Hoàn thiện kế toán hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá tại công ty TNHH thương mại & DL Trung Dũng. - Pdf 52

Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, trước xu hướng hoà nhập và phát triển của
kinh tế thế giới, Việt Nam đã mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế với
nhiều nước trong khu vực và thế giới. Việc này tạo ra cơ hội phát trịển cho các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nhưng cũng đặt ra những thách thức
đối với doanh nghiệp. Để tồn tại và ổn định được trên thị trường đòi hỏi các
doanh nghiệp phải nâng cao tính tự chủ, năng động để tìm ra phương thức kinh
doanh có hiệu quả tiết kiệm chi phí để đem lại lợi nhuận cao để từ đó mới có đủ
sức cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và du lịch Trung Dũng cũng
như các doanh nghiệp thương mại khác xác định rõ được nhiệm vụ chính của
mình là thực hiện tổ chức “Lưu chuyển hàng hoá”, đáp ứng tốt nhu cầu ngày
càng cao trong tiêu dùng xã hội. Lưu chuyển hàng hoá giữ vai trò to lớn và
chiếm toàn bộ họat động của một doanh nghiệp thương mại.Chính vì vậy để
thực hiện tốt việc lưu chuyển hàng hoá thì các doanh nghiệp phải sử dụng tốt
các công cụ quản lý kinh tế cuả mình. Một trong những công cụ quan trọng và
hữu hiệu nhất đó chính là hạch toán kế toán. Hạch toán kế toán là công cụ điều
hành quản lý các hoạt động kinh doanh diễn ra trong doanh nghiệp, thực hiện
việc bảo vệ vật tư tiền vốn của doanh nghiệp nhằm đảm bảo quyền chủ động sản
xuất, kinh doanh, tự chủ về tài chính.
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của “kế toán hàng hoá
và tiêu thụ hàng hoá”, qua thực tế thực tập tại công ty trách nhiệm hữu hạn
thương mại và du lịch Trung Dũng, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn
Ngọc Quang và các anh chị trong phòng kế toán công ty em đã chọn đề tài
“Hoàn thiện kế toán hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá” làm khoá luận tốt nghiệp.
Khoá luận tốt nghiệp ngoài phần mở đầu và phần kết luận được chia làm
3 chương:
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
1
Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội

- Hàng hoá rất đa dạng và phong phú : Sản xuất không ngừng phát triển,
nhu cầu tiêu dùng luôn biến đổi và có xu hướng ngày càng tăng dẫn đến hàng
hoá ngày càng đa dạng, phong phú và nhiều chủng loại.
- Hàng hoá có đặc tính lý, hoá, sinh học: Mỗi loại hàng có đặc tính lý,
hoá, sinh học riêng. Những đặc tính này có ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng
hàng hoá trong quá trình thu mua, vận chuyển, dự trữ, bảo quản và bán ra.
- Hàng hoá luôn thay đổi về chất lượng, mẫu mã, thông số kỹ thuật…Sự
thay đổi này phụ thuộc vào trình độ phát triển của sản xuất, vào nhu cầu thị hiếu
của người tiêu dùng. Nếu hàng hoá thay đổi phù hợp với nhu cầu tiêu dùng thì
hàng hoá được tiêu thụ và ngược lại.
- Trong lưu thông, hàng hoá thay đổi quyền sở hữu nhưng chưa đưa vào
sử dụng. Khi kết thúc quá trình lưu thông, hàng hoá mới được đưa vào sử dụng
để đáp ứng nhu cầu cho tiêu dùng hay sản xuất.
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
3
Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội
- Hàng hoá có vị trí rất quan trọng trong các DNTM, nghiệp vụ lưu
chuyển hàng hoá với quá trình: mua hàng, dự trữ bảo quản hàng hoá. Bán hàng
là nghiệp vụ kinh doanh cơ bản trong DNTM. Vốn dự trữ hàng hoá chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng vốn lưu động trong doanh nghiệp (80%-90%) >vốn lưu
động của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ: dự
trữ sản xuất và lưu thông. Quá trình này diễn ra lặp đi lặp lại không ngừng gọi là
sự tuần hoàn và chu chuyển của vốn lưu động.
- Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh thì vốn lưu động lại thay đổi hình
thái biểu hiện từ hình thái vốn tiền tệ sang hình thái vốn ban đầu là hình thái tiền
tệ. Như vậy quá trình vận động của hàng hoá cũng là quá trình vận động của vốn
kinh doanh không thể tách rời việc dự trữ và tiêu thụ hàng hoá một cách hiệu
quả.
- Mua hàng: là giai đoạn đầu tiên trong quá trình lưu chuyển hàng hoá tại
các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, là quá trình vận động của vốn kinh

vụ bán hàng, doanh nghiệp sẽ thực hiện xuất kho số hàng hoá đó và bên mua
hàng cử đại diện bên mua. Sau khi kiểm nghiệm đủ số hàng cần mua, đại diện
bên mua thanh toán tiền hàng cho doanh nghiệp.
Phương thức bán lẻ hàng hoá: là phương thức bán hàng trực tiếp cho
người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp kinh doanh mua về
với mục đích tiêu dùng nội bộ. Trái với hàng hoá bán buôn, hàng hoá bán lẻ đã
ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Bán lẻ hàng hoá thường
đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ, giá bán thường ổn định. Khi khách hàng đã kiểm
nghiệm đủ số hàng sẽ tiến hành thanh toán tiền hàng.
1.2.2. Phương thức gửi hàng đại lý hoặc ký gửi hàng hoá
Theo phương thức này, định kỳ doanh nghiệp sẽ gửi hàng cho khách hàng
theo những thoả thuận trong hợp đồng. Khách hàng có thể là đơn vị nhận bán
hàng đại lý hoặc là những khách hàng mua thường xuyên theo hợp đồng kinh tế.
Khi xuất kho hàng hoá, thành phẩm giao cho khách hàng thì số hàng hoá, thành
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
5
Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội
phẩm đó vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, bởi vì chưa thoả mãn 5 điều
kiện ghi nhận doanh thu. Đến khi khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh
toán kế toán ghi nhận doanh thu do doanh nghiệp đã chuyển các lợi ích gắn với
quyền sở hữu hàng hoá, thành phẩm cho khách hàng. Bên đại lý sẽ được hưởng
thù lao đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá.
1.2.3. Phương thức bán hàng trả góp
Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì số hàng đó được
coi là tiêu thụ và doanh nghiệp không còn quyền sở hữu số hàng đó. Người mua
sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua. Số tiền người mua chấp nhận trả
dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi nhất định. Thông thường thì số
tiền trả ở các kỳ sau phải bằng nhau bao gồm một phần tiền gốc và một phần lãi
trả chậm.
1.2.4. Các trường hợp được coi là tiêu thụ khác

6
Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội
mua vào theo hoá
đơn
không
hoàn lại
được
hoàn lại
được
hưởng
khâu
mua
Trong đó:
- Giá thanh toán của hàng hoá theo hoá đơn: là số tiền mà doanh nghiệp
dùng để mua hàng ở nhà cung cấp theo hợp đồng hay theo hoá đơn tuỳ tính thuế
giá trị gia tăng của doanh nghiệp áp dụng mà chỉ tiêu này có thể là một trong hai
chỉ tiêu sau:
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ: Giá
thanh toán của hàng hoá theo hoá đơn là giá mua chưa có thuế GTGT đầu vào.
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì giá
thanh toán của hàng hoá theo hoá đơn là giá bao gồm cả thuế GTGT.
- Giảm giá hàng mua: là số tiền giảm trừ người bán dành cho người mua
vì lý do hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách phẩm chất trong hợp đồng
hoặc bị lạc hậu thị hiếu.
- Hàng mua trả lại: là giá trị hàng hoá doanh nghiệp đã mua nhưng trả lại
cho người bán vì lý do hàng kém phẩm chất, không đúng chủng loại quy cách
trong hợp đồng.
- Chiết khấu thương mại được hưởng: là số tiền người bán giảm trừ cho
người mua đã mua hàng với khối lượng lớn đạt tới mức được hưởng chiết khấu
như đã thoả thuận trong hợp đồng hoặc giao kèo mua bán.

=
Trị giá hàng hoá cuối kỳ trước (đầu kỳ này)
Số lượng hàng hoá tồn kho cuối kỳ trước (đầu kỳ này)
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ tính toán, có thể thực hiện
nhanh chóng. Tuy nhiên cách tính này có độ chính xác không cao nên ít được sử
dụng.
- Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập
Theo phương pháp này, cứ sau mỗi lần nhập kho, giá trị hàng hoá lại được
tính toán lại theo giá bình quân và giá này được sử dụng để làm đơn giá cho số
hàng xuất kho ngay sau lần nhập kho đó.
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
8
Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội
Phương pháp này cho ta giá thực tế hàng hoá xuất kho chính xác nhất.
Nhưng do cách tính toán khá phức tạp nên phương pháp này chỉ thích hợp với
các đơn vị mà số lần nhập - xuất kho hàng hoá không quá lớn.
 Phương pháp nhập trước - xuất trước (Phương pháp FIFO)
Phương pháp này được thực hiện với giả định hàng hoá nào vào nhập kho
trước tiên thì sẽ được xuất kho sớm nhất. Phương pháp này có ưu điểm là cho
phép kế toán có thể xác định giá vốn hàng hoá xuất kho một cách kịp thời.
Nhược điểm của phương pháp này là phải tính giá cho từng mặt hàng,
phải hạch toán chi tiết tồn kho hàng hoá theo từng loại giá nên tốn rất nhiều
công sức. Ngoài ra phương pháp này sẽ khiến doanh nghiệp không phản ứng kịp
thời với sự thay đổi giá cả trên thị trường.
Với đặc điểm như vậy, phương pháp này chỉ thích hợp với những đơn vị
kinh doanh hàng hoá ít chủng loại, số lần nhập kho hàng hoá theo từng mặt hàng
không nhiều.
 Phương pháp nhập sau - xuất trước (Phương pháp LIFO)
Theo phương pháp này, hàng hoá được tính giá thực tế xuất kho trên cơ
sở giả định lô hàng nào nhập sau sẽ được xúât bán trước. Như vậy, cách tính giá

Giá thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Giá hạch toán hàng hoá tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
1.4. Kế toán hàng hoá trong các doanh nghiệp TM
1.4.1. Chứng từ sử dụng
- Hoá đơn thuế GTGT
- Phiếu nhập kho
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hoá
- Bảng kê hoạt động chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào
- Bảng kê mua hàng…..
1.4.2. Tài khoản sử dụng
* Tài khoản 156 “Hàng hoá”: dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình
hình biến động (tăng, giảm) theo giá thực tế của các loại hàng hoá của doanh
nghiệp, bao gồm hàng hoá tại các kho hàng, quầy hàng.
Kết cấu và nội dung phản ánh:
Bên Nợ:
- Giá mua vào của hàng hoá nhập kho, nhập quâỳ
- Chi phí thu mua
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
10
Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội
- Trị giá hàng hoá bị người mua trả lại nhập kho, nhập quầy
- Trị giá hàng hoá phát hiện thừa qua kiểm kê tại kho, tại quầy
Bên Có:
- Trị giá mua thực tế của hàng hoá xuất kho, xúât quầy
- Chi phí thu mua phân bổ cho hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
- Các khoản bớt giá, giảm giá, hồi khấu hàng mua
- Trị giá hàng hoá phát hiện thiếu tại kho, tại quầy
Số dư bên Nợ:
- Trị giá mua vào của hàng hoá tồn kho, tồn quầy
- Chi phí thu mua của hàng hoá tồn kho, của hàng gửi bán

người bán thì vẫn tiến hành nhập kho và lưu phiếu nhập kho vào tập hồ sơ hàng
chưa có hoá đơn. Nếu trong tháng hoặc trong kỳ nhận được hoá đơn của người
bán thì tiến hành ghi sổ bình thường nhưng nếu đến cuối tháng hoặc cuối kỳ vẫn
chưa nhận được hoá đơn của người bán, kế toán sẽ tạm ghi sổ theo giá tạm tính
(giá hạch toán hoặc giá ổn định nào đó của kỳ trước) sau đó sang đến tháng sau
khi hàng hoá về nhập kho sẽ điều chỉnh giá tạm tính theo giá thực tế và phản ánh
thuế gtgt được khấu trừ. Ngoài ra các nội dung khác có liên quan đến việc mua
vật tư, hàng hoá thì phản ánh giống TH1.
- Khi chưa nhận được hoá đơn kế toán ghi sổ theo giá tạm tính
Nợ TK 156: theo giá tạm tính
Có TK 331: theo gía tạm tính
- Sang đến tháng sau khi nhận được hoá đơn của người bán, kế toán sẽ
tiến hành điều chỉnh giá thực tế
+ gía tạm tính > giá thực tế
Điều chỉnh giá ghi tăng bằng mực đỏ:
Nợ TK 156 phần chênh lệch thừa ghi bằng mực đỏ
Có TK 331
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
12
Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội
Điều chỉnh giá ghi tăng bằng bút toán đảo:
Nợ TK 331 phần chênh lệch tăng hay thừa ghi thường
Có TK 156
+ giá tạm tính < giá thực tế
Nợ TK 156 phần chênh lệch thiếu ghi thường
Có TK 331
Khi nhận được hoá đơn của người bán kế toán còn phải phản ánh thuế
GTGT được khấu trừ:
Nợ TK 133(1331): thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 331

+ TK 5113 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”
+ TK 5118 “Doanh thu khác”
 TK 512 “Doanh thu bán hàng nội bộ”: dùng để phản ánh doanh thu do
bán hàng hoá, dịch vụ trong nội bộ, giữa các đơn vị trực thuộc cùng một
công ty hoặc Tổng công ty…
 Ngoài các tài khoản phản ánh doanh thu ở trên, trong các doanh nghiệp
kinh doanh thương mại còn sử dụng tài khoản phản ánh các khoản giảm
trừ doanh thu: TK 521 “Các khoản giảm trừ doanh thu” bao gồm:
+ TK 5211 “Chiết khấu thương mại”: phản ánh số giảm giá cho người
mua hàng với khối lượng hàng lớn ghi trên hoá đơn bán hàng hoặc các chứng từ
khác liên quan đến bán hàng.
+ TK 5212 “Hàng bán bị trả lại”: phản ánh trị giá bán của số sản phẩm,
hàng hoá đã bán bị trả lại .
+ TK 5213 “Giảm giá hàng bán”: phản ánh các khoản giảm giá hàng bán
so với giá bán ghi trong hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn bán hàng thông thường
phát sinh trong kỳ.
 TK 632 “Giá vốn hàng bán”: dùng phản ánh giá vốn của hàng hoá, dịch
vụ, bất động sản đầu tư đã tiêu thụ trong kỳ. Kết cấu và nội dung phản
ánh của tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán như sau:
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
14
Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội
Bên Nợ:
- Phản ánh trị giá vốn của hàng hoá đã xuất bán trong kỳ.
- Trích lập bổ sung dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Bên Có:
- Hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho không dùng đến.
- Kết chuyển giá vốn hàng hoá đã tiêu thụ trong kỳ.
Tài khoản 632 cuối kỳ không có số dư.
 TK 157 “Hàng gửi đi bán”: phản ánh trị giá vốn của hàng hoá tiêu thụ

TK 33311

SƠ ĐỒ 02
(1) Trị giá vốn hàng xuất bán
(2a), (2b) Ghi nhận doanh thu bán hàng đối với đơn vị tính thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp và phương pháp khấu trừ
 Kế toán bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp
TK 156 TK 632
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
16
Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội
GVHB
TK 511 TK 131
Doanh thu bán hàng Tổng số tiền còn
(Ghi theo giá bán thu tiền ngay) phải thu của khách
TK 33311

Thuế GTGT đầu ra TK 111,112
TK 515 TK 3387 Số tiền đã thu

Lãi trả góp hoặc lãi của khách
Định kỳ k/c doanh
trả chậm phải thu của
thu là lãi phải thu khách
từng kỳ
SƠ ĐỒ 03
 Kế toán bán hàng theo phương thức đại lý, ký gửi
- Ở đơn vị giao đại lý:
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
17

(2) Khi xuất hàng để bán
(3) Tiền bán hàng ĐL phải trả cho chủ hàng
(4a), (4b) Hoa hồng bán hàng đại lý được hưởng đối với đơn vị tính thuế GTGT
theo phương pháp trực tiếp và phương pháp khấu trừ
(5) Khi trả tiền bán hàng ĐL cho chủ hàng
1.6. Kế toán xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá
1.6.1. Tài khoản sử dụng
Để kế toán hợp quá trình xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá đơn vị đã sử
dụng TK 642 “Chi phí quản lý kinh doanh”, TK 911 “Xác định kết quả kinh
doanh”, TK 421 “Lợi nhuận chưa phân phối”.
+ TK 642 “Chi phí quản lý kinh doanh” dùng để phản ánh các khoản chi
phí quản lý kinh doanh bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp.Tài khoản 642 có thể mở chi tiết theo doĩ từng nội dung chi phí.TK này
có nội dung phản ánh như sau:
Bên Nợ:
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
19
Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội
- Chi phí quản lý kinh doanh phát sinh trong kỳ.
Bên Có:
- Các khoản ghi giảm chi phí quản lý kinh doanh trong kỳ.
- Kết chuyển chi phí quản lý kinh doanh vào bên Nợ TK 911.
Tài khoản 642 không có số dư cuối kỳ.
TK 642 “Chi phí quản lý kinh doanh”, có 2 tài khoản cấp 2:
* TK 6421 - Chi phí bán hàng: cùng để phản ánh chi phí bán hàng thực tế
phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hoá và cung cấp dịch vụ trong kỳ
của Công ty và tình hình kết chuyển chi phí bán hàng sang TK 911 - Xác định
kết qủa kinh doanh
* TK 6422 - Chi phí quản lý doanh nghiệp: dùng để phản ánh chi phí quản
lý chung của doanh nghiệp phát sinh trong kỳ và tình hình kết chuyển chi phí

- Lợi nhuận của các hoạt động kinh doanh
- Xử lý các khoản lỗ trong kinh doanh
1.6.2. Kế toán chi phí quản lý kinh doanh
 Kế toán chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng gồm nhiều khoản như:
- Chi phí nhân công: Tiền lương của nhân viên được tính căn cứ vào bảng chấm
công và báo cáo doanh số bán hàng, các khỏan trích theo lương, tiền ăn trưa.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: khấu hao nhà cửa, kho tàng, phương tiện vận
chuyển bốc dỡ.
- Chi phí dich vụ mua ngoài: chi phí thuê sửa chữa TSCĐ, thuê vận chuyển, bốc
dỡ..
- Chi phí bằng tiền khác: Chi phí tiếp khách, giao dịch, tiền công tác phí,…
Ngoài ra chi phí thu mua còn được kế toán công ty phân bổ vào TK 6421.
 Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm các khoản sau:
- Chi phí nhân viên quản lý
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
21
Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội
- Chi phí đồ dùng văn phòng
- Chi phí khấu hao những TSCĐ dùng cho công tác quản lý
- Thuế, phí, lệ phí
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: khoản chi phí trả cho bên ngoài về tiền thuê sửa
chữa TSCĐ, thuê tiền điện báo, tiền nước… ở bộ phận quản lý
- Chi phí bằng tiền khác: chi phí hội nghị, tiếp khách, công tác phí…
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ QUẢN LÝ KINH DOANH
TK 642
TK 334,338 TK 111,112
Lương và các khoản trích theo lương Các khoản thu ghi giảm
chi phí

DT thuần về bán hàng và
cung cấp dịch vụ
-
Gía vốn
hàng bán
Trong đó:
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
23
Luận văn tốt nghiệp Viện ĐH Mở Hà Nội
DT thuần về bán hàng
và cung cấp dịch vụ
=
DT về bán hàng và cung
cấp dịch vụ
-
Các khoản giảm trừ
doanh thu
Lợi nhuận (+)
hoặc lỗ (-) từ hoạt
động tiêu thụ
hàng hoá
= LN gộp về bán
hàng và cung cấp
dịch vụ
- Chi phí bán
hàng
- Chi phí
QLDN
SƠ ĐỒ KẾ TOÁN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH
TK 911

 Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung:
Tất cả các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ
Nhật ký, mà trọng tâm là sổ Nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và
theo nội dung kinh tế (định khoản kế toán) của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu
trên các sổ Nhật ký để ghi Sổ Cái theo từng nghiệp vụ phát sinh.
 Hình thức kế toán Nhật ký chung gồm các loại sổ chủ yếu sau:
- Sổ Nhật ký chung, Sổ Nhật ký đặc biệt
- Sổ Cái
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết
 Trình tự ghi sổ
(1) Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ đã kiểm tra được dùng làm căn cứ
ghi sổ, trước hết ghi ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký chung, sau đó căn
cứ số liệu đã ghi trên sổ Nhật ký chung để ghi vào Sổ Cái theo các tài khoản kế
toán phù hợp. Nếu đơn vị có mở sổ, thẻ kế toán chi tiết thì đồng thời với việc ghi
sổ Nhật ký chung, các nghiệp vụ phát sinh được ghi vào các sổ, thẻ kế toán chi
tiết liên quan.
Trường hợp đơn vị mở các sổ Nhật ký đặc biệt thì hàng ngày, căn cứ các
chứng từ được dùng làm căn cứ ghi sổ, ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký
đặc biệt liên quan. Định kỳ (3,5,10…ngày) hoặc cuối tháng, tuỳ khối lượng
Đoàn Thị Thu Huyền Lớp K13 - KT1
25

Trích đoạn Hình thức kế toán Nhật ký Sổ Cá Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ Hình thức kế toán Nhật ký Chứng từ Quá trình hình thành và phát triển Tổ chức bộ máy kế toán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status