ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VI VĂN ĐÔNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG
VÀ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI XÃ XUÂN MÃN,
HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Khoa học môi trường
Khoa
: Môi trường
Khóa học
: 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực của bản
thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn
bè và gia đình.
Tôi xin cảm ơn xã Xuân Mãn – huyện Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn
nơi tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác quản lý nhà nước về môi
trường và hiện trạng môi trường nước tại xã Xuân Mãn, huyện Lộc
Bình, tỉnh Lạng Sơn” đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi được học tập
và thực hiện đề tài này.
Nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Môi
trường
- trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã có sự giúp đỡ tận tình cho
tôi học tập và kiến thức trong 4 năm học tại trường và cảm ơn tới
bạn bè và người thân đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi khi thực hiện đề tài. Đặc biệt tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới
thầy giáo TS. Nguyễn Đức Thạnh người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
và đóng góp những ý kiến quý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên bài đề tài của tôi còn nhiều
thiếu sót rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn
bè đồng nghiệp để bản đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Vi Văn Đông
ii
4.1. Tình hình cơ bản của Xã Xuân Mãn..………………………………..28
4.1.1. Điều kiện tự nhiên……………..…………………………………...28
4.1.1.1. Vị trí địa lý…………………...…………………………………...28
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình, địa mạo…..……………………………….....28
4.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết……...………………………………..29
4.1.1.4. Đặc điểm thuỷ
văn..........................................................................29
4.1.1.5. Các nguồn tài
nguyên.....................................................................29
3
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội...................................................................33
4.1.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế..........................................................33
4.1.2.2. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng...............................................34
4.1.3. Thực trạng môi trường……………………………………………..35
4.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan
môi trường……………………………………………………………………..36
4.1.4.1 Những thuận lợi, lợi thế………………………………………..…36
4.1.4.2 Những khó khăn, hạn chế.........…………………………………...36
4.2. Đánh giá thực trạng môi trường của Xã Xuân Mãn……..……….…..37
4.2.1. Môi trường nước…………………………………………..……....37
4.2.1.1. Thực trạng sử dụng nguồn nước và các công trình vệ sinh……...37
4.2.1.2. Nguồn gây ô nhiễm môi trường nước………..………….……….38
4.2.1.3. Ô nhiễm môi trường nước…………………...…………………...40
4.2.2. Hiện trạng nguồn rác thải……………………..…………………...43
4.2.2.1. Nguồn phát sinh rác thải……………………..…………………..43
4.2.3. Thực trạng môi trường đất……………………..…………………..43
4.2.4. Thực trạng môi trường không khí………………..………………….....44
Quản lý môi trường UBND
Ủy ban nhân dân VSMT
:
:
: Vệ
sinh môi trường
ĐBSCL
: Đồng bằng sông Cửu long
BHYT
: Bảo hiểm y tế
CTR
: Chất thải rắn
5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Thực trạng sử dụng đất trên địa bàn Xã Xuân Mãn...................30
Bảng 4.2: Cơ cấu các loại cây trồng trên địa bàn xã Xuân Mãn.................33
Bảng 4.3: Cơ cấu các loại vật nuôi trên địa bàn xã Xuân Mãn...................34
Bảng 4.4: Thực trạng sử dụng nguồn nước và công trình hợp vệ sinh trên
địa bàn Xã Xuân Mãn...........................................................37
Bảng 4.5: Các hoạt động sản xuất kinh doanh có tác động đến nguồn
đại hóa đất nước hiện nay đang được Đảng và nhà nước hết sức coi trọng.
Nhờ đó mà công tác bảo vệ môi trường trong thời gian gần qua đã có
những chuyển biến tích cực.
Những vấn đề đang tập trung sự quan tâm chú ý của nhân dân có
thể kể tới đó là sự ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt từ các hộ
dân cư, các khu nhà ở, nhà trọ sinh viên, do rác thải từ các hoạt động sinh
hoạt và thương mại dịch vụ, tếng ồn và khói bụi do các hoạt động giao
thông, các cơ sở sản xuất…..
Do đó cần phải có những biện pháp hữu hiệu, kịp thời để ngăn ngừa,
hạn chế, khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nhất là khi quá
trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh, nhằm phát triển kinh tế - xã
hội một cách bền vững.
Đây cũng là lý do để tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá công tác quản lý
nhà nước về môi trường và hiện trạng môi trường nước tại xã Xuân
Mãn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định rõ công tác quản lý nhà nước về môi trường và hiện trạng
môi trường nước trên địa bàn xã Xuân Mãn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng
Sơn
2
- Đề xuất được biện pháp bảo vệ và quản lý môi trường thích hợp
nhằm giảm thiểu và khắc phục ô nhiễm.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
+ Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế
phục vụ cho công tác sau này.
+ Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu
nước thải vào nguồn nước.
- Thông tư của Bộ Y Tế số 15/2006/TT – BYT ngày 30/11/2006 hướng
dẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống, nhà têu và hộ gia
đình.
- Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5944-1995) Chất lượng nước - Tiêu
chuẩn chất lượng nước ngầm.
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5502:2003 nước cấp sinh hoạt – yêu
cầu chất lượng.
2.1.2. Cơ sở lý luận
* Các khái niệm liên quan:
4
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao
quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại,
phát triển của con người và sinh vật.[5]
- Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như
đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình
thái vật chất khác.[1]
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi
trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với
môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái,
phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm
tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học.[4]
- Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ
hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các
thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng
kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.[5]
- Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt
- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên,
văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong
từng giai đoạn.[5]
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường
có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu các trách
nhiệm khác theo quy định của pháp luật.[5]
2.1.3. Cơ sở thực tiễn
* Những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
a) Ô nhiễm không khí:
Nguồn gây ra ô nhiễm bao gồm hai loại chính là nguồn tự nhiên và
nguồn nhân tạo. Đối với nguồn nhân tạo, chúng rất đa dạng nhưng chủ
yếu do các hoạt động công nghiệp, quá trình đốt cháy các nguyên liệu
hóa thạch, hoạt động của các phương tện giao thông vận tải và nông
nghiệp….
- Do sản xuất công nghiệp
6
- Do giao thông vận tải
- Do hoạt động sản xuất nông nghiệp
- Ô nhiễm không khí trong nhà
b) Ô nhiễm đất:
Nguyên nhân chủ yếu của ô nhiễm đất là nông dược và phân hóa
học chúng tích lũy dần trong đất qua các mùa vụ.
Việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp đang gây ô
nhiễm đất nghiêm trọng, làm vỡ kết cấu đất, xói mòn đất…
Ô nhiễm đất do nông dược và phân hóa học. Ô nhiễm đất xẩy ra chủ
yếu ở nông thôn. Trước hết là do sự bành trướng của kĩ thuật canh tác hiện
đại. Nông nghiệp hiện nay phải sản xuất một lượng lớn thức ăn trong khi
từ chất thải công nghiệp, nông nghiệp. Uống nước đã bị ô nhiễm hoặc ăn
thức ăn chế biến bằng nước nhiễm độc là hình thức phơi nhiễm phổ biến
nhất. Ăn cá bắt từ nguồn nước bị ô nhiễm cũng có thể nguy hiểm vì chúng
có thể mang mầm bệnh và tích luỹ các chất độc hại như kim loại nặng và
các chất hữu cơ bền thông qua quá trình tích luỹ sinh học. Ngoài ra, con
người cũng có thể bị ảnh hưởng bởi cây trồng được tưới bằng nước ô
nhiễm hoặc do đất bị nhiễm bẩn bởi các dòng sông ô nhiễm dâng lên.
* Nước ngầm:
Nước ngầm là nguồn nước nằm ở dưới bề mặt lớp đất sỏi và trong
những tầng địa chất thấm qua được. Nước ngầm là một nguồn rất
quan trọng của nước sạch, chiếm 97% lượng nước ngọt trên Trái đất.
Khoảng 2 tỉ người, cả ở thành phố và nông thôn đang phụ thuộc vào
lượng nước này cho những nhu cầu sống hằng ngày. Nhưng nguồn nước
này giờ đây cũng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do nhiều lý do khác nhau.
Ở đô thị, các nguồn gây ô nhiễm nước ngầm chính là các bãi chôn
lấp rác thải không hợp vệ sinh. Ngoài ra nước thải từ hoạt động sản xuất
công nghiệp, khai thác khoáng sản đều có khả năng bị rò rỉ và ngấm vào
tầng chứa nước nước ngầm. Hoạt động sản xuất nông nghiệp với việc sử
dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và phân bón cũng là nguồn đe doạ lớn đối
với nguồn nước ngầm.
8
Nước ngầm rất khó xử lý, do đó viêc bao vê nguôn nươc đo la cưc ky
quan trong. Môt sô biên phap ngăn chăn cơ ban la tăng cường kiểm soát
đối với việc xả thải, xây dựng hệ thống thoát nước hợp vệ sinh. Tuy nhiên,
cho đến nay ở các nước đang phát triển các biện pháp này được tến hành
rất chậm chạp, trong khi hệ thống nước ngầm đang ngày càng bị nhiễm
bẩn nghiêm trọng.
những khu vực hẻo lánh cách xa thủ đô và các khu du lịch của các nước.
Những nước có các thành phố bị ô nhiễm môi trường, phần lớn là các nước
đang phát triển, thiếu các biện pháp kiểm soát ô nhiễm, cộng thêm sự
thiếu hiểu biết của chính quyền địa phương và sự bất lực của người dân
trong việc giải quyết các tình trạng ô nhiễm.
Cũng theo báo cáo, đa số ô nhiễm của các khu vực này xuất phát từ
chì không được kiểm soát, mỏ than hoặc các nhà máy sản xuất vũ khí hạt
nhân chưa được lọc sạch. Ô nhiễm môi trường ở những thành phố này gây
ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ người dân và gia tăng nạn nghèo
đói. Những nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất của ô nhiễm môi trường là
nơi con người sinh sống có tuổi thọ thấp nhất, trẻ sơ sinh bị khuyết tật, tỉ
lệ hen trẻ em trên 90% và chậm phát triển trí tuệ.
* Ô nhiễm nước:
Các mầm bệnh trong nước ô nhiễm có thể gây ra hàng loạt các bệnh
liên quan đến đường ruột, đặc biệt nguy hiểm và có thể gây tử vong đối
với trẻ em và những người co thê trang nhạy cảm
. Tổ chức Y tế Thế
giới (WHO) cho biết ô nhiễm nguồn nước là một trong những nguyên nhân
gây tử vong lớn nhất trong số các vấn đề về môi trường. Những chất độc
tích luỹ trong cá và các loại thức phẩm khác ít có nguy cơ gây độc cấp tính
nhưng lại có thể để lại hậu quả lâu dài.
Vấn đề ô nhiễm nguồn nước mặt hiện đang diễn ra với hầu hết các
con sông lớn ở các nước đang phát triển, điển hình như Trung Quốc và Ấn
Độ. Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá một cách ồ ạt đã khiến
cho nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt hằng ngày của người dân trở nên
tồi tệ.
11
Nhiên liệu sinh học được đốt chủ yếu bằng các bếp thô sơ, do
đó chúng thường không được đốt cháy hoàn toàn. Điều này vừa gây ra sự
lãng phí nguyên liệu vừa gây ô nhiễm không khí. Cùng với hệ thống thông
gió không đảm bảo đã làm cho hàm lượng bụi và khói độc trong nhà cao,
rất có hại cho sức khoẻ con người . Trong đó những người bị ảnh hưởng
nhiều nhất là phụ nữ - những người thường xuyên nấu ăn và trẻ nho
thường xuyên đươc điu trên lưng mẹ.
Sự đốt cháy nguyên liệu sinh học tạo thành các hạt. Các hạt với
đương kính nhỏ hơn 10 micro (PM10) và đặc biệt nhỏ hơn 2.5 micro
(PM2.5) có thể xuyên sâu vào phổi. Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) đã
khuyến cáo rằng hàm lượng trung bình 24giờ của PM10 không nên vượt
quá 150 µg/m3. Trong khi đó, nếu đun nấu với nguyên liêu sinh học truyền
thống hàm lượng PM10 trong không khí trong nhà có thể đạt từ 300
đến
3000 µg/m3, cao gấp hơn 20 lần lượng cho phép. Thậm chí vào thời điểm
đun nấu con số này có thể lên tới 30.000 µg/m3, gấp 200 lần hàm
lượng cho phép.
IAP gây ra 3 triệu ca tử vong mỗi năm và là nguyên nhân cho 4%
căn bệnh trên toàn thế giới, tập trung chủ yếu ở các nước có thu nhập
thấp.
Hàng trăm, nhiêu chương trình đã được thực hiện trên toàn thế giới
để giam thiêu mối đe doạ bởi IAP . Phần lớn chúng đều tập trung vào viêc
giới thiệu những loại bếp sử dụng nhiên liệu hiệu quả hơn. Tuy nhiên,
trong những năm tới những nỗ lực này cần được bổ sung bằng những
cách tiếp cận toàn diện hơn bao gồm cải thiện hệ thống lưu thông gió,
thay đổi cách sống và một loạt các giải pháp truyền thông khác.
nặng. Lượng chất thải này gây ô nhiễm cho môi trường nước của các con
sông vốn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho một nội địa bàn dân
cư rộng lớn, làm ảnh hưởng đến các vi sinh vật và hệ sinh thái vốn là tác
nhân thực hiện quá trình phân huỷ và làm sạch các dòng sông...
Các loại ô nhiễm thường thấy tại các đô thị Việt Nam là ô nhiễm
nguồn nước mặt, ô nhiễm bụi, ô nhiễm các khí sulfure, cacbonic, nitrit, ô
nhiễm chì (Pb), chất thải rắn (trong sinh hoạt, bệnh viện). Giáo sư Lâm
Minh Triết (Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) trong buổi hội thảo
“Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam” đã nhấn mạnh:
nồng độ các chất ô nhiễm trong nước mặt thường rất cao như là chất rắn
lờ lững, nhu cầu ôxy sinh hoá, nhu cầu ôxy hoá học, nitơrit, nitơrat... gấp
từ 2-
13
5 lần, thậm chí tới 10-20 lần trị số tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn
nước
13
mặt loại B, chỉ số E Côli vượt tiêu chuẩn cho phép hàng trăm lần. Ngoài
các chất ô nhiễm hữu cơ trên, môi trường nước mặt đô thị ở một số nơi
còn bị ô nhiễm kim loại nặng và chất độ hại như là
chì, thuỷ ngân, asen, clor, phenol...
* Môi trường nước
Về ô nhiễm không khí, ngoài tác động của sản xuất công nghiệp,
hoạt động giao thông vận tải cũng là nguồn thải rất quan trọng. Chỉ tính
riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm các phương tiện vận tải trên địa
Nếu như chúng ta quan niện nước sạch chỉ đơn giản la nước mưa,
nước giếng khoan qua sư lý bằng bể lọc đơn giản chứ không phải nước
sạch như đã được xử lý ở các thành phố lớn thì tỉ lệ ngươi dân nông thôn,
nhất là khu vực miền núi còn rất thấp.
Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức
khỏe, là nguyên nhân gây các bệnh như têu chảy, tả, thương hàn, giun
sán… các bệnh này gây suy dinh dưỡng, thiếu máu, kém phát triển gây tử
vong nhất ở trẻ em. Có đến 80% trường hơp bị tiêu chảy la do thiếu nước
sạch, VSMT kém. Có thể thấy, nguyên nhân gây ra tnh trạng ô nhiễm
môi trường và nguồn nước ở nông thôn do các nguyên nhân cơ bản sau :
Đầu tiên phải kể đến tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp
nhu phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn nan mà không có
kiêm soát.
Nhìn chung lượng phân bón hóa học ở nước ta sử dụng còn ở mức
trung bình cho 1(ha) gieo trồng, bình quan 80-90 kg/ha (cho lúa la 150-180
kg/ha), so với Hà Lan 758 kg/ha, Nhật 430 kg/ha, Hàn Quốc 467 kg/ha,
Trung Quốc 390 kg/ha.tuy nhiên việc sử dụng này lại gây sức ép đến môi
trường nông nghiệp và nông thôn với 3 lý do: sử dụng không đúng kỹ thuật
nên hiệu lực phân bón thấp; bón phân không cân đối; nặng về sử dụng
phân đạm; chất lượng phân không đảm bảo, các loại phân bón N-P-K,
hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nổi
trên thị trường không đảm bảo chất lượng đăng ký, nhãn mác bao bì
nhái, đóng
15
gói không đúng khối lượng đang là áp lực chính cho ngươi nông dân và
môi trường đất.
Ngoài ra, ở miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tâp quán sử dụng phân