VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ NGỌC
Kính ngữ tiếng Hàn và các phương tiện
biểu hiện tương đương trong tiếng Việt
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ NGỌC
Kính ngữ tiếng Hàn và các phương tiện
biểu hiện tương đương trong tiếng Việt
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9222020
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN VĂN HIỆP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, năm 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 5
5.
Đóng góp của luận án ................................................................................................... 5
5.1. Về mặt lý luận: ............................................................................................................. 5
5.2. Về mặt thực tiễn ........................................................................................................... 6
6.
Bố cục của luận án ........................................................................................................ 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT........
........................................................................................................................................ 7
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu .................................................................................. 7
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ lịch sự ở nước ngoài ................................................ 7
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu về kính ngữ tiếng Nhật và tiếng Trung. ........................................ 9
1.1.3. Lịch sử nghiên cứu về kính ngữ tiếng Hàn................................................................. 11
1.1.4. Lịch sử nghiên cứu về lịch sự trong tiếng Việt........................................................... 14
1.1.5. Lịch sử nghiên cứu về kính ngữ tiếng Hàn trong so sánh - đối chiếu với tiếng Việt . 15
1.2. Cơ sở lý thuyết ........................................................................................................... 17
1.2.1. Một số vấn đề về kính ngữ.......................................................................................... 17
1.2.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa liên quan đến kính ngữ ............................... 28
1.2.3. Nghiên cứu đối chiếu kính ngữ tiếng Hàn với biểu thức tương đương trong tiếng
Việt. .................................................................................................................................... 31
1.2.4. Các yếu tố tác động và chi phối việc sử dụng kính ngữ trong giao tiếp .................... 33
1.3. Tiểu kết chương 1 ...................................................................................................... 41
[1]
3.3.1. Giao tiếp giữa cháu và ông bà ................................................................................. 123
3.3.2. Giao tiếp giữa con cái và bố mẹ .............................................................................. 126
3.3.1. Giao tiếp giữa vợ và chồng ...................................................................................... 131
3.3.2. Trong quan hệ giao tiếp giữa các anh chị và em ..................................................... 138
3.4. Tiểu kết chương 3 .................................................................................................... 144
[2]
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ ........................................ i
Tài liệu tham khảo ................................................................................................................ iii
Phụ lục 1. Phụ tố là Tiền tố ‘귀-’ (Kuy, 贵, quý) trong tiếng Hàn ........................................ 1
Phụ lục 2. Tiền tố quý trong tiếng Việt.................................................................................. 1
Phụ lục 3. Hậu tố Nim (님) trong tiếng Hàn ......................................................................... 1
Phụ lục IV. Các từ xưng hô chỉ chức vụ nghề nghiệp và thân tộc trong tiếng Việt ................. 50
Phụ lục V. Tiểu từ chỉ cách trong tiếng Hàn ....................................................................... 68
Phụ lục VI. Đuôi từ hàng trước (으)시 trong tiếng Hàn ..................................................... 70
Phụ lục VII. Thành phần phụ thưa, bẩm trong tiếng Việt ................................................... 91
Phụ lục VIII. Các tiểu từ tình thái ạ, nhé, nha trong tiếng Việt ........................................... 91
Phụ lục IX. Các từ hồi đáp dạ, vâng trong tiếng Việt........................................................ 100
Phụ lục X. Vị từ bổ trợ (보조 용언) trong tiếng Hàn........................................................ 105
Phụ lục XI. Trợ động từ trong tiếng Việt .......................................................................... 110
Phụ lục XII. Từ vựng thay thế mang sắc thái lịch sự, đề cao, kính trọng trong
tiếng Hàn .......................................................................................................................... 111
Phụ lục XIII. Từ vựng thay thế mang sắc thái lịch sự, đề cao, kính trọng
trong tiếng Việt ................................................................................................................. 121
[3]
TTTC
Vị từ bổ trợ
VTBT
Trợ động từ
TrĐT
Đuôi từ
Đuôi kết thúc
ĐT
ĐKT
Đuôi từ hàng trước
ĐTHT
Đuôi từ hàng sau
ĐTHS
Tiểu từ tình thái
TTTT
Đại từ nhân xưng
tiếp xã hội của người Việt ........................................................................................ 63
Biểu đồ 2.4: Kết quả khảo sát tỷ lệ sử dụng đuôi từ hàng trước (으)시 ở vị từ so với
phương thức thay thế từ vựng trong phép kính ngữ chủ thể .................................... 68
Biểu đồ 2.5: Kết quả kháo sát tỷ lệ đuôi kết thúc kính trọng bậc nhất 합쇼체 ở các
dạng câu trong tiếng Hàn .......................................................................................... 75
Bảng 2.10: Công thức chung của biểu thức ‘thưa gọi’, ‘thưa bẩm’ trong tiếng Việt
.................................................................................................................................. 83
Hình 2.2: Công thức chung của vị từ bổ trợ tiếng Hàn ............................................ 90
Bảng 2.11: Các động từ thường dùng làm vị từ biểu thị sự đề cao vai chủ thể
trong tiếng Hàn ......................................................................................................... 99
Bảng 2.12: Các động từ làm vị từ biểu thị sự đề cao vai chủ thể thường dùng
trong tiếng Việt ....................................................................................................... 100
Bảng 2.13: Các động từ làm vị từ biểu thị sự đề cao vai khách thể thường dùng
trong tiếng Hàn ....................................................................................................... 102
Bảng 2.14: Các động từ làm vị từ biểu thị sự đề cao vai khách thể thường dùng
trong tiếng Việt ....................................................................................................... 103
Bảng 3.1. Kết quả kháo sát về mức độ dùng các từ xưng hô với bố mẹ của người
Hàn Quốc (năm 2010) ............................................................................................ 110
Bảng 3.2. Kết quả khảo sát về mức độ sử dụng các dạng đuôi kết thúc của con cái
với bố mẹ trong giao tiếp gia đình ở kịch bản phim Gia đình chồng tôi................ 111
Bảng 3.3. Kết quả khảo sát về mức độ sử dụng các dạng đuôi kết thúc của bố mẹ với
con cái trong giao tiếp gia đình Hàn Quốc ở kịch bản phim “Gia đình chồng tôi”. ... 113
Bảng 3.4. Kết quả kháo sát về thực tế dùng các từ xưng hô giữa vợ và chồng khi
mới kết hôn chưa có con của người Hàn Quốc (năm 2010) ................................... 115
Bảng 3.5. Kết quả kháo sát về thực tế dùng các từ xưng hô giữa vợ và chồng khi đã
có con của người Hàn Quốc (năm 2010) ................................................................ 116
giao tiếp, mục đích giao tiếp và chiến lược giao tiếp. Xét ở phương diện văn hoá,
kính ngữ tiếng Hàn chịu sự tác động của các yếu tố văn hoá truyền thống Hàn Quốc
nên mang những đặc trưng riêng rất đa dạng, phong phú nhưng cũng khá phức tạp.
Những yếu tố văn hóa truyền thống của xã hội Hàn Quốc vốn coi trọng thể diện,
tính tôn ti và trật tự trên dưới trong cả gia đình và ngoài xã hội đều được thể hiện
qua kính ngữ tiếng Hàn trong quá trình giao tiếp. Kính ngữ tiếng Hàn được xem
1
như một phương tiện để lưu giữ những phép tắc, lễ nghi Nho giáo chuẩn mực từ xa
xưa của xã hội Hàn Quốc được truyền bá và kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, kính ngữ tiếng Hàn đã phát triển và có những thay đổi
nhất định về diện mạo mà nhiều học giả Hàn Quốc đã đề cập trong các công trình
liên cứu liên quan của mình.
Các nội dung phân tích trên cho thấy hệ thống kính ngữ tiếng Hàn có những
đặc trưng phức tạp, khó nắm bắt so với những phương tiện ngôn ngữ biểu hiện lịch
sự trong tiếng Việt nên không ít người Việt đã gặp khó khăn và phạm lỗi trong qua
trình giao tiếp tiếng Hàn. Điều này dẫn đến việc người học thiếu tự tin khi sử dụng
kính ngữ trong giao tiếp tiếng Hàn. Thực tế, nhiều công trình nghiên cứu liên quan
cũng đã chỉ ra rằng không chỉ người nước ngoài mà ngay cả người Hàn Quốc cũng
có sự nhầm lẫn, phạm lỗi khi sử dụng kính ngữ tiếng Hàn. Xuất phát từ những thực
tế hạn chế đó, chúng tôi cho rằng phải có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về
kính ngữ tiếng Hàn và đặt nó trong mối tương quan với các biểu hiện tương đương
của tiếng Việt để đáp ứng nhu cầu ứng dụng trong nghiên cứu, dịch thuật đặc biệt là
trong dạy và học tiếng Hàn có chất lượng ở Việt Nam. Kính ngữ tiếng Hàn được
xem là một trong những phương tiện ngôn ngữ quan trọng, cơ bản, cốt lõi nhất của
tiếng Hàn trong hoạt động giao tiếp nên không thể bị xem nhẹ trong quá trình dạy
và học tiếng Hàn. Đây chính là ý nghĩa quan trọng của công trình luận án với đề tài
“Kính ngữ tiếng Hàn và các phương tiện biểu hiện tương đương trong tiếng
chọn và sử dụng kính ngữ phù hợp nhằm hướng tới hiệu quả giao tiếp tiếng Hàn tốt
nhất cho người học Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi, nguồn ngữ liệu nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án gồm các đặc trưng cơ bản và phương
thức biểu hiện của kính ngữ tiếng Hàn trong mối tương quan với tiếng Việt; và thực tế
sử dụng kính ngữ tiếng Hàn trong các mối quan hệ giao tiếp liên cá nhân ở gia đình
Hàn có đối chiếu với các biểu hiện tương đương trong giao tiếp gia đình Việt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung nghiên cứu các phương tiện biểu
hiện kính ngữ tiếng Hàn trên phương diện ngôn ngữ mà không xem xét tới các phương
tiện biểu hiện khác liên quan đến phương diện văn hoá như tư thế, tác phong, thái độ
và ngữ vực v.v.. Do đó, luận án sẽ tập trung đề cập và phân tích hai phương thức biểu
hiện trên phương diện ngôn ngữ của kính ngữ tiếng Hàn gồm (1) phương thức ngữ
pháp (hình thái học) và (2) phương thức thay thế từ vựng có quy chiếu với các phương
thức biểu hiện tương đương trong tiếng Việt. Luận án cũng sẽ tiến hành khảo sát, phân
tích, so sánh, đối chiếu cách sử dụng kính ngữ tiếng Hàn trong giao tiếp gia đình của
người Hàn Quốc có xét tương quan với tiếng Việt để từ đó tìm ra các điểm tương đồng
và khác biệt trong giao tiếp lịch sự, giao tiếp chuẩn mực của tiếng Hàn với tiếng Việt.
3.3. Ngữ liệu nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu đưa ra các các tiêu chí khi lựa chọn các nguồn ngữ liệu
khảo sát tiếng Hàn và tiếng Việt trong luận án như sau:
(1) Nguồn ngữ liệu phải mang tính đa dạng, tiêu biểu và chuẩn mực bao gồm
các câu hội thoại khác nhau trong giao tiếp hàng ngày ở gia đình và ngoài xã hội
của người dân hai nước trong xã hội hiện đại Việt Nam – Hàn Quốc.
(2) Nguồn ngữ liệu phải bao gồm cả các tình huống giao tiếp hội thoại ở xã hội
xưa (trước 1945), thể hiện rõ những giao tiếp trong đời sống xã hội hiện thực của
hiện kính ngữ trong giao tiếp ngôn ngữ ở xã hội xưa và xã hội hiện đại ngày nay mà
còn cả những đối chiếu giữa các phương tiện biểu hiện kính ngữ sử dụng trong văn
chương và trong giao tiếp ngôn ngữ đời thường.
Trong luận án, các câu hội thoại được lựa chọn và trích ra từ các ngữ liệu trên
sẽ được chúng tôi trực tiếp chuyển nghĩa từ tiếng Hàn sang tiếng Việt trong đó có
một số các câu thoại được chuyển nghĩa nguyên gốc để thuận lợi cho việc phân tích,
giải thích, chứng minh các luận cứ, luận điểm liên quan đến các phương tiện biểu
hiện kính ngữ tiếng Hàn. Kết quả khảo sát các ngữ liệu tiếng Hàn và tiếng Việt trên
sẽ là căn cứ quan trọng giúp chúng tôi tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống,
toàn diện và chuyên sâu về các phương tiện biểu hiện kính ngữ tiếng Hàn trên cả hai
phương diện ngữ pháp và từ vựng đặt trong mối tương quan với tiếng Việt.
4
4. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra trong luận án, chúng tôi sử
dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó có một số phương pháp và
thủ pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Phương pháp miêu tả được áp dụng để mô tả các phương tiện biểu hiện kính
ngữ tiếng Hàn qua ngữ pháp, từ vựng, ngữ dụng học có quy chiếu với các phương
thức biểu đạt tương đương của tiếng Việt trong giao tiếp gia đình và xã hội.
Phương pháp phân tích diễn ngôn là phương pháp quan trọng để phân tích,
xem xét các tình huống hội thoại cụ thể, trong đó các vai giao tiếp, hoàn cảnh giao
tiếp, mục đích giao tiếp và chiến lược lược giao tiếp là những yếu tố có tác động và
chi phối mạnh mẽ tới việc lựa chọn và sử dụng kính ngữ tiếng Hàn phù hợp theo
từng tình huống và ngữ cảnh giao tiếp thực tế.
Phương pháp so sánh - đối chiếu là phương pháp được sử dụng trong phân
tích, đối chiếu ngôn ngữ để tìm ra những đặc trưng giống và khác nhau trong phép
kính ngữ, phép lịch sự trong ngôn ngữ của hai nước. Kết quả so sánh - đối chiếu là
cơ sở để chúng tôi chứng minh, khẳng định sự tương đồng và khác biệt trong tư duy,
trong giao tiếp.
Cuối cùng, luận án cũng sẽ nhấn mạnh và đồng nhất với quan điểm cho rằng
kính ngữ là một bộ phận của chỉ xuất xã hội - một yếu tố cần và không thể thiếu
trong giao tiếp chuẩn mực, giao tiếp lịch sự thuộc phạm trù nghiên cứu của ngữ
dụng học đang rất được quan tâm hiện nay.
5.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả của nghiên cứu kính ngữ tiếng Hàn có so sánh, đối chiếu với tiếng
Việt sẽ giúp người Việt học tiếng Hàn hiểu và nắm được toàn diện hệ thống cơ bản
kính ngữ tiếng Hàn đặt trong mối tương quan với tiếng Việt để từ đó có thể nâng
cao hiệu quả sử dụng kính ngữ trong giao tiếp tiếng Hàn.
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ được áp dụng hữu ích trong thực tiễn công
tác nghiên cứu, công tác biên phiên dịch và công tác giảng dạy và học tiếng Hàn ở
Việt Nam. Giúp người dạy xây dựng, biên soạn được các giáo trình, các tài liệu
giảng dạy, tài liệu nghiên cứu tiếng Hàn phù hợp.
Giúp người Việt học tiếng Hàn tránh được các lỗi sử dụng kính ngữ trong giao
tiếp tiếng Hàn do những khác biệt về tư duy, văn hóa để tránh những hiểu lầm, xung
đột đáng tiếc có thể xảy ra.
Giúp người học có được chiến lược giao tiếp hiệu quả, biết lựa chọn cách ứng
xử phù hợp trong các tình huống, ngữ cảnh giao tiếp tiếng Hàn khác nhau.
Đặc biệt giúp các cô dâu Việt lấy chồng Hàn Quốc có thể tự tin sử dụng các
phương thức biểu hiện kính ngữ trong giao tiếp gia đình và ngoài xã hội.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Ngữ liệu trích dẫn, nội
dung chính của luận án được cấu trúc thành ba chương như sau:
- CHƯƠNG 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
- CHƯƠNG 2: Các phương tiện biểu hiện kính ngữ tiếng Hàn và những biểu
thức tương đương trong tiếng Việt
- CHƯƠNG 3: Sử dụng kính ngữ trong giao tiếp tiếng Hàn và phương thức
biểu thị tương đương trong tiếng Việt ( tập trung khảo sát trong phạm vi giao tiếp
(3) Thể hiện tình bằng hữu (make other person feel good – be frienly). Cả ba quy
tắc về lịch sự này của tác giả đều làm cho vai tiếp nhận cảm thấy được tôn trọng, có
cảm giác thoải mái, không bị áp đặt và được tự chủ trong hành động của mình.
Ngoài ra, tác giả còn có một số các nghiên cứu khác về lịch sự trong ngôn ngữ đặt
trong mối tương quan với đặc trưng của các nền văn hoá trong đó có đề cập đến sự
lễ phép, lễ độ và phật lòng, phật ý trong diễn đạt ngôn ngữ.
G.Leech [95] đưa ra lý thuyết lịch sự không dựa trên khái niệm thể diện mà
dựa trên khái niệm”lợi”(benefit) và”thiệt”(cost) giữa vai phát ngôn và vai tiếp nhận
do ngôn từ tạo nên. Do mức độ lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ được quyết định
bởi mức độ thiệt – lợi trong phát ngôn nên vai phát ngôn phải sử dụng nguyên tắc
giảm tới mức tối thiểu nhất những lối nói không lịch sự và tăng tối đa các lối nói
lịch sự. G.Leech [95] cho rằng lịch sự là sự bù đắp những thiệt thòi, bất lợi và hao
tổn do ngôn từ được sử dụng trong phát ngôn gây ra cho người tiếp nhận. Một phát
7
ngôn lịch sự hướng tới hiệu quả giao tiếp cao đòi hỏi phải có sự điều chỉnh mức lợi
– thiệt để tạo được sự cân bằng xã hội và tình cảm thân thiết giữa vai phát ngôn và
vai tiếp nhận. Theo Leech, mức độ lịch sự của một hành vi ngôn ngữ phụ thuộc vào
ba yếu tố gồm: bản chất của hành vi ngôn ngữ đó; hình thức ngôn từ thể hiện hành
vi ngôn ngữ đó và mức độ quan hệ giữa vai phát ngôn và vai tiếp nhận. Nhìn chung,
mô hình về lịch sự của G.Leech được xem là chi tiết hơn và hướng tới hiệu lực của
hành vi ngôn ngữ, tư tưởng cốt lõi trong mô hình lịch sự của Brown và Levinson sẽ
được đề cập ở phần dưới. Tuy nhiên, mô hình lịch sự này của G.Leech vẫn bị xem là có
khoảng trống và không hoàn toàn đúng khi tác giả xem hành động ra lệnh là mất lịch
sự bởi cho rằng nó mang tính áp đặt, hạn chế sự tự chủ của đối tượng tiếp nhận đồng
thời xếp hành động khen, tặng vào nhóm hành động lịch sự vì nhận thấy nó mang lợi
ích cho người tiếp nhận. Quan điểm này đã không thể nhận được sự đồng thuận chung
trong nền văn hóa của một xã hội mà trong đó tính lịch sự bị chi phối bởi các quy tắc
của văn hóa Nho giáo truyền thống như xã hội Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc
[63].
Các công trình nghiên cứu về lịch sự nêu trên phần lớn tập trung vào nghiên
cứu các quy tắc, nguyên tắc về lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ; mối quan hệ giữa
lịch sự và ngôn ngữ; các yếu tố quyết định mức độ lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ;
đồng thời nhấn mạnh đến yếu tố thể diện và mất thể diện trong nghiên cứu xây dựng
mô hình lịch sự. Tuy nhiên khi xem xét các góc độ của ngôn ngữ lịch sự, chúng tôi
nhận thấy các công trình nghiên cứu trên vẫn chưa có sự khảo sát và nghiên cứu sâu
về các phương tiện biểu hiện tính lịch sự trong đó có kính ngữ trong ngôn ngữ.
Kính ngữ là phương thức biểu thị sự kính trọng, đề cao các vai giao tiếp trong phát
ngôn ở phương diện hình thái học và từ vựng trong một số các ngôn ngữ như tiếng
Trung, tiếng Hàn, tiếng Nhật v.v.. Vì vậy việc chúng tôi triển khai nghiên cứu về
Kính ngữ tiếng Hàn có đối chiếu với các phương tiện biểu hiện tương đương trong
tiếng Việt là cần thiết để bổ sung những hạn chế chưa được thực hiện ở các công
trình nghiên cứu về ngôn ngữ lịch sự trên.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu về kính ngữ tiếng Nhật và tiếng Trung
Trung Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia phương Đông chịu ảnh hưởng sâu sắc
của lễ giáo phong kiến ở mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có giao tiếp ngôn
ngữ. Do đó, trong tiếng Trung và tiếng Nhật có một số lượng không nhỏ các biểu
hiện kính ngữ hoặc biểu hiện tương đương và chúng được sử dụng trong giao tiếp
mang sắc thái lịch sự.
Hoàng Anh Thi [69, 71] đã có các công trình nghiên cứu về đặc trưng lịch sự
và các phương tiện biểu thị tính lịch sự trong tiếng Nhật có liên quan đến kính ngữ
tiếng Nhật. Tác giả [70, 71, 73] cũng đã tiến hành khảo sát các các từ ngữ xưng hô
giữa tiếng Nhật và tiếng Việt để thực hiện so sánh đối chiếu nghi thức giao tiếp giữa
hai ngôn ngữ trong đó có đề cập đến kính ngữ mà tác giả xem là có phạm vi hẹp
hơn ngôn ngữ lịch sự. Theo tác giả [69, tr.20-21] thì ngôn ngữ lịch sự trong tiếng
Nhật bao gồm dạng kính ngữ (keigo) và dạng lịch sự của ngôn ngữ (teineigo). Do
vậy, khi nói tới kính ngữ là nói tới dạng thức ngôn ngữ lịch sự riêng của tiếng Nhật
còn tiếng Việt thì không có khái niệm kính ngữ-keigo như tiếng Nhật mà chỉ có
phù hợp với tình huống giao tiếp sẽ giúp vai phát ngôn thể hiện được phẩm chất tốt
đẹp, khiêm tốn của mình đồng thời tạo ra không khí hoà nhã, trân trọng và đề cao
vai tiếp thoại để đạt được hiệu quả cao nhất trong giao tiếp. Tác giả Phạm Ngọc
Hàm [26, tr.194] đã xem xét đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ ngữ xưng hô tiếng
Hán. Tác giả nêu ra việc sử dụng đại từ nhân xưng ngôi 2 và biến thể của nó cùng
với từ xưng hô thân tộc, xưng hô theo chức vụ, nghề nghiệp cho thấy nguyên tắc
xưng khiêm hô tôn là biểu tượng của đặc trưng văn hoá, tâm lý dân tộc của người
Hán thể hiện rõ sự hạ mình và đề cao vai tiếp thoại trong giao tiếp. Phan Thị Thanh
Thuỷ [77] cũng có công trình nghiên cứu mới nhất gần đây về lịch sự giao tiếp tiếng
Trung Quốc. Tác giả đã xem xét các quy tắc và biểu hiện cụ thể của lịch sự trong
giao tiếp tiếng Trung qua các hệ thống khiêm ngữ, kính ngữ, từ ngữ xưng hô để
khảo sát các nghi thức lịch sự.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về kính ngữ tiếng Nhật và tiếng Trung
nêu trên đã chỉ ra được những đặc trưng cơ bản của kính ngữ trong ngôn ngữ hai
nước. Các tác giả cũng đã chỉ rõ các phương tiện biểu hiện kính ngữ tiếng Nhật và
tiếng Trung trong đó chúng tôi nhận thấy có sự tương đồng nhất định với tiếng Hàn.
Các phân tích ở những công trình nghiên cứu trên cho thấy kính ngữ được xem như
là một phương tiện biểu thị tính lịch sự ở cấp độ cao trong ngôn ngữ hai nước. Tuy
10
nhiên, kết quả của các công trình nghiên cứu này vẫn bỏ ngõ việc xem xét, khảo sát
và đối chiếu kính ngữ tiếng Nhật và tiếng Trung một cách có hệ thống, chuyên sâu
với các phương tiện biểu thị tương đương trong tiếng Việt và tiếng Hàn để tìm ra
các điểm tương đồng và khác biệt trong phương thức biểu hiện kính ngữ khi giao
tiếp. Luận án cùa chúng tôi về Kính ngữ tiếng Hàn có đối chiếu với các phương tiện
biểu hiện tương đương trong tiếng Việt sẽ giải quyết và bổ sung những khoảng
trống đang bị bỏ ngỏ trong các nghiên cứu về kính ngữ tiếng Trung và tiếng Nhật
nêu trên.
1.1.3. Lịch sử nghiên cứu về kính ngữ tiếng Hàn
11
Trong “Nghiên cứu phép kính ngữ trong quốc ngữ hiện đại” của Seong Ki
Cheol [145] nêu ra rằng lối nói đề cao, tôn kính, tôn trọng đóng vai trò nền tảng
trong hoạt động giao tiếp xã hội của con người và những quy tắc được áp dụng
trong phát ngôn mà người nói phản ánh mối quan hệ thân thuộc cá nhân cũng như
vị thế xã hội của mình với đối tượng tiếp nhận có liên quan đến lối nói đề cao, tôn
kính, tôn trọng đều được gọi là phép kính ngữ. Công trình nghiên cứu của tác giả đã
giải thích và đưa ra có hệ thống các phép đề cao chủ thể, phép đề cao khách thể,
phép đề cao đối với người nghe được hình thành trong hệ thống kính ngữ tiếng Hàn
hiện đại.
Tác giả Hankil trong “Nghiên cứu cách nói đề cao trong ngôn ngữ hiện đại
của chúng tôi’’ [184] đã cho thấy phép đề cao trong tiếng Hàn có sự khác biệt tương
đối theo từng thời đại, thế hệ, vùng miền và gia đình. Tác giả cho rằng lối nói đề
cao trong tiếng Hàn từ sau năm 1945 đến nay hoàn toàn dựa trên tiêu chí về tuổi tác,
vai vế, thế hệ và nếu xét theo lối nói vùng miền thì chủ yếu là dựa trên lối nói của
vùng Trung bộ. Phép đề cao trong nghiên cứu của tác giả được cho là biểu hiện theo
phương thức hình vị ngữ pháp và tác giả cho rằng cần phải thực hiện thêm các
nghiên cứu liên quan đến phương thức biểu hiện sự đề cao và hạ thấp; mức độ của
phương thức đề cao; những quy ước và hạn chế trong thể hiện sự đề cao của tiếng
Hàn.
Trong “Phép kính ngữ tiếng Hàn Quốc” của Kim Dae Yeop [121] đã nêu ra ba
yếu tố gồm đặc trưng, hệ thống và mối quan hệ tương ứng trong phép kính ngữ
tiếng Hàn. Phương thức biểu hiện kính ngữ tiếng Hàn được tác giả chia thành hai
phương thức biểu hiện gồm biểu hiện qua từ vựng và biểu hiện qua ngữ pháp.Tác
giả đã đưa ra quan điểm mới và chia hệ thống kính ngữ tiếng Hàn thành phép đề cao
người khác (타인 대우법) và phép tự đề cao (자기 대우법/self honorifics) có sự
khác biệt với những tranh luận và đề xuất trước đây chỉ giới hạn ở mỗi phép đề cao
người khác. Phép đề cao người khác chính là phép sử dụng các ngôn từ trong phát
lập 4 cấp độ kính ngữ đã bổ sung thành 6 cấp trong lối nói đề cao tiếng Hàn; Lee Ik
Seop và Jae Wan [163] cũng đã nghiên cứu và đưa ra các khái niệm, lập luận khác
nhau về phép kính ngữ tiếng Hàn đồng thời các tác giả cũng đã chia hệ thống kính
ngữ tiếng Hàn thành ba dạng gồm phép kính ngữ đối với chủ thể, phép kính ngữ đối
với khách thể và phép kính ngữ đối với vai tiếp nhận; Nam Mi Jeong [129, 130],
Choi Hyo Yeon [182], Kim Myong Un [115], Jeong Mi Jin [178] đã nghiên cứu về
đặc trưng cơ bản của phép kính ngữ tiếng Hàn, tính cung kính và khiêm tốn cũng
như phương thức biểu hiện, vai trò của vai giao tiếp trong phép kính ngữ tiếng Hàn.
Lê Thị Thu Giang [22] với công trình nghiên cứu trong nước về kính ngữ và các
phương thức biểu hiện của nó trong tiếng Hàn hiện đại. Tuy nhiên, kết quả nghiên
cứu liên quan này mới chỉ gợi mở về phương thức biểu hiện kính ngữ trong tiếng
Hàn hiện đại mà chưa tiến hành cụ thể các nghiên cứu, so sánh đối chiếu với những
tương quan của tiếng Việt để áp dụng trong dạy và học tiếng Hàn cho người Việt.
Các công trình nghiên cứu trên đã tập trung xem xét các khía cạnh khác nhau
của kính ngữ tiếng Hàn gồm đặc trưng, chức năng, ngữ dụng học và phương thức
biểu hiện qua ngữ pháp, từ vựng v.v.. Nội dung các nghiên cứu chủ yếu xem xét
kính ngữ tiếng Hàn được sử dụng trong giao tiếp dựa trên mối quan hệ liên nhân
giữa các vai giao tiếp xét theo trục dọc (quyền lực) và trục ngang (thân hữu). Kính
ngữ tiếng Hàn chủ yếu được sử dụng khi người vai dưới muốn biểu thị sự tôn trọng,
kính trọng, lịch sự đối với người vai trên hoặc với người ngang vai khi tiếp xúc lần
đầu chưa xác định được vai vế và vị thế của đối tượng tiếp nhận hoặc biểu thị tính
nghi thức, khuôn mẫu trong giao tiếp. Tuy nhiên kết quả các nghiên cứu trên vẫn
chưa đi sâu vào khảo sát cụ thể các tình huống hội thoại tiếng Hàn có sử dụng kính
13
ngữ để xem xét và phân tích xem chúng có đều thể hiện sự lễ phép, lễ độ và tôn
trọng, đề cao vai tiếp nhận hay không. Thực tế cho thấy trong một số các tình huống
hội thoại, kính ngữ tiếng Hàn được sử dụng để biểu thị sự châm biếm, thái độ chỉ
trích, trách móc, mỉa mai, thách thức v.v.. hơn là thể hiện sự đề cao, kính trọng vai
Trần Thị Huệ [35] đã nghiên cứu về “Tình thái giảm nhẹ trong diễn ngôn tiếng
Việt” và cho rằng phương tiện biểu thị tình thái giảm nhẹ trong diễn ngôn gắn liền
với lịch sự trong giao tiếp và gắn với đặc trưng riêng của từng nền văn hóa. Kết quả
nghiên cứu đã phần nào giúp người học nắm được hệ thống các phương tiện biểu thị
14
tình thái giảm nhẹ trong tiếng Việt để thể hiện được nét văn hóa và tính lịch sự
trong giao tiếp.
Phan Thị Phương Dung [13] cũng đã nghiên cứu về “Phương tiện biểu thị tính
lễ phép trong giao tiếp tiếng Việt”. Tác giả đã xem xét mối quan hệ giữa lịch sự và
lễ phép đồng thời đã nêu ra các phương tiện ngôn ngữ biểu thị các đặc điểm của nó
trong tiếng Việt. Theo tác giả các phương tiện từ vựng gồm các động từ tình thái,
trợ từ và các phương tiện cú pháp như cấu trúc chủ-vị có khả năng biểu thị tính lễ
phép trong giao tiếp tiếng Việt.
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu về phép lịch sự trong tiếng Việt
liên quan khác như Nguyễn Văn Khang”Nghi thức lời nói trong giao tiếp gia đình
người Việt” [45], “Ngôn ngữ học xã hội” [43]; Hữu Đạt “Văn hóa và ngôn ngữ giao
tiếp của người Việt” [15]; Đào Nguyên Phúc” Lịch sự trong đoạn thoại xin phép
của tiếng Việt” [54]; Hồ Thị Kiều Oanh “So sánh các chỉ số lịch sự trong hành
động ngở lời bằng tiếng Anh và tiếng Việt” [52]; Trịnh Đức Thái “Lý thuyết lịch sự
trong ngôn ngữ học” [63]; Tạ Thị Thanh Tâm [58] “Lịch sự trong một số nghi thức
tiếng Việt (có so sánh với tiếng Anh, tiếng Nga)” v.v..
Các công trình trên đã tập trung xem xét và nghiên cứu về phép lịch sự và các
phương tiện biểu hiện của nó ở các góc độ khác nhau trong giao tiếp tiếng Việt. Tuy
nhiên các công trình này vẫn còn một số hạn chế như mới chỉ nghiên cứu một số
khía cạnh của phép lịch sự trong tiếng Việt và chưa phân tích một cách hệ thống các
phương tiện biểu thị tính lịch sự trong giao tiếp tiếng Việt xét trong mối tương quan
với kính ngữ tiếng Hàn. Do đó, luận án của chúng tôi sẽ tập trung giải quyết những
vấn đề vẫn liên quan vẫn đang bị bỏ ngỏ này khi xem xét “Hệ thống kính ngữ tiếng
Tuy nhiên, công trình này mới chỉ dừng lại ở việc tập trung chính vào các phân tích
liên quan của tiếng Việt mà chưa đi sâu vào xem xét một cách đầy đủ và chi tiết các
đặc trưng và phương thức biểu hiện của kính ngữ tiếng Hàn.
Ngoài ra còn một số các công trình nghiên cứu khác như: Đào Thị Mỹ Khanh
[133]; Cho Myong Sook [179]; Đinh Lan Hương [132]; Lưu Thanh Thủy [134]; Lã
Thị Thanh Mai [48,49]; Trần Thị Hải Hà [180] v.v.. ít nhiều cũng đã đề cập tới
những so sánh, đối chiếu về kính ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt. Tuy nhiên cho đến
tận thời điểm hiện tại, chúng tôi chưa khảo sát thấy công trình nào nghiên cứu
chuyên sâu và toàn diện nào về kính ngữ tiếng Hàn đặt trong mối tương quan với
các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.
Các công trình nghiên cứu trên đã nêu ra các đặc trưng, quy tắc, nguyên tắc cơ
bản, các phương thức, phương tiện biểu thị tính lịch sự nói chung và kính ngữ tiếng
Hàn nói riêng trong giao tiếp ngôn ngữ. Kết quả các nghiên cứu này cho thấy sự hạn
chế và khoảng trống nhất định trong nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống
về các yếu tố biểu thị tính lịch sự, tính đề cao xét ở phương diện ngữ dụng học và
phương thức biểu thị qua hình thái học và từ vựng của kính ngữ tiếng Hàn đặt trong
mối tương quan với tiếng Việt. Mặt khác, các công trình nghiên cứu trên cũng chưa
tập trung khảo sát, xem xét liệu có phải tất cả các câu thoại có sử dụng kính ngữ
tiếng Hàn hoặc các phương tiện ngôn ngữ tương đương biểu thị sự đề cao, lễ phép
trong tiếng Việt đều biểu thị tính lịch sự, kính trọng và tôn trọng vai tiếp thoại hay
không. Do đó, việc triển khai nghiên cứu đề tài “Kính ngữ tiếng Hàn và các phương
tiện biểu hiện tương đương trong tiếng Việt” sẽ góp phần bổ sung và khắc phục
những hạn chế chưa được giải quyết trong các nghiên cứu trên để hướng tới việc
nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Hàn hiện nay ở Việt Nam.
16