâu đời nh Hàn Quốc là đề tài nghiên cứu vô cùng lớn. Với kiến thức còn hạn
hẹp, trong khuôn khổ của một niên luận năm thứ 3, tôi chỉ xin đề cập đến một
sản phẩm nổi bật trong di sản văn hóa của dân tộc Hàn là sản phẩm gốm. Qua
đó liên hệ với sản phẩm này của Việt Nam để thấy đợc những nét tơng đồng và
dị biệt trong truyền thống văn hóa giữa hai dân tộc, để hội nhập, để gắn kết, để
hòa nhập mà không hòa tan và để cùng phát triển trong hòa bình, hữu nghị và
hợp tác lâu dài.
II-Lịch sử vấn đề và phơng pháp nghiên cứu
Đồ gốm là một đề tài hấp dẫn, thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu. ở Việt Nam, đã có một số bài viết nghiên cứu về đồ gốm Hàn
Quốc, song phần lớn tập trung khai thác về lịch sử ra đời, quá trình phát triển
hay các giá trị kinh tế của sản phẩm thủ công độc đáo này. Bởi vậy, niên luận
này chỉ trọng tâm khai thác những giá trị văn hoá kết tinh trong sản phẩm gốm
mà thôi. Đặc biệt, tôi muốn liên hệ, so sánh đồ gốm Hàn Quốc với đồ gốm Việt
Nam để tìm ra những đặc điểm văn hóa tơng đồng và khác biệt trong văn hóa
hai nớc, là vấn đề cha đợc nhiều ngời nghiên cứu.
Do nguồn t liệu bằng tiếng Việt về đồ gốm Hàn Quốc còn rất ít nên phần
lớn các thông tin về đồ gốm Hàn Quốc trong bài viết này đợc dịch từ tiếng Anh
và tiếng Hàn trên một số sách, báo, tạp chí và internet. Bằng phơng pháp phân
Website: Ema il :

*
Giai đoạn Bắt đầu với
Mông muội (Savagery)
- Thấp Nguồn gốc loài ngời
- Giữa Đánh cá, biết sử dụng lửa
- Cao Sáng chế ra cung nỏ
Dã Man (barbarism)
- Thấp Sáng tạo ra đồ gốm
- Giữa Thuần dỡng động vật, thực vật, sáng tạo ra phơng
pháp làm thuỷ lợi, sử dụng gạch không nung và đá
- Cao Khai thác quặng sắt, sử dụng các dụng cụ bằng sắt
Văn minh (Civilization) Sáng tạo ra các mẫu tự ký âm, sử dụng chữ viết
Nhìn vào bảng phân chia của Morgan có thể thấy sự xuất hiện của đồ gốm
là một mốc quan trọng đánh dấu bớc nhảy vọt từ thời kỳ mông muội sang thời
kỳ dã man. Thời kỳ mông muội là thời kỳ con ngời sống thành bày đàn, ăn lông
ở lỗ, cha biết nấu chín thức ăn, cha biết bảo quản thực phẩm, nên cũng cha
biết chế tạo đồ gốm. Trải qua quá trình sống và lao động, con ngời biết khai
thác nguồn đất sét sẵn có từ tự nhiên để tạo ra các sản phẩm đất nung dạng
sơ khai của gốm. Các sản phẩm này rất hữu dụng trong việc bảo quản lơng thực,
thực phẩm và chứa đựng các dạng chất lỏng. Nhờ có đồ đựng con ngời biết dự
trữ, biết tiết kiệm và sau này còn biết dùng gốm để đun nấu hay dùng vào
nhiều việc gia dụng khác và để trang trí, trang sức. Điều này chứng tỏ đồ gốm ra
đời đánh dấu một bớc quan trọng trong quá trình phát triển t duy của con ngời.
Con ngời chuyển từ cuộc sống phụ thuộc vào thiên nhiên sang cuộc sống chinh
phục tự nhiên. Đồ gốm ra đời giúp con ngời chuyển từ ăn bốc sang ăn bằng bát,
bằng thìa, chuyển từ uống trực tiếp ở sông, ở suối sang uống bằng cốc, bằng
chén Rõ ràng với sự xuất hiện của đồ gốm con ngời đã bớc sang một nền văn
minh mới, ngày càng mang tính ngời hơn.
*
Emily A.schultz * Robert H.lanvenda. Nhân học - Một quan điểm về tình trạng nhân sinh.

dần sản xuất gốm phát triển lớn hơn thành các làng, các vùng chuyên làm gốm.
Các làng gốm này không ngừng phát triển, không chỉ đem lại thu nhập cho mỗi
Website: Ema il :
Đề tài: Những nét văn hóa tơng đồng và dị biệt qua một số sản phẩm gốm nổi tiếng của
Hàn Quốc và Việt Nam.
cá nhân mà còn đóng góp những giá trị kinh tế đáng kể cho cả làng, xã và
quốc gia.
Đồ gốm còn là sản phẩm thuộc văn hóa đảm bảo đời sống vật chất. Với
việc tìm ra lửa, con ngời biết nấu chín thức ăn. Hình thức nấu chín thức ăn đầu
tiên là cho thực phẩm tiếp xúc trực tiếp với lửa. Dần dần con ngời nhận thấy cần
có một vật dụng chuyên dùng đun nấu để thức ăn ngon và sạch hơn. Đáp ứng
nhu cầu đó những chiếc nồi gốm đã ra đời. Tiếp đó là hàng loạt các sản phẩm
gốm gia dụng khác nh bát, cốc, chum, vại, ngói cũng đợc sản xuất, đã góp
phần làm cho đời sống vật của con ngời ngày càng đợc nâng cao hơn.
Nhìn từ góc độ văn hóa phi vật thể có thể thấy đồ gốm cũng thuộc văn hóa
đảm bảo đời sống tinh thần và văn hóa tâm linh. Là văn hóa đảm bảo đời sống
tinh thần, gốm đợc coi là biểu tợng của cái đẹp: tranh gốm, lọ gốm dùng trang
trí nhà cửa, cung điện, đền chùa vòng gốm, hoa tai gốm dùng làm đồ trang
sức. Các hoa văn trang nhã hay sang trọng cùng nhiều kiểu dáng độc đáo cũng
góp phần quan trọng trong việc đảm bảo đời sống tinh thần của mỗi dân tộc. Đồ
gốm đã phản ánh trí tởng tợng phong phú, tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc
sống, yêu lao động của các nghệ nhân gốm cũng nh của những ngời thởng
thức và sử dụng nó.
Văn hóa tâm linh là một phạm trù nằm trong văn hóa tinh thần. Đặc điểm
văn hóa này đợc biểu đạt trong sản phẩm gốm. Có thể thấy rõ các biểu tợng tín
ngỡng, tôn giáo, lễ hội, cảnh làm phép hay nhiều nghi lễ tôn giáo khác đợc trang
trí trên các sản phẩm gốm. Những ý nghĩa sâu sa toát lên từ chúng đã nói lên
tâm t, tình cảm, niềm tin, ớc mơ và khát vọng của con ngời vào một cuộc sống
tốt đẹp hơn.
Trong di sản văn hóa của nhiều dân tộc, đồ gốm luôn có một vị trí nhất

tiếng Anh có từ pottery. Trong từ điển cả hai thuật ngữ này đều đợc dịch là
đồ gốm. Nhng trong một số tài liệu về gốm viết bằng tiếng Hàn và tiếng Anh
thì dojagi và pottery là thuật ngữ chỉ chung cho cả gốm, sứ và một số sản
phẩm đất nung khác thuộc đồ gốm. Bởi vậy đồ gốm trong bài viết này có
phạm vi bao quát nh trên.
Website: Ema il :
Đề tài: Những nét văn hóa tơng đồng và dị biệt qua một số sản phẩm gốm nổi tiếng của
Hàn Quốc và Việt Nam.
Theo các công trình nghiên cứu lịch sử, ngời Triều Tiên đã bắt đầu làm đồ
gốm bằng đất sét ( có thể nung hoặc chỉ phơi khô) từ xấp xỉ 10.000 năm đến
6.000 năm TCN. Đồ sứ bắt đầu đợc sản xuất vào thời kì đồ đá mới (7.000
8.000 năm trớc). Từ đầu thế kỷ 11 gốm men ngọc bích Koryo đợc biết đến rộng
rãi và sang thế kỷ 12 các sản phẩm gốm này đã đạt đến độ tinh xảo, trở thành
sản phẩm gốm tinh tế nhất của Triều đại Koryo. Thế kỷ XIII, cuộc xâm lợc của
Mông Cổ đã làm cho gốm Koryo suy tàn
(1)
. Vì thế, có thể khẳng định rằng đỉnh
cao của gốm sứ Triều Tiên chính là vào thời đại Koryo và tiếp sau đó là triều đại
Choseon (1392 1910). Nếu Koryo nổi tiếng với gốm men ngọc bích thì
Choseon tự hào với gốm nâu Puncheong và sứ trắng Paekja. Cuối thế kỷ XVI,
xảy ra một sự kiện lịch sử đau thơng mà ngời dân Triều Tiên sẽ không bao giờ
quên. Đó là cuộc xâm lợc của Nhật Bản lên bán đảo Triều Tiên. Trong suốt cuộc
xâm lợc, nhiều là nung gốm bị phá huỷ và nhiều thợ gốm bị bắt cóc đa về Nhật.
Chính những thợ này đã đóng góp công sức to lớn trong việc phát triển nghệ
thuật gốm nổi tiếng của Nhật Bản thời kỳ sau này. Đáng chú ý và rất đáng tiếc
rằng, cuộc xâm lợc này đã đặt dấu chấm hết cho việc sản xuất gốm Puncheong,
một trong hai loại gốm sứ chủ yếu của triều đại Choseon.
Ngày nay, những thợ gốm Hàn Quốc đang lỗ lực hết mình để tái tạo lại
sản phẩm gốm sứ truyền thống có chất lợng nghệ thuật cao. Các lò nung đợc
xây dựng lại ở các vùng nông thôn, một số tỉnh vốn là quê hơng của gốm sứ nh:

ra. Khi đó, thợ gốm sẽ sử dụng đôi tay khéo léo vuốt đất sét thành những hình
thù mong muốn.
Tiếp đó, sản phẩm đợc phơi khô rồi làm nhẵn, khắc họa tiết trang trí.
Những phần nhô ra của sản phẩm nh tai của tách trà, vòi ấm đợc cố định trong
giai đoạn này. Công việc quan trọng đó yêu cầu bàn tay của những ngời thợ lành
nghề.
Một trong những yếu tố đặc sắc và đặc trng của gốm ngọc bích Koryo là
nghệ thuật chạm, khắc. Lúc đầu gốm Koryo không hề trang trí hoa văn. Sang
thế kỷ 11, kỹ thuật khắc chìm và khắc nổi đã xuất hiện. Giữa triều đại Koryo
(tức vào khoảng thế kỷ 12), đặc biệt ở triều đại vua Uijong ( 1147 1170) kỹ
Website: Ema il :
Đề tài: Những nét văn hóa tơng đồng và dị biệt qua một số sản phẩm gốm nổi tiếng của
Hàn Quốc và Việt Nam.
thuật khảm dát và trang trí họa tiết phát triển mạnh mẽ. Kỹ thuật này đợc đánh
giá là kỹ thuật độc đáo của gốm sứ Koryo, có nguồn gốc từ kỹ thuật sơn mài
2
.
Giai đoạn cuối thời kỳ Koryo đến những năm đầu thời đại Choseon, gốm
puncheong và sứ paeja kế thừa và khai thác tối đa tính chất tự nhiên từ nghệ
thuật chạm khắc này. Những chiếc bình, lọ đợc phủ ngoài bởi một lớp đất sét
lỏng dày. Sau đó các thợ gốm tiến hành chạm khắc họa tiết. Những nét chạm,
khắc sẽ làm lộ ra lớp đất sét màu xám tạo nên sự hài hoà giữa sắc trắng và xám.
Sau khi chạm, khắc và trang trí họa tiết, thợ gốm tiến hành làm nớc men
và tráng men sản phẩm. Ngay từ thế kỷ 12, gốm Koryo đã nổi tiếng khắp thế
giới cũng chỉ bởi màu men ngọc bích huyền diệu có một không hai. Màu men
gốm luôn là một bí quyết riêng không thể sao chép. Bởi vậy, các học giả Trung
Quốc đã gọi gốm men ngọc bích đầu thời Koryo là một trong 10 vật báu của thế
giới. Để tạo màu men ngọc bích thì đất sét và nớc men phải chứa một hàm lợng
nhỏ chất sắt. Ngoài ra, gốm ngọc bích Koryo còn sử dụng nhiều cách pha chế n-
ớc men khác. Theo đó, gốm Koryo còn đợc biết đến với những sản phẩm gốm

Choseon. Đây là phơng pháp nung mà khí O
2
sẽ đợc giới hạn tới mức nhỏ nhất.
Nhờ kỹ thuật nung này, sản phẩm tạo ra sẽ có màu hơi vàng hoặc màu đồng sẽ
chuyển thành đỏ.
Nhìn vào quy trình sản xuất nh trên có thể thấy đây là một công việc rất
vất vả, công phu và hoàn toàn thủ công.
b, Đặc điểm về công năng
Đồ gốm là một sản phẩm mang đậm giá trị văn hoá bởi chúng đợc tạo ra
bằng bàn tay ngời lao động và phục vụ hữu ích nhu cầu của con ngời. Triều đại
Koryo kéo dài từ năm 918 đến năm 1392 đã chịu một ảnh hởng khá mạnh mẽ
của Phật giáo. Thời kỳ này cũng đạt đợc nhiều thành tựu văn hoá rực rỡ, trong
đó có văn hoá gốm. Chính sự hng thịnh của các ngôi đền Phật giáo trong suốt
triều đại Koryo đã khơi nguồn cho việc sản xuất đồ gốm men ngọc bích. Lúc
đầu các thợ gốm Koryo chỉ tập trung sản xuất nhiều bình, lọ, bát để sử dụng
trong các buổi lễ trang trọng của Phật giáo. Sau đó một loạt các sản phẩm gốm
có tính chất trang trí và sinh hoạt khác cũng đợc sản xuất nhng chủ yếu chỉ đợc
dùng trong các cung điện hoàng gia hay trong giới quý tộc mà thôi. Bởi vậy ng-
ời Triều Tiên thờng ví đồ gốm men ngọc bích là đồ dùng của vua chúa
3
. Chính
sự a chuộng của tầng lớp thợng lu cũng là một lý do quan trọng khiến đồ gốm
men ngọc bích phát triển cực mạnh ở thời kỳ này.
Khác với đồ gốm Koryo, gốm puncheong và sứ Paekja thời Choseon đợc
mọi tầng lớp nhân dân a chuộng và sử dụng. Gốm sứ Choseon đợc sử dụng với
3
www.korean-arts.com
Website: Ema il :
Đề tài: Những nét văn hóa tơng đồng và dị biệt qua một số sản phẩm gốm nổi tiếng của
Hàn Quốc và Việt Nam.

số những chiếc bát có miệng tròn, thân lợn hình chữ U hoặc chữ V. Những chiếc
4
. 2002. 2. : &.
5
Pictorical Korea, the monthly magazin, July 2001, P25-28
Website: Ema il :
Đề tài: Những nét văn hóa tơng đồng và dị biệt qua một số sản phẩm gốm nổi tiếng của
Hàn Quốc và Việt Nam.
âu đợc sản xuất với nhiều kích cỡ và đợc mô phỏng theo hình dáng của những
chiếc niêu cơm. Những chiếc âu này thờng để đựng mật ong, tơng hay
kimchi rất tiện lợi (Hình 11). Các đồ vật có tính chất trang trí nh cái chẹn giấy,
l hơng, gạch lát cũng đợc sản xuất với nhiều mẫu mã đa dạng.
Khác với những kiểu dáng cầu kỳ của gốm Koryo, gốm puncheong thời
Choseon đặc trng bởi những nét tạo hình tự do, phóng khoáng. Đồ gốm
puncheong thờng mô phỏng hình quả lê, quả trám, những chú ngỗng cổ vơn dài
hay những chú rùa xinh xắn.
Sau sự lụi tàn của gốm puncheong ngời dân bắt đầu chú ý tới một loại sản
phẩm mới, đó là sứ trắng Paekja. Cổ ngắn, miệng rộng và thân hình đò sộ là nét
đặc trng của những chiếc bình sứ trắng thời kỳ đầu Choseon. Sang đầu thế kỷ 17
những chiếc bình này có xu hớng thon hơn ở phần thân và phần cổ dài hơn. Vào
thế kỷ 18, hình dáng những chiếc bình này trở nên hoàn hảo và ấn tợng hơn
(Hình vẽ 11 -Bình Choseon TK 18)
6
.
Sứ trắng Choseon đa dạng về mẫu mã. Từ những bát ăn cơm, bát đựng súp,
khay, đĩa, tách trà, ống nhổ, lọ mực, ống cắm bút đợc sản xuất với nhiều hình
dạng phong phú.Những lọ mực hình trái đào, những chiếc bình trang trí nh
những bông hoa, những ống cắm bút hình trụ bao quanh bởi nhiều mắt lới là
những sản phẩm rất sáng tạo và độc đáo (Hình 15).
d. Đặc điểm về hoạ tiết trang trí

trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Nó trở thành đại diện tiêu biểu cho nghệ thuật
gốm độc đáo của bán đảo Triều Tiên. Và sự đáo này vẫn đợc duy trì trong suốt
triều đại Choseon.
Các hoạ tiết phổ biến trên gốm puncheong Choseon vẫn là những phong
cảnh, cây cối hay các loài vật quen thuộc nh: Hoa sen, hoa mẫu đơn, hoa cúc,
cây liễu, chim, cá, rồng, mây, nhng điều đặc biệt ở chỗ cách trang trí hoạ tiết
trên gốm puncheong rất tự nhiên, thậm chí đôi lúc còn hơi đơn giản và lộn xộn
chứ không cầu kỳ, kiểu cách nh gốm ngọc bích thời Koryo. Gốm sứ Choseon đặc
biệt ở sự miêu tả chân thực phong cảnh tự nhiên, hay bảy vật quý ( vàng, bạc, đá
xanh da trời, pha lê, san hô, mã não, ngọc trai). Hoa văn vẽ trên các sản phẩm sứ
trắng Choseon thờng chịu ảnh hởng của xu hớng hiện thực trong hội hoạ. Trên
các sản phẩm sứ trắng xanh thờng xuất hiện hình ảnh cây mận, cây tre hay
7
www.korean-arts.com
Website: Ema il :
Đề tài: Những nét văn hóa tơng đồng và dị biệt qua một số sản phẩm gốm nổi tiếng của
Hàn Quốc và Việt Nam.
những bức tranh về cảnh và ngời. Các đề tài này phản ánh suy nghĩ của tầng lớp
quý tộc yangban thời đó. Đó là ý nghĩ, khát vọng muốn hoà hợp với tự nhiên,
đất trời
8
. Trong suốt thể kỷ 17 thời kỳ hoàng kim của sứ trắng tráng men sắt, hoa
văn đã có sự thay đổi với hầu hết những mô típ họa tiết rồng và cây cối. ở
thế kỷ XVIII, tranh phong cảnh và những bức vẽ miêu tả đơn giản mà tinh tế về
bốn loại cây quý phái: mận, phong lan, cúc, tre xuất hiện phổ biến trên các sản
phẩm sứ nói riêng và một số loại hình nghệ thuật khác nói chung. Điển hình là
họa tiết con rồng và phong cảnh thiên nhiên không chỉ xuất hiện trên các bình,
bát gốm sứ mà còn phổ biến ở nhiều loại hình nghệ thuật khác, trong đó có hội
hoạ và điêu khắc gỗ. Đây là hai môn nghệ thuật có vai trò rất quan trọng trong
nền văn hoá của mỗi dân tộc.

mà chỉ có những sản phẩm đất nung mới có thể đáp ứng đợc. Trải qua thời gian
nhu cầu sử dụng gốm ngày càng nhiều và nhờ đó công nghệ sản xuất gốm cũng
ngày càng đợc cải tiến. Bài viết này chỉ đề cập đến một số sản phẩm gốm nổi
tiếng của Việt Nam nh: Gốm Bát Tràng, gốm Phù Lãng và gốm Chu Đậu.
Gốm Phù Lãng xuất hiện từ thời Lý (thế kỷ XI). Gốm Bát tràng và gốm
Chu Đậu ra đời từ thế kỷ XIV và phát triển mạnh vào thế kỷ XV, XVI. Cũng nh
đồ gốm trên bán đảo Triều Tiên, đồ gốm Việt Nam ra đời và phát triển gắn liền
cùng lịch sử dân tộc. Đặc biệt thời đại Lý Trần là giai đoạn phát triển rực rỡ
nhất của gốm sứ nớc ta
9
. Thời kỳ này một loạt sản phẩm gốm nổi tiếng của Phù
Lãng, Bát Tràng, Chu Đậu có thể sánh ngang cùng gốm sứ Koryo (thế kỷ XI
đến thế kỷ XIV) và gốm sứ Choseon (thế kỷ XV đến thế kỷ XIX).
2-Những đặc điểm văn hóa của đồ gốm Việt Nam
a.Đặc điểm về chất liệu và công nghệ
Tuân theo quy trình sản xuất gốm nói chung, gốm Việt Nam đợc chế tác
theo sáu bớc: chọn đất, xử lý đất, tạo hình, trang trí họa tiết, tráng men và nung.
Về chất liệu đất, các thợ gốm Phù Lãng phải lựa chọn đất khá tỉ mỉ. Đất
để làm sành phải là loại sét đặc biệt, có độ dẻo quánh. Họ phải lên tận xã Nhân
Hoà, Việt Thống, cách xa hơn 25km để mua đất. Đất về phải phơi cho bạc màu,
9
Sản phẩm và làng nghề truyền thống. Cục xúc tiến thơng mại.
Website: Ema il :
Đề tài: Những nét văn hóa tơng đồng và dị biệt qua một số sản phẩm gốm nổi tiếng của
Hàn Quốc và Việt Nam.
trộn lẫn các lớp đất, đập nhỏ, ngâm nớc, xéo tròn, nề đất, chọn sạn, phá sao cho
đến khi đất nh miếng giò mới là đợc. Khác với sành Phù Lãng, chất liệu chính
của gốm sứ Bát Tràng là đất sét trắng và đất cao lanh có sức chịu nhiệt cao. Sét
này có độ dẻo cao, hạt mịn, màu trắng xám. Kỹ thuật xử lý đất ở Bát Tràng xa
nay đều phải dùng hệ thống bể chứa. Bể ở vị trí cao nhất gọi là bể đánh dùng để

nổi tiếng nhất là loại gốm men rạn, đợc tạo thành từ hợp chất: vôi sống, cao lanh
và tro trấu. Gốm Chu Đậu cũng đã từng rất nổi tiếng với các loại men nh: men
nâu, men ngọc, men xanh lá cây và đặc biệt là men hoa lam.
Sau khi tráng men, công đoạn cuối cùng là nung đốt sản phẩm. Các sản
phẩm gốm thờng đợc nung từ 1100
0
C đến 1250
0
C còn các sản phẩm sứ phải
nung từ 1250
0
C đến 1350
0
C.
b.Đặc điểm về công năng
Tơng tự Hàn Quốc, gốm Việt Nam đợc sản xuất với nhiều mục đích khác
nhau. Gốm Phù Lãng phong phú đa dạng: gốm gia dụng ( lọ, bình, chum, vại );
gốm dùng trong tín ngỡng dân gian ( l hơng, đài thờ, đỉnh); gốm trang trí ( bình,
lọ, tranh đất ). Các sản phẩm gốm Chu Đậu chủ yếu là đồ gia dụng và đồ thờ
cúng nhng ít đồ trang trí. ở Bát Tràng, ngoài các sản phẩm gốm trên còn sản
xuất gốm xây dựng nh: ống nớc, gạch ngói, thiết bị vệ sinh
c.Đặc điểm về kiểu dáng
Hầu hết các sản phẩm gốm sứ của Việt Nam từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18
đều có kiểu dáng đa dạng, mô phỏng hình thù các con vật hay các loại quả rất
sinh động. (Hình 23,24,25,26).Ngày nay, các nghệ nhân còn cải tiến rất nhiều
loại kiểu dáng, mẫu mã cho từng loại sản phẩm nhằm tăng sự cạnh tranh trên thị
trờng gốm.
d.Đặc điểm hoạ tiết
Các hoạ tiết nh rồng, phợng, cây cối, hoa lá, cảnh thiên nhiên vẫn là
những chủ đề quen thuộc đợc nhiều thợ gốm các nớc a chuộng. Song các hoạ

gốm truyền thống của Việt Nam và Hàn Quốc đều đợc đặt gần các con sông để
tiện chuyên chở, vận chuyển sản phẩm và khai thác phù sa một chất liệu quý
để tạo men.Tro cây rừng và đá vôi là những nguyên liệu không thể thiếu để tạo
nên sắc men xanh và một số màu men độc đáo khác. ở Việt Nam, làng gốm
Phù Lãng cũng sớm biết tận dụng nguồn đá son, rất tốt cho việc chế tạo màu
men vàng da lơn nổi tiếng. Hàn Quốc vốn là xứ sở có nhiều đồi núi, rừng cây.
Đây cũng là một lợi thế để ngời dân khai thác gỗ,cành cây làm chất đốt nung
Website: Ema il :
Đề tài: Những nét văn hóa tơng đồng và dị biệt qua một số sản phẩm gốm nổi tiếng của
Hàn Quốc và Việt Nam.
gốm. Nh vậy qua việc tìm hiểu nghề làm gốm có thể thấy nét văn hóa tơng đồng
giữaViệt Nam và Hàn Quốc, đó là văn hóa tận dụng, khai thác và ứng phó với
môi trờng tự nhiên.
2-Quan điểm thẩm mỹ của hai dân tộc
Việt Nam và Hàn Quốc cùng thuộc khu vực Châu á và cùng mang ảnh h-
ởng t tởng phơng Đông. Đặc biệt dân tộc ta và dân tộc Hàn chịu ảnh hởng khá
sâu đậm từ Phật giáo và Nho giáo Trung Quốc nên Hàn Việt từng đợc xếp
vào nhóm các quốc gia đồng văn. Có thể thấy trên các sản phẩm gốm sứ hai
nớc thờng xuất hiện các họa tiết: long, ly, qui, phợng hay tùng, trúc, cúc, mai
là những biểu tởng mang đậm t tởng và triết lý của đạo Phật mà chúng ta thờng
thấy trong các đền chùa Phật giáo. Theo quan niệm của hai nớc, các hoạ tiết này
đều biểu tợng cho sự thanh cao, lòng ngay thẳng, trong sạch và tính thiện của
Phật giáo. ở triều đại Koryo quan điểm thẩm mỹ có phần cầu kỳ và khắt khe
hơn triều đại Choseon. Trong suốt triều đại Koryo gốm sứ đợc chạm khắc tỷ mỉ,
kiểu dáng, hoạ tiết cầu kỳ nhng sang đến triều đại Choseon các hoạ tiết, màu sắc
đã đơn giản hơn và gần gũi hơn với đời thờng. Bên cạnh những nét tơng đồng
quan điểm thẩm mỹ của hai dân tộc Hàn Việt cũng có một số nét khác nhau.
So với gốm sứ Hàn Quốc, gốm sứ Việt Nam đặc trng hơn bởi vẻ đẹp tự nhiên và
giản dị. Các hoạ tiết trên các sản phầm gốm Việt Nam đã khai thác tối đa chất
tự nhiên. Đó là những cụm cỏ, hoa dại, chuồn chuồn, gà, vịt cách sử dụng màu

dân gian hay cảnh làm kimchi, cảnh hái chè mang đậm bản sắc văn hóa Hàn.
Trên sản phẩm gốm sứ Việt Nam, đó là những cảnh hứng dừa, vinh qui bái tổ,
đám cới chuột, cảnh cấy lúa, chèo đò, ra khơi đánh cá, dọn quán bán hàng hay
các tích truyện Lu Bình Dơng Lễ, Trơng Chi v.v
Dân tộc Việt Nam và Triều Tiên đều là những dân tộc có tinh thần dũng
cảm. Điều này thể hiện rõ trên các họa tiết gốm tái hiện các cảnh chống thiên
nhiên, thú dữ hay các trận đánh chống giặc ngoại xâm (Hình 18). Tuy nhiên
do đặc diểm khí hậu, địa hình và lịch sử chống ngoại xâm không giống nhau
nên cách thể hiện họa tiết trên sản phẩm gốm hai nớc cũng khác nhau. Trận
Website: Ema il :
Đề tài: Những nét văn hóa tơng đồng và dị biệt qua một số sản phẩm gốm nổi tiếng của
Hàn Quốc và Việt Nam.
chiến Sơn Tinh Thủy Tinh hay cảnh Thánh Gióng đánh giặc không thể nhầm
lẫn với cảnh thủy chiến của dân tộc Hàn chống giặc xâm lợc Mông Cổ
Tín ngỡng, tôn giáo cũng là một phần không thể thiếu trong đời sống văn
hóa tinh thần của nhân dân hai nớc. Qua các họa tiết gốm có thể hình dung đợc
các nghi lễ tôn giáo nh Shaman giáo, Phật giáo, Nho giáo của Triều Tiên cũng
nh nhiều nghi lễ tôn giáo của Việt Nam vừa có những nét văn hóa tơng đồng
vừa có những điểm khác biệt. Ví dụ nh: ở Việt Nam và Triều Tiên đều có các
nghi lễ xua đuổi tà ma nhng hình thức thể hiện không giống nhau. ở Triều Tiên
phổ biến là các lễ hội múa mặt nạ còn ở Việt Nam đó thờng là những cảnh làm
phép, lên đồng Hình ảnh Phật A Di Đà, Bồ Tát, phong cảnh chùa chiền, đền
miếu v.v cũng đợc xuất hiện nhiều trên các sản phẩm gốm.
4-Truyền thống lao động cần cù, giàu nghị lực, giàu trí tởng tợng, sức
sáng tạo và sự khéo léo của các nghệ nhân gốm ở cả hai dân tộc.
Quá trình sản xuất gốm gồm nhiều công đoạn công phu, vất vả đòi hỏi các
thợ gốm phải có những phẩm chất cần cù, giàu nghị lực, giàu trí tởng tợng, sáng
tạo và khéo léo Vì là sản xuất thủ công nên tỷ lệ thứ phẩm khá lớn (khoảng
30%). Đến khi thành sản phẩm rồi thì lại là sản phẩm dễ vỡ, vận chuyển cồng
kềnh đòi hỏi ng ời thợ gốm phải rất kiên trì và nghị lực. trí tợng tợng phong

ớc luôn quan tâm đến chiến lợc xuất khẩu mặt hàng thủ công, trong đó có các
sản phẩm gốm sứ.
Đồ gốm không chỉ là sản phẩm trao đổi , phát triển kinh tế mà còn để giới
thiệu văn hóa. Thông qua các sản phẩm gốm, Việt Nam và Hàn Quốc có thể
giới thiệu với nhau và với thế giới về những nét văn hóa đặc sắc của đất nớc
mình. Việc phát triển du lịch làng nghề truyền thống cũng là một thế mạnh của
cả hai nớc để phát triển kinh tế, văn hóa.Những nét văn hóa tơng đồng sẽ là điều
kiện thuận lợi cho việc hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Từ sự hội
nhập về văn hóa sẽ tiếp sức cho sự hợp tác về kinh tế, ngoại giao và nhiều lĩnh
vực khác. Những nét văn hóa khác nhau nói lên bản sắc văn hóa riêng của mỗi
Website: Ema il :
Đề tài: Những nét văn hóa tơng đồng và dị biệt qua một số sản phẩm gốm nổi tiếng của
Hàn Quốc và Việt Nam.
nớc, cần đợc trân trọng, giữ gìn để hòa nhập mà không hòa tan. Vì vậy trong
quá trình hợp tác cần phải nghiên cứu để hiểu biết rõ về nhau, trên cơ sở đó biết
tôn trọng, giữ gìn và tăng cờng học hỏi những giá trị văn hóa tốt đẹp của mỗi n-
ớc.
Chuyên đề này mong góp một phần nhỏ giới thiệu một vài nét văn hóa đẹp
trong mỗi nền văn hóa của hai quốc gia đã và đang có mối quan hệ hữu nghị và
hợp tác tốt đẹp.
Với khả năng có hạn nên niên luận này chắc chắn còn nhiều điểm hạn chế
và thiếu sót. Tôi xin đợc sự đóng góp ý kiến của các thày cô và các bạn sinh
viên.
Xin trân trọng cảm ơn!
TI LIU THAM KHO
1. . 2002. 2. : &.
2. Julie Pickering. 1997. Korean Cultural Heritage. The Korea Foundation.
3. Pictorial Korea, The monthly magazine, april 2004, p28-31.
4. Pictorial Korea, The monthly magazine, july 2001 , p25-28.
5. Pictorial Korea, The monthly magazine, june 2000, p40-45.

3. Tiểu kết 14
III. Những đặc điểm văn hoá trong đồ gốm Việt Nam 15
1. Khái lợc về lịch sử ra đời và quá trình phát triển của đồ gôm
Việt Nam
15
2. Những đặc điểm văn hoá của đồ gốm Việt Nam 16
IV. Những nét văn hoá tơng đồng và khác biệt thể hiện qua sản phẩm
gốm Hàn Quốc và Việt Nam
18
1. Văn hoá tận dụng và khai thác môi trờng tự nhiên 18
2. Quan điểm thẩm mỹ của hai dân tộc 19
3. Đời sống tinh thần, tình cảm của hai dân tộc 20
4. Truyền thống lao động cần cù, giàu nghị lực, giàu trí tởng tợng,
sức sáng tạo và sự khéo léo của các nghệ nhân gốm ở cả hai dân
tộc.
21
5. Sản xuất gốm là một nghề thủ công truyền thống 22
C. Kết luận 23
Tài liệu tham khảo 24
Website: Ema il :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status