BÀI THU HOẠCH MODUL 18:
KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
1. Kỹ thuật dạy học là gì?
Để hiểu rõ thế nào là kỹ thuật dạy học chúng ta cần làm rõ các khái
niệm quan điểm dạy học, phương pháp dạy học (PPDH) và kỹ thuật dạy học
(KTDH). Quan điểm dạy học (QĐDH) là những định hướng tổng thể cho các
hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học,
những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức
cũng như những định hướng về vai trò của GV và HV trong quá trình dạy
1
học. QĐDH là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô
hình lí thuyết của PPDH.
Các khái niệm:
PPDH: là những hình thức, cách thức hành động của GV (GV) và HV
(HV) nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những
nội dung và điều kiện dạy học cụ thể. PPDH cụ thể quy định những mô hình
hành động của GV và HV.
KTDH: là những biện pháp, cách thức hành động của GV và HV trong
các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy
học. Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy
học. Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng
phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Các KTDH
chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH. Ví dụ,
trong phương pháp thảo luận nhóm có các kỹ thuật dạy học như: kỹ thuật chia
nhóm, kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật phòng tranh, kỹ thuật các mảnh
17. Kỹ thuật đặt câu hỏi
18. Kỹ thuật phòng tranh
19. Kỹ thuật công đoạn
20. Kỹ thuật “Trình bày một phút”
21. Kỹ thuật “Chúng em biết 3”
22. Kỹ thuật “Hỏi và trả lời”
23. Kỹ thuật “Hỏi Chuyên gia”
24. Kỹ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”
25. Kỹ thuật “Viết tích cực”
26. Kỹ thuật “Đọc tích cực” (Đọc hợp tác)
3
27. Kỹ thuật “Nói cách khác”
28. Kỹ thuật phân tích phim Video
29. Kỹ thuật tóm tắt nội dung tài liệu theo nhóm
II. MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC VẬN DỤNG TRONG
DẠY HỌC GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
1. Kỹ thuật động não (Brainstorming)
Đây là kỹ thuật kích thích người học suy nghĩ bằng cách thu thập ý kiến
khác nhau về một vấn đề nào đó mà không tiến hành đánh giá, trao đổi hay
bình luận ý kiến đó. Kỹ thuật này cho phép làm xuất hiện một cách nhanh
chóng một số ý kiến về một đề tài chung, là một phương pháp đặc sắc dùng
để phát triển nhiều giải pháp sáng tạo cho một vấn đề. Phương pháp này hoạt
động bằng cách nêu các ý tưởng tập trung trên vấn đề, từ đó rút ra rất nhiều
giải pháp căn bản cho nó.
Các ý niệm/hình ảnh về vấn đề trước hết được nêu ra một cách rất
phóng khoáng và ngẫu nhiên theo dòng suy nghĩ càng nhiều, càng đủ càng tốt.
Các ý kiến có thể rất rộng và sâu cũng như không giới hạn bởi các khía cạnh
nhỏ nhặt nhất của vấn đề mà những người tham gia nghĩ tới.
số tướng được cử lên biên ải phía Bắc để trấn giữ đất nước. Phạm Ngũ Lão đã
sáng tác bài thơ trong hoàn cảnh đó. Hoàn cảnh đó đã để lại dấu ấn trong
giọng điệu hào hùng, cảm hứng yêu nước và hào khí đời Trần qua bài thơ "Tỏ
lòng".
Ví dụ 2: Hướng dẫn HV đọc hiểu văn bản Mùa thu câu cá (Thu điếu)
của Nguyễn Khuyến (Ngữ văn lớp 11, tập 1) GV có thể đặt câu hỏi để kích
thích khởi động HV học bài mới như sau:
- Kể tên các bài thơ hoặc đọc vài câu thơ viết về mùa thu mà các em
biết?
5
HV có thể kể tên các bài thơ về mùa thu như: Sang thu của Hữu Thỉnh,
Tiếng thu của Lưu Trọng Lư hoặc đọc một vài câu thơ trong truyện Kiều có
hình ảnh mùa thu...
- GV hỏi tiếp: Các em có nhận xét gì về hình ảnh mùa thu trong các bài
thơ trên?
GV gọi một số HV trả lời, GV tập hợp các ý kiến, đưa ra lời nhận xét
chung và giới thiệu cho HV học bài mới về chủ đề mùa thu mà hình ảnh mùa
thu được tác giả sáng tạo với vẻ đẹp riêng của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ.
- Khi dạy xong bài thơ GV đặt câu hỏi cho cả lớp, HV ghi câu trả lời
vào giấy (câu hỏi này kích thích sự sáng tạo, suy nghĩ của HV)
Em hãy cho biết cách gieo vần trong bài thơ có gì đặc biệt? cách gieo
vần ấy cho ta cảm nhận về cảnh thu, tình thu như thế nào?
GV cho HV nộp câu trả lời và khuyến khích HV trình bày suy nghĩ của
mình tại lớp, cả lớp có thể thảo luận và GV chốt lại vấn đề: Cách sử dụng vần
“eo” rất khéo léo, tài tình tạo được nhưng hình ảnh đẹp và đặc trưng của mùa
thu vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời diễn tả được những nét u uẩn, khó giãi
bày trong tâm trạng nhà thơ.
1. Các nhóm
Đối với HV thì đây là cách dễ chịu nhất để thành lập
gồm
nhóm, đảm bảo công việc thành công nhanh nhất.
những
người
tự
nguyện,
chung
Dễ tạo ra sự tách biệt giữa các nhóm trong lớp, vì vậy
cách tạo lập nhóm như thế này không nên là khả năng duy
mối
nhất.
quan tâm
2. Các nhóm
Bằng cách đếm số, phát thẻ, gắp thăm, sắp xếp theo màu
Cần một ít chi phí để chuẩn bị và cần nhiều thời gian hơn
để tạo lập nhóm.
4. Các nhóm
Ví dụ tất cả những HV cùng sinh ra trong mùa đông, mùa
với những đặc
xuân, mùa hè hoặc mùa thu sẽ tạo thành nhóm
điểm chung
Tạo lập nhóm một cách độc đáo, tạo ra niềm vui và HV có
thể biết nhau rõ hơn.
Cách làm này mất đi tính độc đáo nếu được sử dụng
thường xuyên.
5. Các nhóm
Các nhóm được duy trì trong một số tuần hoặc một số
cố định trong
Ngoài việc mất nhiều thời gian thì chỉ có ít nhược điểm,
trừ phi những HV giỏi hướng dẫn sai.
7. Phân chia
theo năng lực
học tập khác
nhau
Những HV yếu hơn sẽ xử lý các bài tập cơ bản, những HV
đặc biệt giỏi sẽ nhận được thêm những bài tập bổ sung.
Cách làm này dẫn đến kết quả là nhóm học tập cảm thấy
bị chia thành những HV thông minh và những HV kém.
8. Phân chia
theo các dạng
học tập
HV có thể tự xác định mục đích của mình. Ví dụ ai bị
điểm kém trong môn toán thì có thể tập trung vào một số ít
bài tập.
Được áp dụng thường xuyên khi học tập theo tình huống.
Những HV thích học tập với hình ảnh, âm thanh hoặc biểu
tượng sẽ nhận được những bài tập tương ứng.
Có thể thích hợp nếu học về những chủ đề đặc trưng cho
con trai và con gái, ví dụ trong giảng dạy về tình dục, chủ
đề lựa chọn nghề nghiệp,...
Nếu bị lạm dụng sẽ dẫn đến mất bình đẳng nam nữ.
9
Việc chia nhóm nên tiến hành từ đầu năm học, chia lớp thành một số
nhóm (từ 4-6 thành viên), nên đặt tên ổn định cho các nhóm và thành viên
trong nhóm suốt năm, nhưng để HV có trình độ khác nhau đều có thể tham
gia học tập tích cực (đặc biệt HV có lực học yếu) các thành viên nhóm có thể
linh hoạt hình thành nhóm mới dựa trên yêu cầu của các mức độ chuẩn kiến
thức kỹ năng khác nhau.
Ví dụ cụ thể về cách lập nhóm:
Bảng 1: Chia nhóm cố định từ đầu năm
Tên nhóm
Sông
Sông
Sông
Gianh
Nhật Lệ
Hoa Đào
Hoa Đào
Hoa Đào
Yếu
Hoa Mai
Hoa Mai
Hoa Mai
Hoa Mai
Hoa Mai
Kiến
Sông Ròn
Giang
Lực học
Sông
Long Đại
nhóm)
Trung Bình
nhóm)
Yếu
các
3. Kỹ thuật giao nhiệm vụ
- Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng
- Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?
- Nội dung nhiệm vụ là gì?
- Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?
- Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?
- Nguồn tư liệu để thực hiện nhiệm vụ là gì?
- Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?
- Cách thức trình bày/đánh giá sản phẩm như thế nào?
Lưu ý: Nhiệm vụ phải phù hợp với mục tiêu hoạt động, trình độ HV, thời
gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị.
Chúng ta có thể so sánh sự khác biệt về kỹ thuật giao nhiệm vụ của các
phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học tích cực qua các
ví dụ sau:
Ví dụ 1: Dạy Lịch Sử lớp 11, chương trình cơ bản, bài: NHẬT BẢN.
Theo phương pháp dạy học truyền thống, khi dạy mục 2: Cuộc Duy
Tân Minh Trị: GV giao nhiệm vụ: Em hãy trình bày nội dung cơ bản của cuộc
Duy Tân Minh Trị?
Sau đó gọi HV trả lời.
Theo phương pháp dạy học tích cực: GV cho HV quan sát bức tranh về
nhân vật Thiên Hoàng Minh Trị (1852-1912) và hỏi: Nhân vật này có liên
- Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng (KT, KN) của HV và sự quan
tâm, hứng thú của các em đối với nội dung học tập
12
- Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức
Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học
- Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu
- Đúng lúc, đúng chỗ
- Phù hợp với trình độ HV
- Kích thích suy nghĩ của HV
- Phù hợp với thời gian thực tế
- Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc
b. Kỹ năng hình thành năng lực đặt câu hỏi nhận thức
Câu hỏi biết: Câu hỏi yêu cầu HV nhắc lại một kiến thức đã biết (tái
hiện). Ví dụ: “Nêu cấu tạo của nguyên tử về phương diện điện”, “Nêu định
nghĩa điện trường”...
Câu hỏi hiểu: Câu hỏi yêu cầu HV diễn đạt lại bằng ngôn từ của mình
những kiến thức đã học, chứng tỏ đã hiểu. Ví dụ: “Hãy trình bày thuyết
electron và giải thích sự nhiễm điện của các vật”, hay: “Giải thích sự nhiễm
điện do hưởng ứng?”…
Câu hỏi vận dụng thấp: Câu hỏi yêu cầu HV áp dụng kiến thức đã học
vào một tình huống mới, khác bài học. Ví dụ: “Áp dụng công thức của định
luật Cu Lông để tính lực tương tác giữa 2 điện tích đặt cách nhau một khoảng
r?”, “Tại sao ở cùng một vị trí các vật khác nhau về khối lượng lại chịu lực
hút của Trái đất khác nhau”...
Câu hỏi vận dụng cao: Câu hỏi yêu cầu HV phân tích nguyên nhân hay
kết quả của một hiện tượng (những điều này chưa được cung cấp cho HV
Dạy vật lí lớp 11, bài26: Khúc xạ ánh sáng.
Khi dạy mục I. Sự khúc xạ ánh sáng.
GV lần lượt đặt các câu hỏi: Dựa vào thông tin trong bài học và hiểu
biết của bản thân, em hãy cho biết:
- Hiện tượng khúc xạ ánh sáng? (Câu hỏi biết)
- Lấy các ví dụ về hiện tượng khúc xạ ánh sáng trong thực tế ? (Câu hỏi
hiểu)
- Phát biểu định luật khúc xạ ánh sáng và viết biểu thức định luật? (Câu
hỏi biết)
- Làm các thí nghiệm với các góc tới khác nhau để kiểm chứng định
luật? (Câu hỏi vận dụng thấp)
Khi dạy mục II. Chiết suất của môi trường.
1. Chiết suất tỉ đối
2. GV lần lượt đặt các câu hỏi: Dựa vào thông tin trong bài học và hiểu
biết của bản thân, em hãy:
- Nêu khái niệm và viết biểu thức chiết suất tỉ đối? (Câu hỏi biết)
- So sánh góc i và r khi n21> 1 và n21< 1? (Câu hỏi hiểu)
- Vẽ hình với 2 trường hợp trên? (Câu hỏi hiểu)
- Vận dụng giải thích các hiện tượng trong thực tế? (Câu hỏi vận dụng
cao)
- Sử dụng công thức 26.4 để làm các bài tập cơ bản ? (Câu hỏi vận
dung thấp)
- Sử dụng công thức 26.4 để làm các bài tập năng cao ? (Câu hỏi vận
dung cao)
15
đảm bảo là phim phù hợp để chiếu cho các em xem.
- Trước khi cho HV xem phim, hãy nêu một số câu hỏi thảo luận, định
hướng nội dung hoặc liệt kê các ý mà các em cần tập trung. Làm như vậy sẽ
giúp các em chú ý tốt hơn.
- HV xem phim
- Sau khi xem phim video, yêu cầu HV làm việc một mình hoặc theo
cặp và trả lời các câu hỏi hoặc viết tóm tắt những ý cơ bản về nội dung phim
đã xem.
- Tránh trường hợp cho HV xem xong đoạn phim GV mới đặt câu hỏi
sẽ làm cho HV mất phương hướng, khó phát hiện ra vấn đề mình cần tìm
hiểu.
7. Sơ đồ tư duy
a. Khái niệm
Sơ đồ tư duy là sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng
mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ
đề. Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bản trong, trên bảng hay
thực hiện trên máy tính.
b. Các bước tiến hành
Bước 1:
Vẽ chủ đề ở trung tâm
Bước đầu tiên trong việc tạo ra một sơ đồ tư duy là vẽ chủ đề ở trung
tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang).
Quy tắc vẽ chủ đề:
- HV cần phải vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác.
- HV có thể sử dụng tất cả màu sắc mà các em thích.
17
- Khi vẽ không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì
chủ đề cần được làm nổi bật dễ nhớ.
một màu.
- Thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.
Điều quan trọng cần nhớ là sơ đồ tư duy không phải dùng để tóm tắt
một chương sách. Sơ đồ tư duy không chỉ bao hàm những ý chính mà còn
chứa đựng tất cả những chi tiết hỗ trợ quan trọng khác.
Đọc sơ đồ tư duy: Sơ đồ tư duy được phát triển theo hướng đọc từ
trong ra ngoài. Nói cách khác, các ý tưởng được phân tán từ trung tâm. Theo
cách này, có ý tưởng và từ khóa nằm bên trái của sơ đồ tư duy được viết và
đọc từ phải sang trái.
Bước 4:
Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng của HV bay bổng. HV có
thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như
giúp chúng vào trí nhớ của HV tốt hơn.
c. Cấu trúc sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy có cấu trúc như sau:
19
Viết, vẽ sơ đồ tư duy không giống như cách viết thông thường. Sơ đồ tư
duy không xuất phát từ trái sang phải từ trên xuống dưới theo kiểu truyền
thống.
Thay vào đó, sơ đồ tư duy được vẽ, viết và học theo hướng bắt nguồn
từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ. Do
đó, HV sẽ thấy các từ ngữ nằm bên trái sơ đồ tư duy được đọc từ phải sang
trái (bắt đầu từ phía trong di chuyển ra ngoài). Các mũi tên xung quanh sơ đồ
tư duy bên dưới chỉ ra cách đọc thông tin trong sơ đồ, các số thứ tự cũng là
một cách hướng dẫn khác.
Bốn kết cấu chính I, II, III, IV trong sơ đồ tư duy ở hình vẽ trên được
gọi là phân nhánh chính. Sơ đồ tư duy này có 4 nhánh chính vì nó có 4 tiêu đề
Hạn chế chính
Vấn đề
chuyển dịch
cơ cấu kinh
tế theo
ngành ở
ĐBSH
21
Thực trạng
Định hướng
Cách vẽ 2: (Cách này được vẽ cụ thể hơn)
Thực
trạng
Khái quát vùng
Thế mạnh chính
Hạn chế chính
Vấn đề
chuyển dịch
cơ cấu kinh
- GV cho HV quan sát nội dung mục 1.a.SGK, cùng kiến thức đã học,
yêu cầu HV cho biết điều kiện tự nhiên và tài nguyên ảnh hưởng đến nông
nghiệp bao gồm những nhân tố nào? Các nhân tố đó ảnh hưởng như thế nào
tới nền nông nghiệp nước ta?
HV trả lời và thể hiện bằng bản đồ tư duy.
23
8. Kỹ thuật đặt vấn đề tranh luận
a. Khái niệm
- Kỹ thuật đặt vấn đề là một kỹ thuật dạy học gây hứng thú, phát huy
tính tích cực của HV trong đó các vấn đề được đặt ra thường nảy sinh từ một
đến hai chiều hướng tư duy đối lập nhau của cùng một vấn đề, một sự vật hiện
tượng đang tồn tại, đòi hỏi phải có những dẫn chứng, những kiến thức đúng
đắn nhằm lí luận và đi đến giải quyết vấn đề đó.
b. Đặc điểm
- Kỹ thuật tranh luận thường được sử dụng nhằm mục đích giải quyết
một vấn đề thông qua sự tranh luận của các nhóm, các nhóm từ đó nhằm làm
kích động mạnh đến tư duy của HV, buộc HV phải dùng tư duy và trí tuệ của
mình để tìm cơ sở bảo vệ cho quan điểm của mình.
- Kỹ thuật tranh luận thường được thiết kế theo dạng câu hỏi giả định
(có hay không) kích thích tư duy với nhiều trạng thái nhận thức khác nhau,
nhưng chủ yếu nhằm nảy sinh mâu thuẫn đối lập giữa hai trường phái “có” và
“không” từ đó đòi hỏi phải đi giải quyết mâu thuẫn đó để thoả mãn sự nhận
thức vấn đề.
24
- Kỹ thuật tranh luận cũng có thể diễn ra ở ngoài lớp học, ở những buổi